Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 324/2024/HNGĐ-ST

Ngày 27-11-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Nguyễn Thị Luyến
  • Ông Nguyễn Thanh Hải

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 291/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 301/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Vũ Đình C, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn B, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1992; ĐKTT: Thôn F, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: 55 Cann Stree B, Australia; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn anh Vũ Đình C trình bày:

Anh C và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 25/10/2010. Thời gian đầu anh chị chung sống hoà thuận và có 02 con chung, sau xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống, thường xuyên cãi nhau, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Đến đầu năm 2024, chị H du học tại Australia (Úc); từ đó đến nay, anh chị sống ly thân, mỗi người một nơi, chị H cũng không thường xuyên liên lạc về gia đình nên tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Đến nay vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm nhau, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh C đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hoàng Thị H.

Về con chung: Anh C và chị H có 02 con chung tên là Vũ Đình H1, sinh ngày 28/5/2011 và Vũ Đình H2, sinh ngày 17/10/2018. Hiện nay chị H đang sinh sống tại Australia nên anh C đề nghị Tòa án giao hai con cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh C và chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai đã được hợp thức hóa lãnh sự, bị đơn chị Hoàng Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân, quá trình đăng ký kết hôn, quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian anh chị sống ly thân đúng như anh C trình bày. Nay anh C có đơn ly hôn với chị H, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn được nên chị đồng ý ly hôn với anh C.

Về con chung: Chị và anh C có 02 con chung tên là Vũ Đình H1, sinh ngày 28/5/2011 và Vũ Đình H2, sinh ngày 17/10/2018. Hiện nay chị H đang sinh sống tại Australia nên chị đề nghị Tòa án giao hai con cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị và anh C tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, anh Vũ Đình C và chị Hoàng Thị H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do đương sự vắng mặt, công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Anh Vũ Đình C có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung với chị Hoàng Thị H nên quan hệ pháp luật trong vụ án là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Tại thời điểm thụ ly vụ án, nguyên đơn anh Vũ Đình C cư trú tại huyện T, thành phố Hải Phòng, bị đơn chị Hoàng Thị H có đăng ký thường trú tại Hải Phòng, hiện đang sinh sống tại Úc. Do vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39s; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, anh Vũ Đình C và chị Hoàng Thị H đều vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Lời khai của nguyên đơn, bị đơn và các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện anh Vũ Đình C và chị Hoàng Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 25/10/2010. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh Vũ Đình C và chị Hoàng Thị H là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, sống ly thân từ năm 2014 đến nay, không quan tâm đến nhau về tình cảm và kinh tế, đều đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu của anh Vũ Đình C được ly hôn chị Hoàng Thị H.

[4] Về con chung: Anh Vũ Đình C và chị Hoàng Thị H có 02 con chung tên là Vũ Đình H1, sinh ngày 28/5/2011 và Vũ Đình H2, sinh ngày 17/10/2018. Xét thấy, trong thời gian chị H đi nước ngoài, anh C là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con và các con có nguyện vọng được ở với anh C. Quá trình giải quyết vụ án, anh C và chị H đều đề nghị giao hai con Vũ Đình H1, Vũ Đình H2 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật, đảm bảo được mọi quyền lợi của con chung nên cần được chấp nhận. Do đó, cần căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử: Giao hai con Vũ Đình H1, sinh ngày 28/5/2011 và Vũ Đình H2, sinh ngày 17/10/2018 cho anh Vũ Đình C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử tạm thời không xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Anh Vũ Đình C và chị Hoàng Thị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Vũ Đình C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Anh Vũ Đình C và chị Hoàng Thị H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, điểm d khoản 1 Điều 469, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 9; Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Đều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Vũ Đình C, cụ thể:
    • - Về quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Đình C được ly hôn chị Hoàng Thị H.
    • - Về con chung: Giao hai con tên Vũ Đình H1, sinh ngày 28/5/2011 và Vũ Đình H2, sinh ngày 17/10/2018 cho anh Vũ Đình C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh Vũ Đình C và chị Hoàng Thị H tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử tạm thời không xem xét, giải quyết.

    • - Về tài sản chung: Anh Vũ Đình C và chị Hoàng Thị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Vũ Đình C phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000814 ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Vũ Đình C đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo:

    Anh Vũ Đình Cường được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Chị Hoàng Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND xã Kiền Bái, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng (ĐKKH ngày 25/10/2010);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HCTP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 324/2024/HNGĐ-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 324/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn C-H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger