|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:325/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30-6-2025 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Hoa
Ông Trần Xuân Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 626/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 345/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 05 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1986
- Địa chỉ trước xuất cảnh: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Grzybowska 9/m920, 00-132 W, Ba Lan. Vắng mặt.
- - Bị đơn: Anh Trần Phú S, sinh năm 1992
- Địa chỉ trước xuất cảnh: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Lê Thị H (Có xác thực của Đ1 tại Ba Lan) trình bày:
Chị và anh Trần Phú S kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 18/7/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì cuối năm 2012 chị H đi xuất khẩu lao động tại Ba Lan. Từ đó do khoảng cách địa lý xa xôi nên vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau, thường xuyên cãi vã. Từ năm 2024 đến nay vợ chồng không liên lạc, không ai quan tâm ai về vật chất lẫn tinh thần. Hiện anh S đang làm việc tại CHLB Đ. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Phú S.
- - Về con chung: Chị Lê Thị H và anh Trần Phú S không có con chung.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Lê Thị H hiện đang làm việc tại Ba Lan không có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, chị ủy quyền cho cho anh Lê Văn H1; Địa chỉ: Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nộp tài liệu và nhận các văn bản của Toà án. Đồng thời, chị đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn anh Trần Phú S, do vợ chồng không liên lạc gì với nhau nên chị Lê Thị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh S ở Đức. Theo chị H trình bày anh S vẫn thường xuyên liên lạc về với bố mẹ đẻ là ông Trần Phú H2 và bà Đặng Thị H3; địa chỉ cư trú: Xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An và ông bà biết địa chỉ cụ thể của anh Sơn Đ; đề nghị Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã gửi văn bản cho ông Trần Phú H2 và bà Đặng Thị H3 (là bố mẹ đẻ của anh Trần Phú S) thông báo về việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án để ông bà thông báo cho anh S và đề nghị anh S nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị H. Tại biên bản xác minh bà H3 cho biết thường xuyên liên lạc với anh S. Bà đã thông báo cho anh S biết về việc chị H làm đơn ly hôn nhưng anh S không có ý kiến gì, còn địa chỉ của anh S ở nước ngoài thì bà không biết. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng bao gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, Quyết định hoãn phiên tòa tại nơi cư trú của anh S trước khi đi nước ngoài. Tuy nhiên, anh S không có ý kiến gì và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Lê Thị H được ly hôn với A. Về con chung: Chị Lê Thị H và anh Trần Phú S không có con chung; Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét do nguyên đơn không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình nguyên đơn hiện đang ở Ba Lan. Trước khi xuất cảnh anh Trần Phú S có địa chỉ tại tỉnh Nghệ An. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần Phú S hiện đang ở CHLB Đ, không có địa chỉ cụ thể. Bà Đặng Thị Hương M đẻ anh S đã thông báo cho con trai về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng liên quan theo quy định pháp luật đồng thời yêu cầu ông H2 và bà H3 cung cấp địa chỉ cụ thể của anh S ở CHLB Đ nhưng ông bà không cung cấp được. Tính đến ngày mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, Tòa án không nhận được bất cứ văn bản nào của anh S trình bày về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị H nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết và vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Lê Thị H vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn anh Trần Phú S vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt các đương sự.
Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:
- [3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Trần Phú S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống chung hạnh phúc một thời gian ngắn thì đã phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do tính tình không hợp, hai bên không còn liên lạc, quan tâm nhau, tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Chị H có nguyện vọng được ly hôn với anh S. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa hai bên không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Vì vậy, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị H được ly hôn với anh S là phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
- [3.2] Về con chung: Chị Lê Thị H và anh Trần Phú S không có con chung.
- [3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị H4 yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn Chị Lê Thị H phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 40, khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị H
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H được ly hôn với anh Trần Phú S.
- - Về con chung: Chị Lê Thị H và anh Trần Phú S không có con chung.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0013621 ngày 11 tháng 12 năm 2024.
Chị Lê Thị H có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án; Anh Trần Phú S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Sơn |
Bản án số 325/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 325/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị H - Trần Phú S - Ly hôn
