Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 324/2024/DS-PT

Ngày: 02-8-2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa

Bà Huỳnh Thị Hồng Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tho - Kiểm sát viên.

Vào ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 298/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2024/DS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 315/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kiều D, sinh năm 1977.

    Địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Long An.

  2. Bị đơn: Ông Lê Văn C, sinh năm 1976.

    Địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Long An.

  3. Người có quyền lợi nghĩa vu liên quan: Bà Mai Thị Ngọc D1, sinh năm 1982.

    Địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: Bà Mai Thị Ngọc D1.

(Các đương sự có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03 tháng 01 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Kiều D trình bày:

Ngày 30-10-2023, bà D có cho ông C vay số tiền 160.000.0000 đồng để ông C trang trải nợ nần của vợ chồng ông C. Thời hạn vay là 01 tháng từ ngày vay, lãi suất vay hai bên có thỏa thuận theo quy định của pháp luật nhưng không ghi vào giấy vay. Giấy vay tiền do bà D viết nội dung, ông C đọc lại và ký tên, bà D đưa tiền cho ông C 01 lần với số tiền là 160.000.000 đồng. Hết thời hạn vay ông C không trả tiền, bà D nhiều lần đến gặp ông C và vợ ông C là bà Mai Thị Ngọc D1 yêu cầu trả tiền nhưng ông C và bà D1 không trả tiền cho bà D. Do đó bà D khởi kiện yêu cầu ông C và bà D1 liên đới trả cho bà D số tiền gốc vay là 160.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật với lãi suất là 1,67%/tháng từ ngày vay cho đến khi xét xử.

Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 21 tháng 3 năm 2024 và trong quá trình tố tụng bị đơn là ông Lê Văn C trình bày:

Vào năm 2020, ông C có vay tiền của bà Huỳnh Thị Kiều D nhiều lần, lần đầu vay số tiền là 30.000.000 đồng và những lần sau vay từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng, tổng cộng số tiền vay nhiều lần là 61.000.000 đồng. Mỗi lần vay đều có làm giấy vay tiền do bà D viết và ghi lãi suất là 6%/tháng, ông C có ký tên vào giấy vay tiền và các giấy vay tiền do bà D giữ. Sau khi vay hàng tháng ông C đều có trả tiền lãi cho bà D, tháng 3 năm 2023 ông C đưa cho bà D 30.000.000 đồng để trừ vào tiền gốc vay 61.000.000 đồng nhưng bà D lại trừ vào liền lãi, số tiền lãi ông C đã trả là 43.200.000 đồng, do không còn khả năng nên từ tháng 4 năm 2023 trở đi ông C ngưng đóng lãi. Từ tháng 4 năm 2023 bà D tính lãi suất 15%/tháng, tính đến ngày 30-10-2023 tổng cộng gốc và lãi là 160.000.000 đồng, bà D ghi nội dung giấy vay và kêu ông C lên nhà ký lại giấy vay, lúc đó bà D có hứa sau này bà D sẽ bớt cho vài chục triệu đồng. Thực tế ông C chỉ vay của bà D số tiền là 61.000.000 đồng để giải quyết việc riêng, vợ ông là bà D1 không biết và không liên quan đến. Ông C chỉ đồng ý trả cho bà D số tiền 61.000.000 đồng và xin được trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng.

Tại bản tự khai đề ngày 08 tháng 4 năm 2024, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Mai Thị Ngọc D1 trình bày:

Bà D1 và ông C là vợ chồng hợp pháp, hôn nhân đang tồn tại. Bà D kiện yêu cầu ông C và bà D1 trả 160.000.000 đồng tiền vay và lãi vay nhưng bà D1 không biết việc ông C vay số tiền này của bà D, bà D1 không liên quan. Khi chuẩn bị đến Tòa án tham dự hòa giải thì ông C mới nói cho bà D1 biết là ông C có vay của bà D số tiền 61.000.000 đồng, bà D1 không đồng ý trả số tiền mà ông C vay. Bà D1 bận việc nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2024/DS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An đã căn cứ Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 288 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kiều D đối với ông Lê Văn C và bà Mai Thị Ngọc D1 về hợp đồng vay tài sản.

Buộc ông Lê Văn C và bà Mai Thị Ngọc D1 phải liên đới trả cho bà Huỳnh Thị Kiều D số tiền vay là 167.658.000 (Một trăm sáu mươi bảy triệu sáu trăm năm mươi tám ngàn) đồng.

Không chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị Kiều D đòi ông Lê Văn C và bà Mai Thị Ngọc D1 phải trả số tiền lãi là 7.750.400 đồng.

2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối số tiền chưa trả, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Lê Văn C và bà Mai Thị Ngọc D1 phải chịu 8.382.900 (Tám triệu ba trăm tám mươi hai ngàn chín trăm) đồng.

Bà Huỳnh Thị Kiều D phải chịu là 387.500 đồng và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.150.000 đồng theo biên lai thu số 0008203 ngày 27-02-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Hoàn trả bà Huỳnh Thị Kiều D số tiền tạm ứng án phí còn thừa là 3.762.500 (Ba triệu bảy trăm sáu mươi hai ngàn năm trăm) đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự.

Ngày 15/5/2024, bà Mai Thị Ngọc D1 kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng bà không có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho bà D.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.

Bà Huỳnh Thị Kiều D là nguyên đơn trình bày: Ông C vay tiền của bà sử dụng chung cho gia đình, bà D1 là vợ ông C nên phải có trách nhiệm cùng ông C trả tiền cho bà. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà D1.

Ông Lê Văn C trình bày: Số tiền vay của bà D là ông tự tiêu xài cá nhân. Ông đề nghị bà D cho ông trả dần, hiện nay kinh tế của ông đang gặp khó khăn.

Bà Mai Thị Ngọc D1 trình bày: Số tiền ông C vay của bà D là ông C tự tiêu xài cá nhân, không phục vụ cho gia đình, việc ông C tự vay tiền bà không biết, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà. Bà để nghị bà D cho ông C trả dần số tiền vay.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu:

  • - Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Quan điểm về việc giải quyết vụ án:

    Căn cứ “Giấy mượn tiền” do nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kiều D cung cấp, xác định vào ngày 30/10/2023, ông Lê Văn C có vay tiền của bà Huỳnh Thị Kiều D số tiền 160.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 tháng kể từ ngày vay, lãi suất vay hai bên có thỏa thuận nhưng không rõ, nội dung giấy vay tiền do bà D viết và ông C ký tên, ghi họ tên.

    Tòa án cấp sơ thẩm tuyên, buộc ông C và bà D1 phải liên đới trả số tiền gốc và lãi vay cho bà D 167.658.000 đồng, ông C không kháng cáo.

    Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa ông C và bà D1 là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn. Ông C vay tiền của bà D trong thời gian hôn nhân giữa ông C và bà D1 đang tồn tại. Mặc dù, bà D1 không trực tiếp tham gia vào việc vay tiền nhưng bà D1 và ông C không có chứng cứ chứng minh được việc vay tiền của ông C là không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho gia đình. Do đó, bản án sơ thẩm tuyên buộc bà D1 có trách nhiệm liên đới cùng ông C trả nợ cho bà D1 là phù hợp quy định pháp luật. Vì vậy, kháng cáo của bà Mai Thị Ngọc D1 không có cơ sở chấp nhận.

    Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Không chấp nhận kháng cáo của Mai Thị Ngọc D1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Mai Thị Ngọc D1 thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về phạm vi xét xử phúc thẩm:

Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kiều D khởi kiện yêu cầu ông C và bà D1 liên đới trả cho bà D số tiền gốc vay là 160.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật với lãi suất là 1,67%/tháng từ ngày vay cho đến khi xét xử.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông C và bà D phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ. Sau khi xét xử sơ thẩm, bà Mai Thị Ngọc D1 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng bà không có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho bà D. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.

[3] Xét kháng cáo của bà Mai Thị Ngọc D1, thấy rằng:

[3.1] Theo lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và giấy mượn tiền do nguyên đơn cung cấp có căn cứ xác định: Ngày 30-10-2023, ông C có vay của bà D số tiền 160.000.0000 đồng, thời hạn vay là 01 tháng từ ngày vay, lãi suất vay hai bên có thỏa thuận nhưng không rõ, nội dung giấy vay tiền do bà D viết và ông C ký tên, ghi họ tên.

[3.2] Ông C cho rằng ông chỉ vay của bà D 61.000.000 đồng vào năm 2020 với mức lãi suất là 6%/tháng, đến tháng 4 năm 2023 bà D nâng mức lãi suất vay lên 15%/tháng, do ông C không trả tiền lãi nên bà D nhập lãi vào gốc, tính đến ngày 30-10-2023 ông C nợ số tiền là 160.000.000 đồng, bà D ghi lại giấy vay và kêu ông C ký tên. Lời trình bày của ông C không được bà D thừa nhận, ông C không có tài liệu gì để chứng minh số tiền gốc vay là 61.000.000 đồng, giấy tờ tính lãi và số tiền lãi mà ông C đã trả cho bà D. Do đó không có căn cứ để xác định số tiền ông C vay của bà D là 61.000.000 đồng như lời ông C trình bày. Số tiền vay 160.000.000 đồng đã hết thời hạn vay, bên vay là ông C không trả tiền, vì vậy bà D khởi kiện yêu cầu ông C trả tiền vay là phù hợp với quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận số tiền ông C vay 160.000.000 đồng là có căn cứ.

[3.3] Về tiền lãi, theo bà D trình bày thì lãi suất vay là 3%/tháng, còn ông C trình bày lãi suất là 6%/tháng, như vây hợp đồng vay các bên có thỏa thuận trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất. Theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự thì trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% so với mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468. Như vậy lãi suất được áp dụng để tính trong trường hợp này là 0,83%/tháng. Bên vay không chứng minh được số tiền lãi đã trả, do đó bên vay phải trả lãi từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm là 05 tháng 23 ngày, số tiền lãi phải trả là 160.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 5 tháng 23 ngày = 7.658.133 đồng. Bà D yêu cầu trả lãi theo mức lãi suất 1,67%/tháng là không phù hợp, do đó Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận một phần yêu cầu trả lãi của bà D với số tiền là 7.750.400 đồng là phù hợp.

[3.4] Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kiều D, buộc ông Lê Văn C và bà Mai Thị Ngọc D1 phải liên đới trả cho bà Huỳnh Thị Kiều D số tiền vay và lãi tổng cộng là 167.658.000 đồng. Ông C không kháng cáo.

Bà D1 kháng cáo không đồng ý liên đới trả nợ. Thấy rằng, ông C và bà D1 là vợ chồng có đăng ký kết hôn, hôn nhân giữa ông C và bà D1 là hôn nhân hợp pháp, ông C vay tiền của bà D trong thời gian hôn nhân giữa ông C và bà D1 đang tồn tại. Mặc dù bà D1 không trực tiếp tham gia vào việc vay tiền của bà D nhưng bà D1, ông C không chứng minh được mục đích ông C vay tiền không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Do đó bà D yêu cầu bà D1 liên đới cùng với ông C trả tiền cho bà D là phù hợp với quy định của khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp.

[4] Về việc bị đơn đề nghị nguyên đơn cho trả nợ dần: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn đề nghị nguyên đơn cho trả nợ dần nhưng các đương sự không thỏa thuận được, vì vậy không có căn cứ để cho ông C và bà D1 trả dần tiền vay.

[5] Từ phân tích trên thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Mai Thị Ngọc D1.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[7] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Mai Thị Ngọc D1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Mai Thị Ngọc D1.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

Căn cứ Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 288 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Kiều D đối với ông Lê Văn C và bà Mai Thị Ngọc D1 về hợp đồng vay tài sản.

    Buộc ông Lê Văn C và bà Mai Thị Ngọc D1 phải liên đới trả cho bà Huỳnh Thị Kiều D số tiền vay là 167.658.000 (Một trăm sáu mươi bảy triệu sáu trăm năm mươi tám ngàn) đồng.

    Không chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị Kiều D đòi ông Lê Văn C và bà Mai Thị Ngọc D1 phải trả số tiền lãi là 7.750.400 đồng.

  2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối số tiền chưa trả, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Lê Văn C và bà Mai Thị Ngọc D1 phải chịu 8.382.900 (Tám triệu ba trăm tám mươi hai ngàn chín trăm) đồng.

    Bà Huỳnh Thị Kiều D phải chịu là 387.500 đồng và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.150.000 đồng theo biên lai thu số 0008203 ngày 27-02-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Hoàn trả bà Huỳnh Thị Kiều D số tiền tạm ứng án phí còn thừa là 3.762.500 (Ba triệu bảy trăm sáu mươi hai ngàn năm trăm) đồng.

  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Mai Thị Ngọc D1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008399 ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
  • - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Thủ Thừa;
  • - Chi cục THADS huyện Thủ Thừa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; AV./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 324/2024/DS-PT ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 324/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger