Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 324/2023/HS-ST

Ngày: 29-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Anh Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Nguyễn Phước Trinh;
  • 2/ Bà Phạm Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Chung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 và 29 tháng 12 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 266/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 304/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Trần Văn V, sinh năm: 1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi thường trú: Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện nay: Khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T (chết) và bà Đào Thị N, sinh năm: 1969; anh, chị, em ruột: 02 người kể cả bị cáo; vợ: Danh Thị Mỹ Đ, sinh năm: 1992; con: 02 người, sinh năm 2017 và sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Năm 2016, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 376/2016/HS-PT. Ngày 04/7/2017 chấp hành xong.
  • - Năm 2019, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy Đ1 thời hạn 15 (mười lăm) tháng theo Quyết định số: 216/QĐ-TA ngày 08/5/2019. Ngày 30/10/2020 chấp hành xong trở về địa phương.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/5/2023, chuyển tạm giam từ ngày 27/5/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Họ và tên: Huỳnh Thị P, sinh năm: 1997 tại tỉnh Tây Ninh.

Nơi thường trú: Tổ D, Khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nơi ở hiện nay: Khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V1 (chết) và bà Huỳnh Thị H, sinh năm: 1976; anh, chị, em ruột: Không; chồng: Không xác định; con: 01 người sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/5/2023, chuyển tạm giam từ ngày 26/5/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3/ Họ và tên: Nguyễn Anh V2, sinh năm: 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi thường trú: Ấp M, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện nay: Khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1960 và bà Nguyễn Thị Kim V3, sinh năm: 1961; anh, chị, em ruột: Không; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/5/2023, chuyển tạm giam từ ngày 27/5/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4/ Họ và tên: Nguyễn Thế L, sinh năm: 1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi thường trú: Ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện nay: Như trên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1960 và bà Lê Thị X, sinh năm: 1960; anh, chị, em ruột: 03 người kể cả bị cáo; vợ: Nguyễn Kim H2; con: Không; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Năm 2011, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xử phạt 08 (tám) năm tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số: 160/2011/HS-ST ngày 26/7/2011. Ngày 24/01/2017 chấp hành xong trở về địa phương.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 18/5/2023, chuyển tạm giam từ ngày 27/5/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

  • 1/ Ông Võ Nguyên T1, sinh năm: 2002; địa chỉ: Số A, Đường F, Tổ E, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
  • 2/ Ông Huỳnh Quốc V4; sinh năm: 2000; địa chỉ: Số G Quốc lộ B, Tổ F, ấp M, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn V, Huỳnh Thị PNguyễn Anh V2 là bạn bè quen biết ngoài xã hội và đều có sử dụng trái phép chất ma tuý. V và P thuê nhà trọ sống chung như vợ chồng tại khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Tại đây, V phân công cho V2 và P mỗi người thực hiện một công việc để bán ma túy cho các con nghiện. Để bán được ma túy, V dùng số điện thoại 0332.679.xxx liên lạc với người mua và thỏa thuận, hẹn địa điểm giao nhận tiền và chất ma túy, cụ thể:

Vào đầu tháng 05 năm 2023, V đã liên lạc với H3 (chưa rõ lai lịch) hỏi mua 1.500.000 đồng chất ma túy mang về nhà sử dụng và bán lại cho người khác. Đến ngày 07 tháng 5 năm 2023, V rủ V2 cùng tham gia mua bán trái phép chất ma tuý. V trả công bằng cách thuê phòng trọ tại khu phố S, phường A, thị xã T cho V2 ở miễn phí và cho tiền tiêu xài, V2 đồng ý. V giao cho V2 01 gói ma túy đá và dụng cụ gồm cân điện tử, gói nylon, kéo, đoạn ống nhựa để phân chia chất ma túy. Võ nhận gói ma túy và phân chia ra thành 10 gói ma túy nhỏ, mỗi gói có giá bán là 200.000 đồng. Theo đó, khi có người liên hệ V hỏi mua chất ma tuý, V thoả thuận hẹn địa điểm rồi gọi vào số 0367470436 kêu Võ mang chất ma túy đến điểm hẹn bán hoặc người mua trực tiếp đến phòng trọ của V để thoả thuận và giao dịch mua bán chất ma tuý. Đến ngày 15 tháng 5 năm 2023, V2 đã bán hết 10 gói ma túy cho 04 người (không rõ lai lịch) thu được số tiền 2.000.000 đồng, Võ giao lại cho V số tiền 1.000.000 đồng, còn lại 1.000.000 đồng Võ tiêu xài cá nhân.

Sáng ngày 15 tháng 5 năm 2023, V liên hệ với H3 mua 7.800.000 đồng chất ma tuý, H3 giao cho V 01 gói ma túy mang về nhà trọ phân thành 01 gói nhỏ và 01 gói lớn rồi cất giấu trong hộp điện thoại để trên bàn, trong phòng. Đến trưa cùng ngày, bị cáo V có việc đi ra ngoài thì có người thanh niên (không rõ lai lịch) liên lạc hỏi mua 200.000 đồng chất ma tuý, V đồng ý bán và kêu đến nhà trọ sẽ có người bán. Thoả thuận xong, V gọi cho P nói rõ việc bản thân đang hoạt động mua bán trái phép chất ma túy và rủ P cùng tham gia, P đồng ý. V kêu P lấy 01 gói ma tuý nhỏ trong hộp điện thoại bán cho người thanh niên đến mua và nhận số tiền 200.000 đồng. Một lúc sau, người thanh niên mua chất ma túy đến, P bán 01 gói ma tuý và nhận số tiền 200.000 đồng.

Vào khoảng 13 giờ 00 ngày 17 tháng 5 năm 2023, V tiếp tục gọi vào số điện thoại 0842.974.xxx gặp K (chưa rõ lai lịch) hỏi mua 7.800.000 ma túy đá, K đồng ý bán và kêu gặp H3 (chưa rõ lai lịch) để giao nhận tiền và chất ma túy, V đồng ý. Đến 14 giờ 00 cùng ngày, V lấy gói ma tuý mua vào ngày 15 tháng 5 năm 2023, phân thành 02 gói lớn và 01 gói nhỏ. Vương cất giấu 01 gói lớn và 01 gói nhỏ vào trong hộp điện thoại để trên bàn, trong phòng. Gói ma túy lớn còn lại, V mang đến giao cho V2. Trên đường đi, có người thanh niên (không rõ lai lịch) hỏi mua 200.000 đồng chất ma tuý, V đồng ý bán và kêu đến nhà trọ gặp P để giao nhận tiền và chất ma tuý. Thoả thuận xong, V gọi kêu P lấy gói ma tuý nhỏ trong hộp điện thoại bán cho người thanh niên đến mua và nhận số tiền 200.000 đồng, P đồng ý. Một lúc sau, người thanh niên mua chất ma túy đến, P bán 01 gói ma túy và nhận 200.000 đồng. V giao chất ma tuý cho V2 xong rồi về nhà tại xã T, huyện C thăm gia đình. Có chất ma tuý, V2 mang lên gác phân thành 11 gói cất giấu vào trong hộp giấy. Một lúc sau, V điện thoại kêu Võ mang 01 gói ma túy đến khu vực chợ S thuộc phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh bán cho người thanh niên tên N1 (không rõ lai lịch) với giá 200.000 đồng. V2 đồng ý và mang 01 gói ma túy đi bán cho N1 rồi quay về phòng cho đến khi lực lượng Công an đến khám xét thu giữ 10 gói ma túy nêu trên.

Trước đó vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 17 tháng 5 năm 2023, H3 điện thoại lại thông báo cho V biết đã có chất ma túy và hẹn gặp tại Cầu Đ thuộc xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, V đồng ý. Thỏa thuận xong, V gọi điện thoại cho P đi đến điểm hẹn gặp H3 mua chất ma túy, P đồng ý. V về nhà trọ giao cho P số tiền 8.000.000 đồng. P nhận tiền và điều khiển xe máy biển số 59L2-563.11 đến điểm hẹn gặp và giao cho người thanh niên bán ma túy số tiền 8.000.000 đồng, nhận lại 01 bịch nylon màu đen bên trong có 01 gói nylon chứa chất ma tuý cất giấu tại chỗ để chân rồi điều khiển xe đi về. Khi đi đến Đường F thuộc ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an phát hiện bắt quả tang. Cũng trong khoảng thời gian này, V đang ở nhà trọ thì có Nguyễn Thế L gọi hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá. V đồng ý bán và hẹn gặp tại nhà trọ. Một lúc sau, L điều khiển xe gắn máy biển số 59Y3-384.24 đến giao cho V số tiền 200.000 đồng. V lấy gói ma tuý trong hộp điện thoại phân thành 01 gói nhỏ và 01 gói lớn. Gói nhỏ bán cho bị cáo L còn gói lớn V tiếp tục cất giấu vào trong hộp điện thoại. Lực cất giấu gói ma túy vào trong ốp lưng điện thoại thì bị lực lượng Công an huyện C đến kiểm tra phát hiện thu giữ.

Vật chứng vụ án: Đã nhập kho vật chứng (BL: 237)

- Thu giữ của Huỳnh Thị P (BL: 77)

  • + 01 bịch nylon màu đen bên trong chứa 01 gói nylon chứa tinh thể không màu;
  • + 01 điện thoại di động hiệu Oppo có số Imeil: 869945066926573; Imei2: 869945066926565;
  • + 01 xe mô tô biển số: 59L2-563.11, có số khung 5813GY378516, số máy: JF66E0742735.

- Thu giữ của Trần Văn V (BL: 95)

  • + 01 hộp giấy;
  • + 01 cân điện tử;
  • + 03 đoạn ống nhựa có đầu vát nhọn;
  • + 01 đoạn ống hút nhựa;
  • + 03 gói nylon bên trong không chứa gì;
  • + 02 gói nylon bên trong chứa tinh thê không màu;
  • + 01 xe mô tô biển số: 70D1-182.06, có số khung RLCS5C641DY084963, số máy: 5C641084974.
  • + 01 điện thoại di động hiệu Oppo có số Imeil: 860777053865178;
  • + Tiền Ngân hàng N3: 200.000 đồng

- Thu giữ của Nguyễn Anh V2 (BL: 96)

  • + 30 gói nylon bên trong không chứa gì;
  • + 01 hộp giấy;
  • + 01 đoạn ống nhựa có đầu vát nhọn;
  • + 01 cân điện tử;
  • + 01 hộp nhựa bên trong có 10 gói nylon chứa tinh thể không màu;
  • + 01 cái kéo, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy;
  • + 01 điện thoại di động hiệu Oppo có số Imeil: 869904054935575;
  • + 01 xe gắn máy biển số 70S1-6557 có số khung VTTDCH024TT-000570, số máy: VTTJL1P52FMH-C000570.
  • + 01 xe gắn máy biển số 70M2-6260 có số khung RLGKA12CD9D022706, số máy: VMVT3AD022706.

- Thu giữ của Nguyễn Thế L. (BL: 95)

  • + 01 gói nylon chứa tinh thể không màu;
  • + 01 điện thoại đi động hiệu S1 có số Imeil: 356825/07/150310/6;
  • + 01 xe gắn máy biển số 59Y3-384.24 có số khung RLCE55P10BY039432, số máy: 55P1039414.

Kết quả trưng cầu giám định số 5341/KL-KTHS, ngày 26 tháng 5 năm 2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H giám định chất ma túy: (BL: 235) .

  • Gói 01: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 13,4422 gam, loại Methamphetamine, thu giữ của P.
  • Gói 02: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 4,7926 gam, loại Methamphetamine, thu giữ của Vương.
  • Gói 03: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m3 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2510 gam, loại Methamphetamine thu giữ của L.
  • Gói 04:
    • + Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m4.1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 10,6251 gam, loại Methamphetamine, thu giữ của V2.
    • +Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m4.2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,9771 gam, không tìm thấy ma túy, thu giữ của V2.

Trong quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo P, V, V2L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Tại phiên tòa hôm nay:

Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình và đồng ý với Kết luận giám định số: 5341/KL-KTHS, ngày 26 tháng 5 năm 2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H.

Bản cáo trạng số: 249/CT-VKS.CC ngày 23/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử các bị cáo Trần Văn V, Huỳnh Thị P, Nguyễn Anh V2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Nguyễn Thế L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo như bản cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Văn V từ 14 (mười bốn) đến 15 (mười lăm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Huỳnh Thị P từ 12 (mười hai) đến 13 (mười ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Anh V2 từ 10 (mười) đến 11 (mười một) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thế L từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Đối với các đối tượng K sử dụng sim số 0842974939, H3 bán trái phép chất ma túy cho V, P chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, xử lý sau.

Các bị cáo Trần Văn V, Huỳnh Thị P, Nguyễn Anh V2Nguyễn Thế L không tranh luận, không tự bào chữa.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi sai trái của mình, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng 249/CT-VKS-CC ngày 23/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ có tại hồ sơ. Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 17 tháng 5 năm 2023 tại Đường F ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Huỳnh Thị P đang tàng trữ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 13,4422 gam ma túy, loại Methamphetamine, số ma túy này P đi lấy là do sự phân công của V với mục đích để bán cho người khác thì bị bắt quả tang. P đã có hành vi giúp sức cho V bán trái phép chất ma túy được 02 lần. Qua khám xét khẩn cấp chỗ ở của P, lực lượng Công an phát hiện Trần Văn V đang tàng trữ 02 gói nylon chứa tinh thể không màu đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,7926 gam ma túy, loại Methamphetamine mục đích để bán cho người khác. Nguyễn Anh V2 đang tàng trữ 09 gói nylon chứa tinh thể không màu đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 10,6251 gam ma túy, loại Methamphetamine mục đích đê bán cho người khác. V2 đã có hành vi giúp sức cho V bán trái phép chất ma túy được 11 lần. Nguyễn Thế L đang tàng trữ 01 gói nylon chứa tinh thể không màu đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,2510 gam ma túy, loại Methamphetamine mua của V mục đích để sử dụng. (theo Kết luận giám định số: 5341/KLGĐ-MT ngày 26/5/2023). Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố các bị cáo Trần Văn V, Huỳnh Thị P, Nguyễn Anh V2Nguyễn Thế L là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo V, P, V2 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Ma túy là chất gây nghiện, khi sử dụng vào cơ thể sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của con người nên Nhà nước có chính sách quản lý độc quyền và nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, sử dụng, mua bán chất ma tuý và chế phẩm ma tuý. Các bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo V, P, V2 vì không có việc làm ổn định, để có tiền tiêu xài cá nhân và bị cáo L vì để thỏa mãn cơn nghiện mà các bị cáo đã vi phạm pháp luật.

Các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bất chấp mọi hậu quả kể cả sự trừng trị của pháp luật. Hành vi của các bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự tại địa phương, là mầm mống phát sinh các tội phạm, tệ nạn xã hội khác và tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm minh cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo và giáo dục các bị cáo trở thành người tốt cho xã hội đồng thời răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của các bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.

[3] Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Về nhân thân:

  • - Bị cáo Trần Văn V: Vào năm 2016, bị tuyên phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản và đã chấp hành xong hình phạt ngày 04/7/2017. Năm 2019, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
  • - Bị cáo Nguyễn Thế L: Vào năm 2011, bị tuyên phạt 08 năm tù về tội cướp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt ngày 24/01/2017.
  • - Bị cáo Huỳnh Thị P và bị cáo Nguyễn Anh V2 chưa có tiền án, tiền sự.

[6] Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251, khoản 4 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét thấy các là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng vụ án:

  • - Đối với 04 (bốn) gói niêm phong mang số vụ 1136/2023 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên; 33 gói nylon bên trong không chứa gì; 02 hộp giấy; 04 đoạn ống nhựa đầu vạt nhọn; 01 hộp nhựa, 01 kéo, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 đoạn ống nhựa: Xét thấy đây là những vật chứng không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Đối với 02 chiếc cân điện tử của V2V dùng để phân chia ma túy. Xét thấy, đây là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối 01 điện thoại di động hiệu Oppo có số Imeil: 869945066926573; Imei2: 869945066926565 của bị cáo P. Xét thấy, đây là vật chứng bị cáo P sử dụng liên lạc mua bán trái phép ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo có số Imeil: 860777053865178 của bị cáo V. Xét thấy, đây là vật chứng bị cáo V sử dụng liên lạc mua bán trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo có số Imeil: 869904054935575 của bị cáo V2. Xét thấy, đây là vật chứng bị cáo V2 sử dụng liên lạc mua bán trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại đi động hiệu S1 có số Imeil: 356825/07/150310/6 của bị cáo L. Xét thấy, đây là vật chứng bị cáo L sử dụng liên lạc để mua chất ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với 01 xe gắn máy biển số 59Y3-384.24, số khung RLCE55P10BY039432, số máy 55P1-039414 đã qua sử dụng. Qua xác minh, xác định đây là xe gắn máy do anh Nguyễn Văn H4 (sinh năm: 1986; nơi thường trú: ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) mua và đứng tên đăng ký chủ sở hữu đã bán lại cho bị cáo L nhưng không làm giấy mua bán, sang tên chủ sở hữu. Bị cáo L mua xe này để đi lại và làm phương tiện đi mua chất ma tuý. Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của của bị cáo V là tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy cho bị cáo L có được nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với các xe gắn máy còn lại:
    • + 01 xe gắn máy biển số 59L2-563.11, có số máy JF66EO742735, số khung 5813GY378516 đã qua sử dụng. Bị cáo P đã mua lại xe này của một người (không rõ lai lịch) để đi lại và làm phương tiện đi mua chất ma tuý. Qua xác minh, xác định đây là xe gắn máy do anh Nguyễn Minh P1 (sinh năm: 1985; nơi thường trú: B B, Phường H, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh) mua và đứng tên đăng ký chủ sở hữu nhưng đã bán lại cho người khác (không rõ lai lịch). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra thông báo tìm chủ sở hữu xe gắn máy biển số 59L2-563.11 nhưng đến nay chưa có cá nhân, tổ chức nào đến liên hệ giải quyết.
    • + 01 xe gắn máy biển số 70D1-182.06, số khung RLCS5C64DY084963, số máy 5C641084974 đã qua sử dụng. Qua xác minh, xác định đây là xe gắn máy do anh Trần Nam D (sinh năm: 1992; nơi thường trú: Ấp G, xã N, huyện C, tỉnh Tây Ninh) mua và đứng tên đăng ký chủ sở hữu nhưng đã bán lại cho người thanh niên (không rõ lai lịch). Bị cáo V mua xe này của một người (không rõ lai lịch) làm phương tiện đi lại, không liên quan đến vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra thông báo tìm chủ sở hữu xe gắn máy biển số 70D1-182.06 nhưng đến nay chưa có cá nhân, tổ chức nào đến liên hệ giải quyết.
    • + 01 xe gắn máy biển số 70S1-6557, số khung VTTDCH024TT*000570*, số máy VTTJL1P52FMHC000570 đã qua sử dụng. Bị can V2 đã mua xe này của một người (không rõ lai lịch) để đi lại và làm phương tiện đi bán chất ma tuý. Qua xác minh, xác định đây là xe gắn máy do anh Nguyễn Văn N2 (Sinh năm: 1978, nơi thường trú: T26, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh) mua và đứng tên đăng ký chủ sở hữu nhưng đã bán lại cho người đàn ông (không rõ lai lịch). Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra thông báo tìm chủ sở hữu xe gắn máy biển số 7051-6557 nhưng đến nay chưa có cá nhân, tổ chức nào đến liên hệ giải quyết.
    • + 01 xe gắn máy biển số 70M2-6260, số khung RLGKA12CD9D022706, số máy VMVT3A-D022706 đã qua sử dụng. Bị can V2 mua xe này của một người (không rõ lai lịch) để đi lại và làm phương tiện đi bán chất ma tuý. Qua xác minh, xác định đây là xe gắn máy do ông Đỗ Thành H5 (Sinh năm: 1959, nơi thường trú: khu phố G, thị trấn T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh) mua và đứng tên đăng ký chủ sở hữu nhưng đã bán lại cho người đàn ông (không rõ lai lịch). Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra thông báo tìm chủ sở hữu xe gắn máy biển số 70M2-6260 nhưng đến nay chưa có cá nhân, tổ chức nào đến liên hệ giải quyết.
  • Tiếp tục thông báo truy trìm chủ sở hữu hợp pháp của các chiếc xe nêu trên để giao trả cho chủ sở hữu; nếu hết thời hạn thông báo truy tìm mà không có chủ sở hữu hợp pháp đến nhận thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước;
  • Đối với số tiền 2.000.000 đồng của bị cáo V2 thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy (trong đó bị cáo V2 đã đưa 1.000.000 đồng cho bị cáo V), bị cáo V, bị cáo V2 tự nguyện nộp lại nên Hội đồng xét xử xét thấy cần truy thu số tiền 1.000.000 đồng từ bị cáo V2 và 1.000.000 đồng từ bị cáo V nộp ngân sách nhà nước.
  • Đối với số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) của bị cáo P thu lợi bất chính từ việc bán trái phép chất ma túy, bị cáo P tự nguyện nộp lại nên Hội đồng xét xử xét thấy cần truy thu số tiền trên của bị cáo P nộp ngân sách nhà nước.
  • Đối với số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) của bị cáo V thu lợi bất chính từ việc bán trái phép chất ma túy cho người tên N1 (không rõ lai lịch) (do V2 giao ma túy cho N1N1 cấn trừ nợ với V), bị cáo V tự nguyện nộp lại nên Hội đồng xét xử xét thấy cần truy thu số tiền trên của bị cáo V nộp ngân sách nhà nước.

[8] Về những vấn đề khác:

Đối với các đối tượng K sử dụng sim số 0842974939, H3 bán trái phép chất ma túy cho V, P chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, xử lý sau là phù hợp. Viện kiểm sát không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xét.

[9] Về nghĩa vụ chịu án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; cần buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Điều luật, tội danh và hình phạt:

1.1. Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Trần Văn V 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2023.

1.2. Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị P 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2023.

1.3. Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh V2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh V2 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2023.

1.4. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2023.

2. Xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021.

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 04 (bốn) gói mang số vụ 1136/2023 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên;
  • + 30 (ba mươi) gói nylon bên trong không chứa gì;
  • + 02 (hai) hộp giấy;
  • + 01 (một) đoạn ống nhựa đầu vạt nhọn;
  • + 01 (một) hộp nhựa;
  • + 01 (một) kéo;
  • + 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy;
  • + 03 (ba) đoạn ống nhựa đầu vạt nhọn;
  • + 01 (một) đoạn ống nhựa;
  • + 03 (ba) gói nylon không chứa gì;

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

  • + 01 xe gắn máy biển số 59Y3-384.24, số khung RLCE55P10BY039432, số máy 55P1-039414 đã qua sử dụng;
  • + 02 (hai) cân điện tử;
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo có số Imeil: 869945066926573; Imei2: 869945066926565;
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo có số Imeil: 860777053865178;
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo có số Imeil: 869904054935575;
  • + 01 (một) điện thoại đi động hiệu S1 có số Imei1: 356825/07/150310/6.
  • + 01 (một) xe gắn máy biển số 59Y3-384.24, số khung RLCE55P10BY039432, số máy 55P1-039414 đã qua sử dụng.
  • + Số tiền thu lợi bất chính 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) của bị cáo Trần Văn V.

- Tiếp tục thông báo truy trìm chủ sở hữu hợp pháp của các chiếc xe gắn máy dưới đây để giao trả cho chủ sở hữu; nếu hết thời hạn thông báo truy tìm mà không chủ sở hữu hợp pháp đến nhận thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước bao gồm:

  • + 01 (một) xe gắn máy biển số 59L2-563.11, có số máy JF66EO742735, số khung 5813GY378516 đã qua sử dụng;
  • + 01 (một) xe gắn máy biển số 70D1-182.06, số khung RLCS5C64DY084963, số máy 5C641084974 đã qua sử dụng;
  • + 01 (một) xe gắn máy biển số 70S1-6557, số khung VTTDCH024TT*000570*, số máy VTTJL1P52FMHC000570 đã qua sử dụng;
  • + 01 (một) xe gắn máy biển số 70M2-6260, số khung RLGKA12CD9D022706, số máy VMVT3A-D022706 đã qua sử dụng.

Các vật chứng đang quản lý tại Kho vật chứng của Công an huyện C theo Lệnh nhập kho vật chứng số 242/LNK-CSĐT-MT ngày 12/10/2023, Phiếu nhập kho vật chứng số 242/PNK ngày 12/10/2023 (Bút lục 237, 237A, 238)

  • Truy thu số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Trần Văn V 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) nộp ngân sách nhà nước.
  • Truy thu số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Nguyễn Anh Võ 1 (một triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
  • Truy thu số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Huỳnh Thị P 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) nộp ngân sách nhà nước.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo Trần Văn V, Huỳnh Thị P, Nguyễn Anh V2Nguyễn Thế L; mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THA DS huyện Củ Chi;
  • - Các bị cáo, đương sự;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ. (2 bản)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Dương Anh Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 324/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 324/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Điều luật, tội danh và hình phạt: 1.1. Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Xử phạt bị cáo Trần Văn V 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2023. 1.2. Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị P 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/5/2023. 1.3. Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh V2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh V2 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2023. 1.4. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thế L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger