|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 325/2024/HS-PT Ngày: 26/7/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Văn Hợp |
| Các Thẩm phán: | Ông Phạm Việt Cường |
| Ông Trần Quốc Cường |
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang – Thẩm viên tra Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chiến - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 267/2024/TLPT-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Hương G về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Do có kháng cáo của bị cáo, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thị Hương G, sinh ngày 09/11/1983 tại tỉnh Bình Định; nơi ĐKNKTT: Tổ E, khu phố B, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Nguyên Giám đốc Công ty TNHH T6; trình độ học vấn (văn hóa): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy H, sinh năm 1958 và bà Trần Thị H1, sinh năm 1960; chồng Đào Xuân T (đã ly hôn), con có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/10/2022, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Hương G: Ông Nguyễn Thế V - Luật sư Công ty L3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh B. Địa chỉ: E H, thành phố Q, tỉnh Bình Định, có mặt.
- Bị hại:
- Bà Đoàn Thị L, sinh năm 1966. Trú tại: H L, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt.
- Ông Lâm Phương C, sinh năm 1976. Trú tại: Thôn D, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, có mặt.
- Ông Nguyễn Thanh D, sinh năm 1959. Trú tại: Thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định, có mặt.
- Bà Trần Thị Mỹ L1, sinh năm 1970. Trú tại: D N, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt.
- Bà Trần Thị H2, sinh năm 1987. Trú tại: B T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1965. Trú tại: B Q, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt.
- Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1969. Trú tại: Thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Dương V1, sinh năm 1996. Trú tại: Khu phố H, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
- Ông Đinh Ngọc A, sinh năm 1975. Trú tại: F H, thành phố Q, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 26/4/2019, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty TNHH T6, (có trụ sở tại sô A N, Phường L, tp Q, tỉnh Bình Định) do ông Nguyễn Duy V2 làm Giám đốc và là người đại diện theo pháp luật, với ngành nghề kinh doanh bất động sản, quyền sử dụng đất thuộc chủ sở hữu hoặc cho thuê....
Ngày 24/12/2020, ông Nguyễn Duy V2 - Giám đốc Công ty TNHH T6 ký kết Hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp của Công ty cho Nguyễn Thị Hương G. Đồng thời, ký Quyết định thay đổi chủ sở hữu giao cho Nguyễn Thị Hương G làm Giám đốc và là người đại diện theo pháp luật của Công ty. Lúc này, Nguyễn Thị Hương G đến thuê nhà và đặt Văn phòng đại diện tại số A N, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định để Công ty hoạt động kinh doanh. Khi kinh doanh, Nguyễn Thị Hương G có tuyển dụng 02 nhân viên là Lê Dương V1 (sinh năm 1996, trú tại: Khu phố H, phường N, thị xã A) và Huỳnh Thị Thanh T2 (sinh năm 1992, trú tại: B Q, phường B, thị xã A) làm dịch vụ tư vấn và môi giới bất động sản cho Công ty TNHH T6.
Ngày 06/12/2016, UBND tỉnh B ký Quyết định số 4507 về việc chấp thuận cho Công ty CP Đ (có trụ sở tại Tầng A, tòa nhà S, số A N, phường N, quận L, Thành phố Hà Nội) làm chủ đầu tư (hay gọi là dự án H) tại Khu đô thị dọc hai bên đường L đi đến phường N, thị xã A. Để thực hiện dự án này, ngày 11/10/2017, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 3766/QĐ-UBND về việc thay đổi pháp nhân nhà đầu tư thực hiện Dự án từ Công ty Cổ phần Đ sang Công ty TNHH T6.
Ngày 05/4/2021, Công ty TNHH T6 ký kết hợp đồng dịch vụ tư vấn và môi giới bất động sản với Công ty Cổ phần Đ1 do ông Đào Ngọc T3 - Tổng giám đốc (viết tắt Công ty Đ1, có trụ sở tại B P, phường C, quận B, Thành phố Hà Nội). Công ty này đã uỷ quyền cho Chi nhánh Công ty cổ phần Đ1 tại Bình Định do Phan Bảo T4 làm Giám đốc, thực hiện việc khảo sát tìm kiếm khách hàng, nghiên cứu thị trường môi giới, nắm bắt nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm là bất động sản của Dự án H; đảm bảo khách hàng đủ điều kiện về tài chính để đi đến ký kết thực hiện Hợp đồng mua bán, chuyển nhượng đất khi chủ đầu tư đã hoàn thành dự án, được phép mở bán sản phẩm là bất động sản.
Ngày 25/5/2021, Sở Xây dựng tỉnh B ban hành giấy phép xây dựng số 34/GPXD cấp cho Công ty TNHH T6 được phép xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật của Dự án Hưng Định City.
Ngày 29/11/2021, UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 4737/QĐ-UBND được chuyển quyền sử dụng đất đã đầu tư xây dựng hạ tầng cho người dân tự xây nhà ở (giai đoạn 1), dự án Khu đô thị dọc hai bên đường L đi phường N, thị xã A. Theo đó, Công ty Đ1 chi nhánh B1 cho khách hàng đăng ký nguyện vọng mua các lô đất và phải đóng tiền theo lộ trình là 30% giá trị lô đất của Dự án. Khi chủ đầu tư được phép mở bán, số tiền khách hàng đã đóng sẽ được thanh toán cho chủ đầu tư và tiến hành làm các thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo đúng quy định.
Trong quá trình thực hiện dự án, Công ty TNHH T6 và Công ty Đ1 chi nhánh B1 không có ký kết bất kỳ hợp đồng tư vấn dịch vụ môi giới bất động sản với Công ty TNHH T6 do Nguyễn Thị Hương G làm giám đốc.
Khi biết được chủ trương của Dự án H, nên Nguyễn Thị Hương G – Giám đốc đã đưa ra thông tin về các lô đất của Dự án Hưng Định C1 rồi hướng dẫn cho Lê Dương V1, Huỳnh Thị Thanh T2 đi tìm kiếm khách hàng, tư vấn và môi giới chào bán sản phẩm là bất động sản. Khi khách hàng có nguyện vọng đăng ký mua các lô đất trong dự án H thì V1, T2 cung cấp số tài khoản 0051007779999 của Công ty TNHH T6 để các khách hàng chuyển tiền đặt chỗ. Sau đó, đưa B đăng ký nguyện vọng đặt chỗ lô đất cho khách hàng ký rồi đem về cho Nguyễn Thị Hương G ký tên, đóng dấu để đưa lại cho các khách hàng làm tin. Với thủ đoạn và phương thức như trên, từ tháng 12/2020 đến tháng 5/2021, Lê Dương V1, Huỳnh Thị Thanh T2 đã tư vấn và môi giới cho 07 cá nhân đặt chỗ các lô đất của Dự án Hưng Định C1 và đã chuyển tiền cho Công ty TNHH T6, với tổng số tiền 2.203.360.000 đồng. Sau đó, Nguyễn Thị Hương G chiếm đoạt sử dụng và tiêu xài cá nhân, cụ thể như sau:
- Lừa đảo chiếm đoạt của Đoàn Thị L (ở tại H L, phường N, thị xã A) với số tiền 250.000.000 đồng:
Ngày 23/12/2020, Lê Dương V1 là nhân viên của Công ty TNHH T7 vàng Bình Định đã tư vấn cho Đoàn Thị L2 mua 02 lô kí hiệu LK13-26, 27. Lúc này, Đoàn Thị L đồng ý mua và chuyển tiền vào số tài khoản của Công ty TNHH T6 với số tiền 100.000.000 đồng. Sau đó, Nguyễn Thị Hương G ký tên, đóng dấu Công ty vào Bản đăng ký nguyện vọng, giao cho anh Lê Dương V1 giao lại cho chị L 01 bản. Tiếp đến chị L đặt cọc mua 03 lô đất kí hiệu LK10-01, 02, 03 và đã 02 lần chuyển tiền vào tài khoản của Công ty TNHH T7 vàng Bình Định với số tiền 150.000.000 đồng thì G cũng ký tên, đóng dấu vào Bản đăng ký nguyện vọng đưa cho V1 để giao lại cho chị L 01 bản. Như vậy, tổng cộng Đoàn Thị L đăng ký nguyện vọng mua 05 lô đất trong dự án H và đã nộp cho Công ty TNHH T6 số tiền 250.000.000 đồng. Sau đó, G chiếm đoạt sử dụng và tiêu xài cá nhân.
- Lừa đảo chiếm đoạt của Lâm Phương C, ở tại thôn D, P, huyện T, tỉnh Bình Định) số tiền 50.000.000 đồng:
Ngày 30/12/2020, anh Lê Dương V1 là nhân viên của Công ty TNHH T6 đến tư vấn cho anh Lâm Phương C để đăng ký nguyện vọng mua lô LK13-23 thì anh C đồng ý và chuyển tiền đặt cọc vào số tài khoản của Công ty TNHH T6 với số tiền 50.000.000 đồng thì G ký tên, đóng dấu vào Bản đăng ký nguyện vọng giao cho Lê Dương V1 để V1 đưa cho anh C 01 bản. Sau đó, Nguyễn Thị Hương G chiếm đoạt sử dụng và tiêu xài cá nhân.
- Lừa đảo chiếm đoạt của Nguyễn Thanh D (trú tại xã P, huyện T, tỉnh Bình Định) số tiền 50.000.000 đồng:
Do có mối quan hệ quen biết với chị Đoàn Thị L nên khoảng đầu tháng 01/2021 anh Nguyễn Thanh D gọi điện thoại cho Lê Dương V1 là nhân viên tư vấn môi giới bất động sản của Công ty TNHH T6 đến tư vấn cho anh D mua lô đất có kí hiệu LK13: 24 thuộc Dự án H thì được anh D đồng ý. Ngày 05/01/2021, anh D chuyển tiền đặt cọc vào tài khoản của Công ty TNHH T6 với số tiền 50.000.000 đồng. Sau đó, V1 chụp hình giấy nộp tiền của anh D và đưa cho anh D 01 Bản đăng ký nguyện vọng để anh Duy điền thông tin lô đất LK13: 24, rồi V1 đem về Công ty cho Nguyễn Thị Hương G ký tên, đóng dấu rồi giao cho anh D giữ 01 bản. Đến khoảng Quý I năm 2021, anh D gọi điện thoại choVương hỏi Dự án H đã mở bán đất hay chưa thì V1 tắt máy. Lúc này, anh D đến Công ty TNHH T6 thấy đóng cửa nên làm đơn tố cáo với Cơ quan chức năng điều tra làm rõ.
- Lừa đảo chiếm đoạt của Trần Thị Mỹ L1 (ở tại D N, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định) số tiền 50.000.000 đồng:
Với cách thức như trên ngày 13/01/2021, Lê Dương V1 cũng tư vấn môi giới và cung cấp thông tin các lô đất thuộc Dự án H cho chị Trần Thị Mỹ L1. Sau khi được V1 tư vấn, chị Trần Thị Mỹ L1 đồng ý mua lô đất có kí hiệu LK13-25 thuộc Dự án H và đã chuyển tiền vào khoản Công ty TNHH T6 với số tiền 50.000.000 đồng. Sau khi chuyển tiền xong, Trần Thị Mỹ L1 báo cho V1 biết và V1 đã đem đến cho chị L1 01 Bản đăng ký nguyện vọng để ghi thông tin cá nhân, vị trí thửa đất đặt chỗ. Sau khi ghi xong, V1 đem về Công ty cho Nguyễn Thị Hương G ký tên, đóng dấu xác nhận và đưa cho chị L1 giữ 01 bản. Đến tháng 9/2021, chị L1 không thấy Dự án mở bán đất nên gọi điện cho V1 thì không liên lạc được, nên làm đơn báo cáo với Cơ quan chức năng điều tra làm rõ.
- Lừa đảo chiếm đoạt của Trần Thị H2,(ở tại B T, N, thị xã A, tỉnh Bình Định) số tiền 200.000.000 đồng:
Đầu tháng 3 năm 2021, Lê Dương V1 đến nhà chị Trần Thị H2 tư vấn dịch vụ và môi giới chào bán bất động sản thuộc Dự án H Lúc này, V1 đưa bản đồ của Dự án, giới thiệu các lô mặt chợ cho chị H2 và nói “nếu chị H2 muốn mua thì đặt cọc tiền để Công ty giữ chỗ lô đất và cung cấp số tài khoản của Công ty cho chị H2”. Sau khi nghe V1 tư vấn chị H2 đồng ý mua 04 lô đất của Dự án H có ký hiệu LK10: 12.13.16.17. Ngày 12/3/2021, chị Trần Thị H2 chuyển tiền vào tài khoản của Công ty TNHH T6 với số tiền 200.000.000 đồng. Sau khi chuyển tiền, V1 đem đến cho chị H2 01 Bản đăng ký nguyện vọng để chị H2 ghi thông tin cá nhân, rồi V1 đem về Công ty cho Nguyễn Thị Hương G - Giám đốc ký tên, đóng dấu xác nhận và đưa cho V1 để giao cho chị H2 giữ 01 bản. Đến khoảng tháng 5 năm 2021, chị H2 gọi điện thoại cho V1 thì V1 không nghe máy nên đã làm đơn báo cáo Cơ quan chức năng và yêu cầu trả lại tiền.
- Lừa đảo chiếm đoạt của Nguyễn Thị Thanh T1, (ở tại B Q, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định) số tiền 603.360.000 đồng:
Ngày 12/4/2021, Huỳnh Thị Thanh T2 là nhân viên tư vấn của Công ty TNHH T6 đã tư vấn cho Nguyễn Thị Thanh T1 (mẹ chồng) mua lô đất có kí hiệu LK24: 11 thuộc Dự án H thì chị T1 đồng ý và đã chuyển tiền vào khoản của Công ty TNHH T6 với số tiền 50.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền đặt cọc, G đưa cho chị T1 một phiếu đăng ký giữ chỗ, để chị T1 điền thông tin cá nhân lô đất, G ký tên, đóng dấu Công ty đưa cho chị T1 giữ 01 bản. Sau đó, chị T1 muốn mua 02 lô đất có kí hiệu LK03: 06, 07. Ngày 19/4/2021, Nguyễn Thị Hương G đã ký kết hợp đồng góp vốn với chị T1 và nói chị T1 phải đóng thêm tiền cọc là 553.360.000 đồng. Ngày 14/4/2021, chị T1 đã chuyển khoản thêm số tiền 553.360.000 đồng vào tài khoản Công ty T6 để cọc đủ số tiền 603.360.000 đồng. Sau đó, Nguyễn Thị Hương G chiếm đoạt tiêu xài cá nhân.
- Lừa đảo chiếm đoạt của Nguyễn Văn S (ở tại N, thị xã A, tỉnh Bình Định) với số tiền 1.000.000.000 đồng:
Ngày 13/5/2021, Huỳnh Thị Thanh T2 là nhân viên tư vấn thuộc Công ty TNHH T6 đã tư vấn cho ông Nguyễn Văn S mua lô đất có kí hiệu LK13: 05 thì được anh S đồng ý và chuyển vào tài khoản của Công ty T6 với số tiền 100.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền đặt cọc theo nguyện vọng thì G nói dối với anh S là “Lô LK13: 05 sẽ xây nhà kiểu mẫu, khi mua sẽ bao gồm quyền sử dụng đất và nhà đã xây thô”. Lúc này, anh S không có nhu cầu xây nhà nên được G tư vấn cho anh S chuyển sang mua lô đất kí hiệu LK13: 07 và phải đóng thêm tiền cọc cho đủ giá trị lô đất là 2.880.000.000 đồng và làm Hợp đồng chuyển nhượng ngay, không đóng theo lộ trình như các lô đất khác. Sau khi trao đổi, thống nhất anh S đồng ý sẽ đóng tiền đặt cọc thêm là 900.000.000 đồng, khi nào làm thủ tục chuyển nhượng sẽ thanh toán số tiền còn lại là 1.880.000.000 đồng. Ngày 13/5/2021, Nguyễn Thị Hương G đã ký Hợp đồng về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với anh Nguyễn Văn S có sự chứng kiến của Huỳnh Thị Thanh T2 và giao cho anh S giữ một bản. Sau đó, G chiếm đoạt sử dụng tiêu xài cá nhân.
Đối với số tiền chiếm đoạt của 07 cá nhân nêu trên là 2.203.360.000 đồng, G đã sử dụng cho Lê Dương V1 mượn 220.000.000 đồng. Ngoài ra, Nguyễn Thị Hương G còn ký kết Hợp đồng đặt cọc mua 02 lô đất của Đinh Ngọc A toạ lạc tại thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Bình Định và đã chuyển tiền vào tài khoản của Đinh Ngọc A mở tại ngân hàng TMCP K chi nhánh Q số tiền 200.000.000 đồng. Khi đó, G biết Đinh Ngọc A có quen biết với Vũ Xuân T5 đã ký kết hợp đồng mua các lô đất của Dự án Hưng Thịnh C2 và muốn sang nhượng lại các hợp đồng. Nghe vậy, Nguyễn Thị Hương G có trao đổi với Đinh Ngọc A là cùng làm môi giới với Anh sẽ tìm kiếm khách hàng có nhu cầu để sang nhượng lại các hợp đồng các lô đất có ký hiệu LK03:05 đến LK03:12 cử Vũ Xuân T5 nên Đinh Ngọc A đồng ý. Để đảm bảo uy tín, ngày 15/4/2021, G rút tiền mặt từ tài khoản Công ty với số tiền 1.000.000.000 đồng, nộp vào tài khoản của Đinh Ngọc A số 14020615984015 mở tại ngân hàng TMCP K chi nhánh Q với nội dung “Nguyễn Thị Hương G - đặt cọc đất Dự án A”. Tuy nhiên, Đinh Ngọc A có nói lại với G “là sẽ sử dụng 500.000.000đ để đặt cọc cho người đang có Hợp đồng nguyện vọng mua các lô đất ở khu Dự án H của Vũ Xuân T5”, còn 500.000.000₫ sẽ tính vào việc thực hiện Hợp đồng mua đất của Đinh Ngọc A ở xã C thì G đồng ý. Sau đó, Đinh Ngọc A chuyển số tiền 500.000.000 đồng cho Vũ Xuân T5 để đặt cọc mua đất Dự án H Như vậy, Nguyễn Thị Hương G đã chuyển cho Đinh Ngọc A số tiền 1.200.000.000 đồng là tiền mà G chiếm đoạt của các bị hại trong vụ án, nên yêu cầu Đinh Ngọc A phải có nghĩa vụ hoàn trả lại 1.200.000.000 đồng cho các bị hại.
Ngày 10/10/2021, các bị hại nêu trên đến Công ty TNHH T6 thì Nguyễn Thị Hương G đã bỏ trốn, nên đã làm đơn tố cáo.
Ngày 05/10/2021, qua xác minh tại Chi cục thuế Q1 và có Thông báo số 6192 trả lời Công ty TNHH T6 bỏ địa chỉ kinh doanh từ 01/10/2021 đến nay.
Ngày 03/7/2023, gia đình bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000 đồng cho Cơ quan điều tra để khắc phục hậu quả.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã quyết định:
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hương G phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hương G 12 (Mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/10/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 17/5/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng ban hành Quyết định kháng nghị số 31/QĐ-VC2 đề nghị theo hướng sửa án sơ thẩm buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trả lại tiền cho các bị hại theo tỷ lệ trên số tiền mà bị cáo G đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu tài sản theo khoản 2 Điều 47 và khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự.
Ngày 23/4/2024, bị cáo Nguyễn Thị Hương G có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng phát biểu quan điểm về giải quyết vụ án như sau: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo G là đúng người, đúng pháp luật, bị cáo kháng cáo không có tình tiết mới. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Hương G giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, theo hướng sửa án sơ thẩm buộc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trả lại tiền cho các bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Kháng cáo của bị cáo, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng làm trong thời hạn luật định và đảm bảo quy định tố tụng nên được xem xét theo quy định pháp luật.
- Về nội dung:
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được tranh tụng tại các phiên toà. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Xuất phát từ động cơ vụ lợi, Nguyễn Thị Hương G (Giám đốc Công ty TNHH T6, mặc dù không được chủ đầu tư Dự án H (Công ty TNHH T6) ký kết bất kỳ Hợp đồng nào, nhưng khi biết được Công ty này đã ủy quyền ký kết Hợp đồng môi giới bất động sản tại Khu đô thị dọc hai bên đường liên phường B đến phường N, thị xã A với Công ty Đ1 - chi nhánh B1, thì từ ngày 25/12/2020 đến tháng 7/2021, Nguyễn Thị Hương G thuê Lê Dương V1, Huỳnh Thị Thanh T2 là các nhân viên đi tìm kiếm khách hàng môi giới chào bán sản phẩm là bất động sản và đưa ra các thông tin sai sự thật là Công ty TNHH T6 có ký kết hợp đồng tư vấn dịch vụ và môi giới bất động sản tại các lô đất của Dự án Hưng Định C1, nên làm cho Đoàn Thị L, Nguyễn Thanh D, Lâm Phương C, Trần Thị Mỹ L1, Trần Thị H2, Nguyễn Thị Thanh T1 và Nguyễn Văn S tin tưởng ký Bản đăng ký nguyện vọng đặt chỗ hoặc Hợp đồng góp vốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhà ở với Nguyễn Thị Hương G và đã chuyển tiền đặt cọc mua đất cho G với tổng số tiền 2.203.360.000 đồng. Sau khi nhận được tiền của các cá nhân nói trên, Nguyễn Thị Hương G không tiến hành thực hiện như Hợp đồng đã ký kết mà chiếm đoạt sử dụng tiêu xài cá nhân.
Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị Hương G theo tội danh và điều khoản nêu trên của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị Hương G là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, nên cần xử lý nghiêm để răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường cho các bị hại tổng số tiền 10.000.000 đồng, các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiện đang nuôi 03 con còn nhỏ nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội”, “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm c, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân bị cáo, Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 12 năm tù là mức án khởi điểm của khung hình phạt mà bị cáo bị xét xử là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên toà phúc thẩm, các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo trình bày đã tác động gia đình khắc phục bồi thường thêm cho các bị hại 20.000.000 đồng (kèm theo tài liệu), tuy nhiên mức bồi thường này không đáng kể so với số tiền bị cáo chiếm đoạt và các tình tiết này đã được Toà án cấp sơ thẩm áp dụng nên không có cơ sở giảm nhẹ hình phạt thêm cho bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Hương G có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại số tiền chiếm đoạt 2.203.360.000 đồng.
Tuy nhiên, số tiền chiếm đoạt của các bị hại, bị cáo đã chuyển cho Lê Dương V1 mượn 220.000.000 đồng, đặt cọc cho Đinh Ngọc A 1.200.000.000 đồng để mua 02 lô đất, nên Lê Dương V1 phải có trách nhiệm trả lại cho bị hại 220.000.000 đồng, Đinh Ngọc A phải có trách nhiệm trả lại cho bị hại 1.200.000.000 đồng theo tỷ lệ số tiền các bị hại bị chiếm đoạt mà không phải trả lại cho bị cáo mới là đúng quy định. Số tiền còn lại bị cáo có trách nhiệm trả lại cho các bị hại. Đối với số tiền 20.000.000 đồng bị cáo đã nộp thêm, dùng để bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại theo quy định về thi hành án.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, sửa phần dân sự của bản án sơ thẩm.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, sửa phần án phí dân sự sơ thẩm đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, 356, 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Hương G, Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 31/QĐ-VC2 ngày 17/5/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định về phần dân sự.
- Về hình phạt:
Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hương G 12 (Mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/10/2022.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hương G phải trả cho 07 người bị hại số tiền 783.360.000 đồng. Cụ thể như sau:
- Đoàn Thị L 88.885.000 đồng:
- Lâm Phương C 17.777.000 đồng:
- Nguyễn Thanh D 17.777.000 đồng.
- Trần Thị Mỹ L1 17.777.000 đồng.
- Trần Thị H2 71.108.000 đồng.
- Nguyễn Thị Thanh T1 214.496.000 đồng.
- Nguyễn Văn S 355.540.000 đồng.
Buộc Đinh Ngọc A phải trả cho 07 người bị hại số tiền 1.200.000.000 đồng. Cụ thể như sau:
- Đoàn Thị L 136.151.000 đồng:
- Lâm Phương C 27.230.000 đồng:
- Nguyễn Thanh D 27.230.000 đồng.
- Trần Thị Mỹ L1 27.230.000 đồng.
- Trần Thị H2 108.922.000 đồng.
- Nguyễn Thị Thanh T1 328.612.000 đồng.
- Nguyễn Văn S 544.625.000 đồng.
Buộc Lê Dương V1 phải trả cho các bị hại 220.000.000 đồng. Cụ thể như sau:
- Đoàn Thị L 24.964.000 đồng:
- Lâm Phương C 4.993.000 đông:
- Nguyễn Thanh D 4.993.000 đồng.
- Trần Thị Mỹ L1 4.993.000 đồng.
- Trần Thị H2 19.970.000 đồng.
- Nguyễn Thị Thanh T1 60.252.000 đồng.
- Nguyễn Văn S 99.835.000 đồng.
Tiếp tục tạm giữ 10.000.000 đồng bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại để đảm bảo thi hành án (Theo ủy nhiệm chi số 14/2023 ngày 02/11/2023, đơn vị nhận tiền Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định) và số tiền 20.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0001389 ngày 05/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định để bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại đảm bảo việc thi hành án.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị Hương G phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị Hương G phải chịu 35.334.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; ông Đinh Ngọc A phải chịu 48.000.000 (Bốn mươi tám triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm; ông Lê Dương V1 phải chịu 11.000.000 (Mười một triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Các phần quyết định khác còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Văn Hợp |
Bản án số 325/2024/HS-PT ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về hình sự phúc thẩm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 325/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: . Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Hương G, Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 31/QĐ-VC2 ngày 17/5/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định về phần dân sự.
