Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 3247/2024/LD-ST

Ngày: 19 – 7 – 2024

V/v Tranh chấp tiền công dịch vụ.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Chi.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Gái.
  2. Ông Phạm Thế Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 55/2024/TLST-LĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp tiền công dịch vụ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5082/2024/QĐXXST-LĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Quãng Thị Đ, sinh năm: 1989.

    Địa chỉ: Số A T, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

  2. Bị đơn: Công ty TNHH T.

    Trụ sở: Số D đường X, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thu P, có mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thu P, sinh năm 1996.

    Địa chỉ: Số D đường X, phường T, thành phố T, Thành phố H, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ngày 25 tháng 3 năm 2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Quãng Thị Đ trình bày:

Bà Quãng Thị Đ vào làm việc tại Công ty TNHH T từ ngày 13/10/2023 theo Thỏa thuận lao động ngày 13/10/2023, công việc của bà Đ là công việc tạp vụ, tiền lương được trả theo giờ. Đối với Thỏa thuận lao động ngày 13/10/2023, bà Đ đã làm việc và được trả lương đầy đủ nên bà không tranh chấp gì. Ngoài ra, vào ngày 01/11/2023, bà Đ có thỏa thuận làm dịch vụ cho Công ty TNHH T. Theo đó, bà Đ phụ trách công việc phỏng vấn, hướng dẫn và điều phối công việc cho nhân sự mới, thỏa thuận giữa hai bên bằng lời nói chứ không ký kết hợp đồng. Mức tiền công theo thỏa thuận là 7.000.000 đồng/tháng, hai tháng đầu nhận 85% tiền lương. Bà Đ cho rằng đã hoàn thành công việc đúng yêu cầu nhưng Công ty TNHH T trả tiền công chậm. Vì vậy, ngày 14/12/2023, bà Đ nộp đơn xin nghỉ làm việc và được Công ty TNHH T chấp nhận. Thời gian bà Đ làm dịch vụ cho Công ty TNHH T là 45 ngày. Công ty TNHH T đã trả cho bà Đ tổng số tiền 8.580.000 đồng, còn nợ 14 ngày công tương ứng với số tiền 3.266.000 đồng. Theo bà Đ thì trong số tiền 8.580.000 đồng có một phần là tiền công theo hợp đồng dịch vụ, phần còn lại là tiền lương theo hợp đồng lao động. Tuy nhiên, bà Đ không yêu cầu Tòa giải quyết đối với số tiền 8.580.000 đồng. Công ty TNHH T hẹn đến ngày 10/01/2024 sẽ thanh toán đủ dứt 3.266.000 đồng nhưng do rơi vào ngày nghỉ Tết nên Công ty TNHH T hẹn đến ngày 14/01/2024. Đến ngày 14/01/2024 thì Công ty TNHH T nhắn tin thông báo bà Đ làm sai quy định và buộc bà Đ phải bị trừ 5.000.000 đồng tiền lương. Bà Đ đã nộp đơn đến Phòng L đề nghị hòa giải nhưng không thành. Nay nguyên đơn bà Quãng Thị Đ xác định bà không tranh chấp đối với Thỏa thuận lao động ngày 13/10/2023, không tranh chấp đối với khoản tiền công mà Công ty TNHH T đã trả cho bà Đ, không yêu cầu giải quyết tiền bảo hiểm xã hội, tiền bảo hiểm thất nghiệp, tiền bảo hiểm y tế và tiền bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Bà Đ chỉ yêu cầu bị đơn Công ty TNHH T phải thanh toán tiền công còn lại theo hợp đồng dịch vụ giữa bà Đ với Công ty TNHH T, số tiền là 3.266.000 đồng, tương ứng với 14 ngày làm việc theo công việc được thỏa thuận tại Hợp đồng dịch vụ ngày 01/11/2023 giữa bà Đ và Công ty TNHH T.

Bị đơn Công ty TNHH T có bà Nguyễn Thị Thu P là đại diện theo pháp luật trình bày:

Công ty TNHH T xác nhận ký với bà Đ Thỏa thuận lao động ngày 13/10/2023. Ngoài ra, Công ty có thỏa thuận thêm với bà Đ về việc bà Đ phụ trách công việc phỏng vấn và hướng dẫn, điều phối công việc cho nhân sự mới, thỏa thuận giữa hai bên được xác lập vào ngày 01/11/2023 bằng lời nói. Bà Đ đã làm công việc này được 45 ngày, Công ty TNHH T đã trả cho bà Đ tổng số tiền 8.580.000 đồng, còn nợ 14 ngày công tương ứng với số tiền 3.266.000 đồng. Thực tế thì Công ty TNHH T thỏa thuận tiền công trả cho bà Đ là 7.000.000 đồng/tháng. Tháng đầu tiên bà Đ chỉ được nhận 85% tiền công. Tuy nhiên, do thanh toán tiền công chậm 06 ngày nên Công ty TNHH T trả thêm cho bà Đ 500.000 đồng. Số tiền còn lại là Công ty tự nguyện hỗ trợ thêm cho bà Đ, Công ty TNHH T không tranh chấp gì đối với số tiền đã chi trả cho bà Đ. Tuy nhiên, do bà Đ làm việc không đạt kết quả mong muốn nên Công ty TNHH T đã cho bà Đ nghỉ việc. Bên cạnh đó, sau khi nghỉ việc, bà Đ có hành vi lôi kéo nhân sự và khách hàng, làm ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của Công ty T. Tuy Công ty TNHH T không phải bồi thường cho khách hàng nhưng có vài nhân viên bị bà Đ gây ảnh hưởng nên đã nghỉ việc. Do đó, công ty không đồng ý thanh toán phần tiền công còn thiếu cho bà Đ. Bị đơn không có yêu cầu phản tố.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Thu P trình bày:

Bà P xác nhận số tiền đã chi trả cho bà Quãng Thị Đ là 8.580.000 đồng. Số tiền này chuyển từ tài khoản cá nhân của bà P để thanh toán tiền công dịch vụ mà Công ty TNHH T trả cho bà Đ. Nay bà P xác định không tranh chấp, không có yêu cầu gì đối với số tiền 8.580.000 đồng này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về xác định quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Về xác định quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Quãng Thị Đ khởi kiện Công ty TNHH T về “Tranh chấp tiền công dịch vụ”. Các bên cùng xác định ngoài quan hệ lao động được xác lập theo Thỏa thuận lao động ngày 13/10/2023 thì vào ngày 01/11/2023, bà Đ có thỏa thuận làm dịch vụ cho Công ty TNHH T. Theo đó, bà Đ phụ trách công việc phỏng vấn, hướng dẫn và điều phối công việc cho nhân sự mới, thỏa thuận giữa hai bên bằng lời nói chứ không ký kết hợp đồng. Nay các bên cùng xác định không tranh chấp đối với Thỏa thuận lao động ngày 13/10/2023, chỉ tranh chấp đối với tiền công còn lại thỏa thuận làm dịch vụ giao kết vào ngày 01/11/2023. Như vậy, có đầy đủ cơ sở để nhận định quan hệ tranh chấp giữa bà Đ và Công ty TNHH T là “Tranh chấp tiền công dịch vụ”. Bị đơn Công ty TNHH T có trụ sở tại thành phố T. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

[2.1] Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Quãng Thị Đ có mặt; người đại diện theo pháp luật của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu P có mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu P có mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án được xét xử theo thủ tục chung.

[2.2] Tại phiên Tòa, các bên đương sự cùng xác định không tranh chấp đối với Thỏa thuận lao động ngày 13/10/2023, không yêu cầu giải quyết đối với khoản tiền công mà Công ty TNHH T đã trả cho bà Đ theo Hợp đồng dịch vụ ngày 01/11/2023, không yêu cầu giải quyết tiền bảo hiểm xã hội, tiền bảo hiểm thất nghiệp, tiền bảo hiểm y tế và tiền bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

[3] Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

[3.1] Về hiệu lực của Hợp đồng dịch vụ ngày 01/11/2023: Về hình thức, hợp đồng dịch vụ ngày 01/11/2023 được xác lập bằng lời nói nhưng đều được cả hai bên thừa nhận. Xét thấy, hợp đồng dịch vụ giữa các bên được giao kết tự nguyện. Nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên căn cứ Điều 117, Điều 513 Bộ luật Dân sự năm 2015, Thỏa thuận về hợp đồng dịch vụ ngày 01/11/2023 giữa bà Đ và Công ty TNHH T có hiệu lực, là căn cứ để phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa các bên giao kết hợp đồng.

[3.2] Về căn cứ chấm dứt hợp đồng: Theo trình bày của bà Quãng Thị Đ, trong thời gian làm dịch vụ cho Công ty TNHH T, bà Đ đã thực hiện tốt công việc được giao theo thỏa thuận tại Hợp đồng dịch vụ ngày 01/11/2023. Đến ngày 14/12/2023, bà Đ nộp đơn xin nghỉ việc, Công ty TNHH T cho rằng bà Đ không làm tốt công việc được giao nên Công ty đã cho bà Đ nghỉ việc. Như vậy, có đầy đủ cơ sở để nhận định giữa bà Quãng Thị Đ và Công ty TNHH T đã tự nguyện chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 422 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3.3] Về thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng dịch vụ: Theo trình bày của bà Đ thì phía Công ty TNHH T đã vi phạm nghĩa vụ chi trả tiền công theo hợp đồng. Công ty TNHH T thừa nhận còn giữ lại tiền công của 14 ngày tương ứng số tiền 3.266.000 đồng. Như vậy, có đầy đủ cơ sở để nhận định, Công ty TNHH T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền công đối với bà Đ.

[3.4] Công ty TNHH T cho rằng trong quá trình làm việc, bà Đ không đạt kết quả mong muốn nên Công ty TNHH T đã cho bà Đ nghỉ việc. Bên cạnh đó, sau khi nghỉ việc, bà Đ có hành vi lôi kéo nhân sự và khách hàng, làm ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của Công ty. Do đó, Công ty TNHH T không đồng ý thanh toán phần tiền công dịch vụ còn thiếu cho bà Đ. Hội đồng xét xử nhận định: Công ty TNHH T không xuất trình được tài liệu, chứng cứ để chứng minh được bà Đ không đạt yêu cầu của công việc. Do đó, căn cứ Điều 519 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử buộc Công ty TNHH T có trách nhiệm thanh toán đầy đủ tiền công dịch vụ cho bà Đ.

[3.5] Về số tiền mà Công ty TNHH T phải chi trả cho bà Đ: Trong quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ cũng như tại phiên tòa, Công ty TNHH T thừa nhận số tiền Công ty TNHH T còn giữ lại là 3.266.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử buộc Công ty TNHH T phải chi trả cho bà Đ số tiền 3.266.000 đồng.

[4] Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết đối với Thỏa thuận lao động ngày 13/10/2023, không yêu cầu giải quyết đối với khoản tiền công mà Công ty TNHH T đã trả cho bà Đ theo hợp đồng dịch vụ, không yêu cầu giải quyết tiền bảo hiểm xã hội, tiền bảo hiểm thất nghiệp, tiền bảo hiểm y tế và tiền bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Bà Quãng Thị Đ không phải chịu tiền án phí. Do phải trả tiền cho bà Đ nên Công ty TNHH T phải chịu tiền án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 220, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 519, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Nghị quyết 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Luật Thi hành án dân sự.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Quãng Thị Đ:

Buộc bị đơn Công ty TNHH T phải trả cho bà Quãng Thị Đ số tiền 3.266.000 (ba triệu, hai trăm sáu mươi sáu nghìn) đồng.

Việc giao nhận tiền được thực hiện dưới sự giám sát của cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho bên được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

Công ty TNHH T phải chịu số tiền án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, Công ty TNHH T chưa nộp tiền án phí. Bà Quãng Thị Đ không phải chịu tiền án phí.

3. Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

4. Về quyền kháng nghị:

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Thủ Đức;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Thủ Đức;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Trúc Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3247/2024/LD-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp tiền công dịch vụ

  • Số bản án: 3247/2024/LD-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tiền công dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp dân sự giữa bà Đ và công ty T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger