|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 324/2024/HSST Ngày 14/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị H
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Đắc T
- Ông Nguyễn Văn C
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Trang – Thư ký Toà án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Dáng Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 14/11/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 289/2024/TLST-HS ngày 01/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 305/QĐXXST-HS ngày 04/11/2024 đối với bị cáo:
Vũ Trung N, sinh năm 2000; Hộ khẩu thường trú: Xóm H, thôn C, Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông: Vũ Thanh N1 và bà Lương Thị Thanh N2; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền sự: Không; Tiền án: 03 tiền án.
Nhân thân:
- Bản án 03/2017/HSST ngày 27/10/2017, Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt 03 tháng 14 ngày (được trả tự do tại phiên tòa) về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản là 12.000.000 đồng, phạm tội ngày 14/07/2017, khi 17 tuổi 2 tháng 14 ngày) - Được coi là không có án tích.
- Bản án 125/2018/HSST ngày 03/07/2018, Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, Sơn La xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 5.470.000 đồng, phạm tội ngày 18/04/2018, khi 17 tuổi 11 tháng 17 ngày) Được coi là không có án tích.
- Bản án số 26/2018/HSST ngày 25/09/2018, Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, Yên Bái xử phạt 1 năm 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 14.440.000 đồng, phạm tội ngày 20/3/2018, khi 17 tuổi 10 tháng 15 ngày) và tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (trị giá tài sản 9.000.000 đồng, phạm tội ngày 16/03/2018, khi 17 tuổi 10 tháng 11 ngày). Tổng hợp hình phạt với Bản án số 125/2018/HSST ngày 03/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, Sơn La buộc phải chấp hành hình phạt chung là 2 năm 3 tháng tù. Ra trại ngày 18/07/2020 - Được coi là không có án tích.
Tiền án:
- Bản án số 31/2021/HSST ngày 09/06/2021 Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu xử phạt 14 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 7.300.000 đồng, phạm tội ngày 30/11/2020).
- Bản án số 01/2021/HSST ngày 19/10/2021 Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, Điện Biên xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá 4.200.000 đồng, phạm tội ngày 22/03/2021). Tổng hợp hình phạt với bản án số 31/2021/HSST ngày 09/6/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu buộc N phải chấp hành 32 tháng tù. Ra trại ngày 04/11/2023.
- Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 30/07/2024, Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 2 năm 3 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản là 30.500.000 đồng).
Bị cáo tạm bị tạm giam từ ngày 25/02/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 - Công an thành phố H, SG: 1169E2/21.
Phạm tội lần này là Tái phạm
Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Lê Thị T, sinh năm: 1983
HKTT: Khu 12, xã Đan Thượng, huyện Hạ Hòa, TP Hà Nội.
Nơi ở: Số 47, ngõ 282, phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phan Đức C, sinh năm: 1972.
- Chị Hà Thị M, sinh năm: 1983.
HKTT: Số nhà B Đường L, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt.
HKTT: Số A, ngõ C L, phường P, quận Đ, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 11/2023, Vũ Trung N sau khi chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương và do không có công ăn việc làm nên N đã lên Hà Nội để tìm việc. Trong thời gian ở Hà Nội, N xin làm nhân viên phục vụ tại quán karaoke ở quận H thì quen biết và có quan hệ tình cảm với chị Đặng Thị Á (Sinh năm: 2002; HKTT: Đ, TP H, Quảng Ninh), sau khi làm được khoảng 01 tháng thì N nghỉ việc về quê. Đến ngày 12/02/2024, N tiếp tục lên Hà Nội để tìm việc nhưng do không có nơi ở cố định nên N và chị Á đã thuê nhà nghỉ A tại phường M để nghỉ. Sau đó, do không tìm được việc làm nên N thường ngồi chơi điện tử tại các quán internet. Khoảng 22 giờ ngày 21/02/2024, N đang đi bộ lang thang trên đường P thì gặp chị Lê Thị T (Sinh năm: 1983; HKTT: N, thị trấn C, huyện C, Hải Dương), chị T có gạ N mua dâm với giá 100.000 đồng/lượt thì N đồng ý sau đó cả hai đi đến bãi đất trống trước cổng trụ sở Tổng cục B, Bộ Q tại phường M, quận N, Hà Nội để mua bán dâm. Sau khi mua bán dâm xong, N đi về. Ngày 22/02/2024, N tiếp tục đi chơi điện tử tại quán internet cho đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì đi về. Trên đường về, N lại gặp chị T trên đường P và chị T tiếp tục gạ N mua dâm nhưng N từ chối do không đủ tiền. Tuy nhiên, sau khi nhìn thấy chị T đang điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xanh đen, BKS: 19F1-400.78 thì N đã nảy sinh ý định cướp xe máy trên của chị T để bán lấy tiền tiêu xài nên N đã đồng ý mua dâm chị T. Chị T sau đó đi cùng N đến bãi đất trống hôm trước mà N và chị T đã mua bán dâm và dựng xe máy dưới lòng đường sát vỉa hè (bên phải hướng ra cổng doanh trại quân đội) rồi cầm túi xách nhỏ màu đen cùng N đi vào bên trong để quan hệ tình dục. Đến nơi, chị T đứng quay lưng về phía N chuẩn bị cởi quần, lúc này N quan sát xung quanh không có ai nên lợi dụng lúc chị T cúi người xuống để cởi quần và không để ý, N đã nhặt nửa viên gạch (dạng gạch đỏ hình chữ nhật) và đập vào lưng chị T nhằm mục đích đánh ngất chị T để lấy tài sản nhưng đúng lúc này, chị T ngẩng lên nên N đã đập trúng vào đầu của chị T khiến viên gạch văng khỏi tay rơi xuống đất. Chị T bị bất ngờ và bị choáng nên đã kêu to: “Cướp...Cướp” thì N tiếp tục dùng tay phải đấm mạnh ba cái vào bụng và đấm 1 cái vào mặt của chị T làm chị T ngã bệt xuống đất. Lúc này, N thấy chị T không chống cự nữa nên đã lục túi xách của chị T lấy đi 01 điện thoại Nokia màu xanh sau đó tiếp tục lục túi quần bên phải của chị T lấy chiếc chìa khóa của xe máy Honda Vision, BKS: 19F1-400.78 rồi đi bộ ra lấy xe máy và điều khiển xe bỏ đi đến khu vực quảng trường sân vận động M1 thì dừng lại, N mở cốp xe kiểm tra thì thấy bên trong cốp xe có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu trắng nên đã tắt nguồn điện thoại rồi tiếp tục điều khiển xe máy đi đến khu vực phường L, H thì dừng lại mở máy điện thoại Iphone rồi thử nhập mật khẩu để mở điện thoại. Do máy có mật khẩu bốn số, Ngọc đoán chị T sinh năm 1983 nên thử đăng nhập số 1983 thì mở được khóa điện thoại. Sau đó, N đã nghĩ cách bán xe và sử dụng tài khoản mạng xã hội facebook của N lên mạng xã hội tìm và nhắn tin cho tài khoản “Thảo Vy” với nội dung cần bán chiếc xe Honda Vision do N vừa cướp được của chị T, rồi chụp ảnh xe gửi cho “Thảo Vy”, N báo giá 7.000.000 đồng thì “Thảo Vy” đồng ý mua xe và gửi cho N số điện thoại 0877.988.xxx để liên hệ và hẹn N mang xe đến ngõ A đường N để bán. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 23/02/2024, khi N đến nơi hẹn thì gặp 01 nam thanh niên khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1m70 (tự xưng là người sử dụng tài khoản “Thảo Vy”). Tại đây, nam thanh niên trên đồng ý mua xe và đưa 7.000.000 đồng tiền mặt cho N. Sau khi bán xe, N lo sợ bị phát hiện nên thay quần áo đã mặc khi gây án và đi thuê nhà nghỉ T2 (địa chỉ số C ngõ B đường L, T, Đ, Hà Nội) rồi gọi điện thoại cho Nguyễn Thành Đ (Sinh năm: 1998; HKTT: thôn G, V, Đ, Phú Thọ), là bạn mới quen nhờ đón bạn gái là chị Đặng Thị Á đến nhà nghỉ T2. Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/02/2024, N đem chiếc điện thoại Iphone 12 promax màu trắng chiếm đoạt được của chị T đến cửa hàng C2 tại số B đường L, T, Đ, Hà Nội gặp anh Phan Đức C (SN 1972; HKTT: số B đường L, T, Đ, Hà Nội) để cầm cố với giá 9.000.000 đồng. Số tiền bán xe và cầm cố điện thoại, N đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Chị T sau khi bị N đánh và bị ngất nên sau khi tỉnh dậy đã tự đi khám thương và đến 10 giờ ngày 23/02/2024, chị Lê Thị T đã đến Công an phường M trình báo sự việc bị cướp tài sản.
Ngày 25/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N trên cơ sở kết quả điều tra, đã ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Vũ Trung N.
Tiến hành dẫn giải N: Cơ quan điều tra đã xác định được nơi N cướp tài sản, nơi bán xe Honda Vision, BKS: 19F1-400.78 và nơi cầm cố điện thoại Iphone 12 promax và đã thu giữ được vật chứng.
Tại Cơ quan điều tra Vũ Trung N khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và khai chiếc điện thoại di động Nokia 1200 màu xanh (lắp sim số: 0971707218) chiếm đoạt được của chị T, N cất trong túi áo và đã làm rơi trong quá trình di chuyển trên đường, N không rõ rơi ở đâu.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xanh đen, BKS: 19F1-400.78 (do chị Hà Thị M giao nộp);
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu trắng số Imei 356715117737166, sim số: 0985596383 (do anh Phan Đức C giao nộp); và nửa viên gạch màu đỏ.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 56/KLĐGTS ngày 11/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND quận N, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax 256Gb, màu trắng, imei: 356715117737166, đã qua sử dụng trị giá 11.000.000 đồng; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS: 19F1-400.78, số khung: RLHJK0319NZ043791, số máy: JK03E5380779, đăng ký lần đầu ngày 01/06/2022, đã qua sử dụng, trị giá 25.000.000 đồng; 02 sim điện thoại số 0985.596.xxx và 0971.707.218 trị giá 50.000 đồng; 01 điện thoại Nokia 1200, màu xanh: không đủ cơ sở định giá;
Tổng trị giá tài sản mà Vũ Trung N chiếm đoạt là 36.050.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã phát hiện thu giữ chiếc xe máy Honda Vision màu xanh đen từ chị Hà Thị M (SN: 1983; HKTT: Phương Mai, Đ, Hà Nội) tại khu trọ số nhà B ngõ D đường K, H, T, Hà Nội. Tại thời điểm thu giữ, do xe máy có dấu hiệu bị tẩy xóa số khung số máy nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định số khung số máy của xe. Tại bản Kết luận giám định số 3241/KL-KTHS ngày 09/05/2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận: Xe môtô nhãn hiệu Honda Vision không đeo biển kiểm soát: Số khung hiện tại có dấu vết tác động kim loại, xác định được số khung nguyên thủy là: RLHJK0319NZ043791; Số máy hiện tại có dấu vết tác động kim loại, xác định được số máy nguyên thủy là: JK03E-?380779 (ký tự “?” không xác định được)
Tại Cơ quan điều tra, chị Hà Thị M khai chiếc xe trên do bạn trai là Nguyễn Trọng H (Sinh năm: 1997; HKTT: T, N, Hà Nội) mua, chị M không biết và không tham gia vào việc H mua xe máy trên.
Đối với thương tích của chị Lê Thị T: 01 vết rách phía sau đầu, mắt phải bị bầm tím, má phải sưng và bầm tím do bị N đánh. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định thương tích nhưng ngày 04/03/2024, chị Lê Thị T có đơn xin từ chối giám định thương tích và không yêu cầu bồi thường về dân sự với lý do vết thương nhẹ, không làm ảnh hưởng đến sức khỏe.
Đối với Nguyễn Trọng H, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và triệu tập để làm rõ hành vi liên quan nhưng do H hiện vắng mặt tại nơi cư trú, đi đâu làm gì gia đình và địa phương không biết và do quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Vũ Trung N nhận dạng H qua ảnh nhưng do N không nhận dạng được nên ngày 20/09/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách hành vi và tài liệu trong vụ án hình sự, liên quan đến Nguyễn Trọng H để tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh chủ thuê bao số điện thoại 0877.988.xxx (là số điện thoại đã liên hệ mua bán xe với N), xác định người đứng tên đăng ký số điện thoại trên là anh Hàng Thanh T1 (SN: 1992; HKTT: khu phố C, phường A, TP P, Kiên Giang). Tại Cơ quan điều tra, anh T1 khai không đăng ký, không sử dụng số điện thoại trên, không cho ai mượn căn cước để đăng ký số điện thoại trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với anh Phan Đức C, quá trình điều tra xác định khi nhận cầm cố điện thoại của Vũ Trung N, anh C không biết tài sản do N phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Đối với chị Đặng Thị Á và anh Nguyễn Thành Đ, quá trình điều tra xác định đều không biết việc N thực hiện hành vi cướp tài sản nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Đối với việc chị Lê Thị T và Vũ Trung N có hành vi mua bán dâm ngày 19/09/2024, Cơ quan Công an quận N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với chị Lê Thị T về hành vi bán dâm (mức phạt: 400.000 đồng) và xử phạt Vũ Trung N về hành vi mua dâm (Mức phạt: 1.500.000 đồng) theo quy định tại khoản 1 Điều 25 và khoản 1 Điều 24 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
Đối với xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xanh đen, BKS:19F1 - 400.78 (số khung RLHJK0319NZ043791, số máy: JK03E5380779), quá trình điều tra xác định, xe đứng tên chính chủ là chị Lê Thị T.
Ngày 16/07/2024, Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng và tiến hành trao trả 01 điện thoại Iphone 12 cho chị Lê Thị T.
Về dân sự:
Chị Lê Thị T có đơn xin lại xe máy, trường hợp nếu không được nhận lại xe máy chị T yêu cầu bị cáo bồi thường 24.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường dân sự đối với điện thoại Nokia chưa thu hồi được; anh Phan Đức C không yêu cầu N bồi thường số tiền 9.000.000 đồng đã cầm cố điện thoại.
Lời khai nhận tội của Vũ Trung N phù hợp lời khai bị hại; người liên quan; vật chứng đã thu giữ và các tài liệu điều tra khác.
Tại bản cáo trạng số 288/CT-VKSNTL ngày 29/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Vũ Trung N về tội “Cướp tài sản”, theo Điểm d Khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm d Khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Trung N từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng.
Về dân sự: Chị Lê Thị T đề nghị được nhận lại chiếc xe máy Honda Vision màu xanh đen mang BKS: 19F1-400.78. Buộc bị cáo truy nộp số tiền 9.000.000 đồng hưởng lợi bất chính do hành vi cầm cố xe máy của anh C.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho chị Lê Thị T:
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xanh đen số khung: RLHJK0319NZ043791;
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
- Số tiền 9.000.000 đồng, do bị cáo hưởng lợi bất chính.
- 01 điện thoại Samsung GalaxyA03 màu đen, IMEI: 353976318018078 không lên nguồn, không kiểm tra bên trong.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 nửa viên gạch đỏ
Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 34 ngày 01 tháng 11 năm 2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra quận N và Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận:
Khoảng 21 giờ ngày 22/02/2024, tại khu vực bãi đất trống trước cổng trụ sở B, Bộ Q tại phường M, quận N, Hà Nội, Vũ Trung N đã có hành vi dùng nửa viên gạch (dạng gạch đỏ) đập vào phía lưng nhằm mục đích đánh ngất chị T để lấy tài sản tuy nhiên do chị T ngẩng đầu lên nên đã trúng vào phía sau đầu của chị T làm viên gạch rơi xuống đất, sau đó N tiếp tục dùng tay phải đấm 3 cái vào bụng, 1 cái vào mặt của chị T và chiếm đoạt của chị Lê Thị T số tài sản, gồm: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS: 19F1-400.78 (số khung: RLHJK0319NZ043791, số máy: JK03E5380779), trị giá 25.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax 256Gb, màu trắng, imei: 356715117737166 trị giá 11.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại Nokia 1200 (không thu giữ được, không đủ cơ sở định giá) kèm 02 sim điện thoại trị giá 50.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 36.050.000 đồng.
Bị cáo khai nhận tội. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax 256Gb và 01 xe máy Honda Vision BKS: 19F1-400.78 đã được thu hồi. Bị hại đã nhận lại điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax 256Gb.
[3] Hành vi của bị cáo Vũ Trung N đã cấu thành tội “Cướp tài sản”, theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Nhân thân xấu bị cáo có 05 tiền án (03 tiền án đã được xóa):
- Bản án 03/2017/HSST ngày 27/10/2017, Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt 03 tháng 14 ngày (được trả tự do tại phiên tòa) về tội Trộm cắp tài sản; Bản án 125/2018/HSST ngày 03/07/2018, Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, Sơn La xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án số 26/2018/HSST ngày 25/09/2018, Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, Yên Bái xử phạt 1 năm 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 14.440.000 đồng, phạm tội ngày 20/3/2018, khi 17 tuổi 10 tháng 15 ngày) và tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (trị giá tài sản 9.000.000 đồng, phạm tội ngày 16/03/2018, khi 17 tuổi 10 tháng 11 ngày). Tổng hợp hình phạt với Bản án số 125/2018/HSST ngày 03/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, Sơn La buộc phải chấp hành hình phạt chung là 2 năm 3 tháng tù; Bản án số 31/2021/HSST ngày 09/06/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu xử phạt 14 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án số 01/2021/HSST ngày 19/10/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, Điện Biên xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá 4.200.000 đồng, phạm tội ngày 22/03/2021). Tổng hợp hình phạt với bản án số 31/2021/HSST ngày 09/6/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu buộc N phải chấp hành 32 tháng tù. Ra trại ngày 04/11/2023. Bản án số 81/2024/HS-ST ngày 30/07/2024, Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xử phạt 2 năm 3 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản là 30.500.000 đồng). Bị cáo không coi đó là bài học mà lại tiếp tục phạm tội. Lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm.
Hành vi của các bị cáo đã gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân nên cần được xử lý nghiêm đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xem xét: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích, đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về dân sự:
Trả lại bị hại chiếc xe máy Honda Vision màu xanh đen mang BKS: 19F1-400.78.
Người liên quan không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 9.000.000 đồng, nên không xét.
[7] Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho chị Lê Thị T:
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xanh đen số khung: RLHJK0319NZ043791;
Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước:
- 01 điện thoại Samsung GalaxyA03 màu đen, IMEI: 353976318018078 không lên nguồn, không kiểm tra bên trong.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 nửa viên gạch đỏ
Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 34 ngày 01 tháng 11 năm 2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra quận N và Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội.
[8] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ theo điểm d khoản 2 Điều 168; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điểm h Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Trung N phạm tội “Cướp tài sản”
Xử phạt bị cáo Vũ Trung N 09 (Chín) năm 06 (S) tháng tù về tội: “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 02 năm 03 tháng tù tại Bản án số 81/2024-HSST ngày 30/7/2024 của Tòa án huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 11 (Mười một) năm 09 (C1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2024.
Về dân sự: Chị Lê Thị T đề nghị được nhận lại chiếc xe máy Honda Vision màu xanh đen mang BKS: 19F1-400.78. Người liên quan không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 9.000.000 đồng, nên không xét.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho chị Lê Thị T:
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xanh đen số khung: RLHJK0319NZ043791;
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- 01 điện thoại Samsung GalaxyA03 màu đen, IMEI: 353976318018078 không lên nguồn, không kiểm tra bên trong.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 nửa viên gạch đỏ.
Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 34 ngày 01 tháng 11 năm 2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra quận N và Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội.
Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Mai Thị Hương |
Xử phạt bị cáo Vũ Trung N 09 (Chín) năm 06 (S) tháng tù về tội: “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 02 năm 03 tháng tù tại Bản án số 81/2024-HSST ngày 30/7/2024 của Tòa án huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 11 (Mười một) năm 09 (C1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2024.
Về dân sự: Chị Lê Thị T đề nghị được nhận lại chiếc xe máy Honda Vision màu xanh đen mang BKS: 19F1-400.78. Người liên quan không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 9.000.000 đồng, nên không xét.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bản án số 324/2024/HSST ngày 14/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm về tội cướp tài sản
- Số bản án: 324/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
