TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 325/2025/DS-PT
Ngày: 18 - 6 - 2025
V/v tranh chấp QSD đất,
tháo dỡ vật kiến trúc và cây trồng trên đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sỹ Danh Đạt.
- Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Tấn Tặng;
Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Trung Đến – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 02/6/2025 và 18/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 545/2024/TLPT-DS ngày 12/11/2024 về Tranh chấp quyền sử dụng đất, tháo dỡ vật kiến trúc và cây trồng trên đất;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 275/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Đinh Văn T, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Tổ A, Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của anh T là: Anh Lê Văn T1, sinh năm 1975. Địa chỉ: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Theo văn bản ủy quyền ngày 13/9/2024).
- Bị đơn:
1. Đinh Thị C, sinh năm 1964;
Người đại diện theo ủy quyền của bà C là: Anh Lê Văn D, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ 1, Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Theo văn bản ủy quyền ngày 27/02/2024).
2. Lê Văn D, sinh năm 1983 (Con bà C);
Cùng địa chỉ: Tổ 1, Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Lê Thị P, sinh năm 1985;
2. Lê Thị L, sinh năm 1987 (Vắng mặt);
3. Lê Thị T2, sinh năm 1989;
4. Lê Thị C1, sinh năm 1996;
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
5. Ủy ban nhân dân huyện T.
Người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân huyện T là: Ông Huỳnh Văn N, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T (Xin vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm C, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Anh Đinh Văn T là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn anh Đinh Văn T trình bày:
Vào năm 2003, ông Đinh Văn C2 (Cha của T) có nhận chuyển nhượng phần diện tích đất khoảng 16.000m² tại Ấp B, xã T, huyện T của ông Nguyễn Minh T3. Khi đó hiện trạng là đất ao, trong đó có thửa 3144, tờ bản đồ số 03 diện tích 1.418m² thì còn khoảng 350m² do ông Lê Văn H (Cha của Lê Văn D) sử dụng. Do gia đình anh mới về địa phương sinh sống và có nuôi cá nên nghĩ tình làng, nghĩa xóm và để thuận lợi trong việc nuôi cá nên gia đình anh không khởi kiện yêu cầu ông H trả lại đất. Đến năm 2019, ông C2 mới tặng cho phần diện tích đất nêu trên cho anh và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận QSD đất. Năm 2020, ông H chết thì gia đình ông H lập mộ tại phần đất này khi đó anh có ngăn cản thì anh D cho rằng khi nào Nhà nước giải quyết là đất của anh thì gia đình anh D đồng ý di dời phần mộ ông H trả lại cho anh. Do đó anh khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà C và anh D phải di dời cây trồng, vật kiến trúc trả lại cho anh diện tích theo đo đạc thực tế là 630,4m² thuộc một phần thửa 3144, tờ bản đồ số 03, tại Ấp B, xã T, huyện T. Anh đồng ý giữ nguyên hiện trạng phần mộ của ông H trên đất, không yêu cầu phía bà C, anh D phải di dời.
Vào ngày 03/4/2024, anh đến Ngân hàng TMCP N2 chi nhánh Đ - Phòng G tất toán hồ sơ vay và đã nhận lại giấy chứng nhận QSDĐ, đồng thời xóa thế chấp đối với thửa 3144, tờ bản đồ số 03, tại Ấp B, xã T, huyện T. Còn đối với yêu cầu phản tố của Bị đơn thì anh không đồng ý.
- Bị đơn anh Lê Văn D đồng thời đại diện cho bà Đinh Thị C trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp là vào năm 1995 cha mẹ anh là ông H, bà C mua của ông S và sử dụng cho đến năm 2004 thì Nhà nước làm tuyến dân cư trúng vào phần diện tích đất của ông H còn lại khoảng 400 - 500m² nên ông H mới đào ao nuôi cá. Khi gia đình ông C2 sửa chữa phần đáy ao của phần đất mà ông C2 mua của ông M Trai giáp ranh đất của ông H, ông H có nhờ K đang làm cho ông C2 sang để sửa chữa ao cho ông H mới có hiện trạng hôm nay. Từ khi gia đình ông C2 vào sử dụng phần đất ao cặp ranh đất của ông H thì gia đình ông C2 làm hàng rào trụ đá lưới B40 giáp ranh với phần đất ao của ông H. Nếu nói đất ao của ông H là của ông C2 thì tại sao lại cho K sang làm giùm cho ông H và làm hàng rào giáp ranh cho nên phần đất này là của ông H và đã được ông H sử dụng liên tục từ năm 1995 cho đến nay. Năm 2020 ông H chết nên gia đình anh D mới xây phần mộ ông H trên đất. Vì vậy, anh và bà C không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu của anh T. Đồng thời, anh và bà C yêu cầu:
+ Buộc anh Đinh Văn T chuyển quyền sử dụng đất diện tích 630,4m² thuộc một phần thửa 3144, tờ bản đồ số 03 tại Ấp B, xã T, huyện T.
Do anh T đã tất toán hồ sơ vay với Ngân hàng TMCP N2, anh T đã xóa thế chấp QSDĐ tại thửa 3144. Do đó, bà C xin rút yêu cầu hủy một phần hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 186/2020/VCB-ĐT/PGDHN ngày 06 tháng 8 năm 2020 giữa bên thế chấp là anh Đinh Văn T và bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP N2 chi nhánh Đ - Phòng G đối với tài sản là quyền sử dụng đất diện tích diện tích 630,4m² thuộc một phần thửa 3144, tờ bản đồ số 03 nêu trên.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Lê Thị P, chị Lê Thị L, chị Lê Thị T2 và chị Lê Thị C1 trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của bà C, anh D. Các chị không tranh chấp, không yêu cầu gì trong vụ án này.
+ Ủy ban nhân dân huyện T trình bày:
Quá trình Toà án thụ lý giải quyết, Ủy ban nhân dân Huyện đã cung cấp những thông tin, tài liệu, chứng cứ để phục vụ công tác xét xử, cũng như để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình theo đúng quy định. Đến nay, Ủy ban nhân dân Huyện giữ nguyên những thông tin, tài liệu đã cung cấp cho Tòa án và xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng đã xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Văn T về việc đòi bà Đinh Thị C, anh Lê Văn D trả lại diện tích 630,4m² thuộc một phần thửa 3144, tờ bản đồ số 3, đất tại Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
2. Bà Đinh Thị C được quyền sử dụng đất diện tích 630,4m² thuộc một phần thửa 3144, tờ bản đồ số 3, đất tại Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp do anh Đinh Văn T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác, quyền và thời hạn kháng cáo, quyền, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/9/2024 anh Đinh Văn T làm đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Buộc bà Đinh Thị C và anh Lê Văn D tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc, cây trồng trên đất và trả lại cho anh Đinh Văn T 630,4m² thuộc một phần thửa 3144, tờ bản đồ số 3, đất tại Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp do anh Đinh Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của mình. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm:
+ Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự có mặt tại phiên tòa đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
+ Về nội dung: Trong giai đoạn phúc thẩm đã phát hiện Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất 3144, diện tích 630,9m² là có sự nhầm lẫn. Thửa đúng là 3148 (Hiện nay là thửa 514), diện tích 760,9m². Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh T, sửa Bản án sơ thẩm về số thửa và diện tích đất tranh chấp là thửa 3148 (Hiện nay là thửa 514), diện tích 760,9m².
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đều thống nhất về diện tích, vị trí, số thửa, số tờ bản đồ đối với phần đất tranh chấp theo Sơ đồ đo đạc ngày 14/01/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T.
Căn cứ vào Sơ đồ đo đạc ngày 14/01/2025 và công văn số 1190/CNVPĐKĐĐHTH ngày 10/6/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T thể hiện diện tích đất tranh chấp là 760,9m², thuộc một phần thửa 3148, tờ bản đồ số 3 (Bản đồ 299) tương ứng thửa đất 514, tờ bản đồ số 4 (Bản đồ chính quy) trong phạm vi các mốc 1, 2, 3, 21, 20, 19, 18, 1 tại xã T, huyện T.
[2] Căn cứ vào lời khai người làm chứng ông Trương Công B là chủ sử dụng quyền sử dụng đất thuộc thửa 3148 trước khi chuyển nhượng cho ông Đinh Văn C2 (Cha anh T) khai nhận: Phần diện tích đất tranh chấp là của ông H (Chồng bà C) mua của ông S. Còn phần diện tích đất của ông Bình B1 cho ông Nguyễn Minh T3 lấy đất để san lấp làm tuyến dân cư bờ đông kênh Sa Rài không có phần đất của ông H sử dụng.
Lời khai người làm chứng ông Nguyễn Minh T3 khai nhận: Vào năm 2003 ông có mua phần đất ruộng của ông Trương Công B cùng một số hộ dân gần đó để múc đất để làm tuyến dân cư bờ đông kênh S. Phần đất ruộng ông mua đã chuyển thành đất ao. Đến năm 2005 thì ông mới chuyển nhượng phần đất ao này lại cho ông Đinh Văn C2 (Cha anh T). Còn phần đất đang tranh chấp thì vào năm 2003 ông đến múc đất để thi công công trình thì thấy ông H đã quản lý, sử dụng cho nên phần diện tích đất tranh chấp là của ông H, ông không bán phần đất này cho ông C2.
Lời khai của bà Nguyễn Thị T4 (Vợ của ông S) khai nhận: N1 trước đây vợ chồng bà T4 có phần đất ở và đất ruộng tại Ấp B, xã T B đến năm 1995 vợ chồng bà T4 về thị trấn S sinh sống nên mới bán lại phần đất này cho vợ chồng ông H, bà C. Khi đó phần đất của bà T4 có vị trí hướng Tây giáp kênh S, hướng Đông và Nam giáp đất ông Trương Công B còn hướng Bắc giáp đường nước. Phần đất đang tranh chấp là đất của bà T4, ông S bán cho vợ chồng ông H.
Đồng thời, anh T cũng khai nhận: Vào năm 2003 ông C2 (Cha của anh T) mua đất của ông M Trai thì hiện trạng là đất ao nhưng mặt đáy ao còn lõm chõm sau đó ông C2 mới dùng kobelco để cải tạo lại. Khi đó phần đất tranh chấp do ông H đã sử dụng là đất ao nhỏ, lạn nên có nhờ ông C2 đem Kobelco để sửa chữa lại đáy ao giùm cho ông H nên mới có hiện trạng là đất ao như hôm nay. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm anh T đều khai nhận từ khi gia đình anh về sinh sống tại Ấp B, xã T B thì phần diện tích đất tranh chấp này là do bên ông H quản lý, sử dụng.
Theo Công văn số: 25/UBND-NC ngày 18/01/2022 của UBND huyện T cung cấp thông tin như sau:
“1. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số 02346 QSDĐ/H, số phát hành AA470998, do UBND huyện T cấp ngày 15/10/2004 thuộc thửa đất số 3144, tờ bản đồ số 03, diện tích 1.418m², tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp cho hộ ông Đinh Văn C2 là đảm bảo trình tự thủ tục theo quy định của Luật đất đai. Khi cấp Giấy không có đo đạc thực tế;
2. Nguồn gốc đất của thửa 3144, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.418m², tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp: Trước khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Đinh Văn C2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Trương Công B, Trần Thị H1; việc cấp Giấy chứng nhận này là đảm bảo điều kiện, trình tự thủ tục theo quy định của Luật đất đai; không có đo đạc thực tế”.
Từ đó cho thấy, diện tích 760,9m² tranh chấp từ trước đến nay đều do ông H, bà C quản lý, sử dụng, anh T không có sử dụng. Mặt khác, khi ông C2 chuyển nhượng đất trong đó có thửa 3148 đều không có đo đạc thực tế nên không biết được trong thửa 3148 có một phần đất vợ chồng ông H, bà C sử dụng. Vì vậy, anh T yêu cầu bà C và anh D trả lại 760,9m² đất nêu trên là không phù hợp. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu của anh T là có căn cứ.
[3] Sau khi xét xử sơ thẩm, anh T làm đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh. Đồng thời, yêu cầu Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ lại phần đất tranh chấp. Căn cứ vào Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 14/01/2025 của Tòa án và Sơ đồ đo đạc ngày 14/01/2025 và công văn số 1190/CNVPĐKĐĐHTH ngày 10/6/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T thể hiện diện tích đất tranh chấp là 760,9m², thuộc một phần thửa 3148, tờ bản đồ số 3 (Bản đồ 299) tương ứng thửa đất 514, tờ bản đồ số 4 (Bản đồ chính quy) trong phạm vi các mốc 1, 2, 3, 21, 20, 19, 18, 1. Tại Đơn khởi kiện ngày 01/10/2020 anh T cũng xác định phần đất tranh chấp thuộc thửa 3148. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích đất tranh chấp 630,4m², thuộc thửa 3144 là chưa chính xác nên Hội đồng xét xử sửa một phần Bản án sơ thẩm theo hướng xác định diện tích đất tranh chấp là 760,9m², thuộc một phần thửa 3148 nêu trên.
Tại Tòa án cấp phúc thẩm anh T cũng không cung cấp được chứng cứ nào mới để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.
[4] Xét ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là có căn cứ nên chấp nhận.
Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh T, sửa một phần Bản án sơ thẩm.
Do không chấp nhận kháng cáo nên anh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 147, Điều 148, Điều 91, Điều 157, Điều 165, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 203 Luật đất đai, điều 17, 137 và 236 Luật đất đai năm 2024; Điều 164 và Điều 166 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của anh Đinh Văn T.
- Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 29/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đinh Văn T về việc yêu cầu bà Đinh Thị C và anh Lê Văn D trả lại diện tích 760,9m² đất nuôi trồng thủy sản, thuộc một phần thửa 3148, tờ bản đồ số 03, trong phạm vi các mốc 1, 2, 3, 21, 20, 19, 18, 1 tại Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bà Đinh Thị C được quyền sử dụng diện tích 760,9m² đất nuôi trồng thủy sản, thuộc một phần thửa 3148, tờ bản đồ số 03, trong phạm vi các mốc 1, 2, 3, 21, 20, 19, 18, 1 tại Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp do anh Đinh Văn T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bà Đinh Thị C và anh Đinh Văn T được đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký kê khai, điều chỉnh quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Đề nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 3148, tờ bản đồ số 03, tại Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp đã cấp cho anh Đinh Văn T để cấp lại cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
(Kèm theo Sơ đồ đo đạc ngày 14/01/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T)
- Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu phản tố của bà Đinh Thị C về việc hủy một phần hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 186/2020/VCB-ĐT/PGDHN ngày 06 tháng 8 năm 2020 giữa bên thế chấp là anh Đinh Văn T và bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP N2 chi nhánh Đ - Phòng G đối với tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 630,4m² thuộc một phần thửa 3144, tờ bản đồ số 03, tại Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Anh Đinh Văn T phải chịu 12.925.000đ (Đã nộp xong).
- Về án phí:
Anh Đinh Văn T phải chịu 3.804.500 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm và được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 394.000 đồng theo biên lai số 0009499 ngày 30/11/2020, 315.000 đồng theo biên lai số 0002515 ngày 16/5/2023 và 300.000 đồng theo biên lai số 0010234 ngày 17/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng. Anh Đinh Văn T còn phải nộp tiếp 3.095.500 đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi Nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Sỹ Danh Đạt |
Bản án số 325/2025/DS-PT ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp qsd đất, tháo dỡ vật kiến trúc và cây trồng trên đất
- Số bản án: 325/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp QSD đất, tháo dỡ vật kiến trúc và cây trồng trên đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp QSDĐ
