Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ T

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 324/2024/HS-ST

Ngày 16 - 09 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tân

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thưởng

Ông Nguyễn Duy Tuyên

Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Tạ Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 341/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 08 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 357/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 09 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Hoàng Thị P; sinh ngày 14/10/1983; nơi sinh: tỉnh Thanh Hoá; Nơi ĐKHKTT: Số nhà A M, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Số nhà A Ngõ S, T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 09/12; Con ông: Hoàng Văn Đ (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị C, Sinh năm 1962 Gia đình có 04 chị em, bị can là con thứ nhất; Chồng Nguyễn Cường H, Sinh năm 1983, con: 01 con sinh năm 2012; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 (Ngày 17/3/2021 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội (Bản án HSPT số 43/2021/HS-PT ngày 17/3/2021). Tạm giữ, Tạm giam: Bị tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 15/3/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Có mặt.
  2. Phùng Quốc H1; sinh ngày 07/8/1975; nơi sinh: tỉnh Thanh Hoá; Nơi cư trú: Số nhà C L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam;Tôn giáo: Không; Văn hóa: 7/12; Con ông: Phùng Bá T (Đã chết); Con bà: Lê Thị P1 (Đã chết); Gia đình có đình 07 anh chị em, bị can là con thứ 06; Vợ: Trần Thị H2, Sinh năm 1978 (đã ly hôn); con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án:
    • + Ngày 07/8/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 179/2017/HSST ngày 07/8//2017). Chấp hành xong ngày 16/10/2018.
    • + Ngày 20/8/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 233/2019/HSST ngày 20/8/2019). Chấp hành xong hình phạt ngày 28/02/2023.
    Nhân thân:
    • + Ngày 25/6/2009 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 147/2009/HSST ngày 25/6/2009).
    • + Ngày 28/5/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 04 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 140/2012/HSST ngày 28/5/2012). Chấp hành xong ngày 28/01/2016.
    Tạm giữ, tạm giam: bị tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 16/3/2024 chuyển tạm giam. Có mặt.
  3. Đặng Tuấn A; sinh ngày 10/6/1992; nơi sinh: tỉnh Thanh Hoá; Nơi cư trú: Số nhà A Ỷ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 10/12; Con ông: Đặng Sỹ L, Sinh năm 1954.; Con bà: Nguyễn Thị C1, Sinh năm 1959; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 05.; Vợ: Doãn Thị T1, Sinh năm 1993, con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2015; nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 29/11/2009 bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác” theo Quyết định số 5891 ngày 29/11/2009. Tạm giữ, tạm giam: bị tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 15/3/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Có mặt.
  4. Ngô Thị Thu T2; sinh ngày 21/8/1986; nơi sinh: tỉnh Thanh Hoá; Nơi cư trú: Số nhà A Ngõ S, T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 9/12; Con ông: Ngô Trọng T3 (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị L1, Sinh năm 1961; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con đầu.; Vợ: Doãn Thị T1, Sinh năm 1993, con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2015; nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 24/9/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 242/2012/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2014; án phí ngày 07/12/2012. Tạm giữ, tạm giam: bị tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 16/3/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Có mặt.
  5. Nguyễn Văn L2; sinh ngày 01/10/1988; nơi sinh: tỉnh Thanh Hoá; Nơi cư trú: H L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn P2, Sinh năm 1953; Con bà: Nguyễn Thị H3, Sinh năm 1955; Gia đình có đình có 05 anh chị em, bị can là con thứ 05; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân:
    • + Ngày 10/11/2006 bị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Cố ý gây thương tích” (Bản án số 35/2006/HSST ngày 10/11/2006).
    • + Ngày 11/5/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 188/2021/HSST ngày 11/5/2021). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/12/2021, án phí ngày 21/6/2021.
    • + Ngày 15/8/2018 bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (Theo quyết định số 325/QĐ-XPHC).
    • + Ngày 15/7/2020 bị Công an huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản (Theo quyết định số 0061651/QĐ-XPHC).
    Tạm giữ, tạm giam bị tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 16/3/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Có mặt.
  6. Lê Sỹ B; sinh ngày 10/8/1989; nơi sinh: tỉnh Thanh Hoá; Nơi cư trú: Số nhà A D, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 12/12; Con ông: Lê Sỹ C2, Sinh năm 1956; Con bà:Nguyễn Thị N, Sinh năm 1959; Gia đình có đình có 03 anh chị em, bị can là con thứ ba; Vợ: Nguyễn Thị Thu H4 (Đã ly hôn); con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân:
    • + Ngày 05/8/2011 bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc (Theo quyết định số 8792/QĐ-XPHC).
    • + Ngày 07/6/2012 bị Công an phường P, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc (Theo quyết định số 68/QĐ-XPHC).
    • + Ngày 05/01/2016 bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy (Theo quyết định số 86/QĐ-XPHC).
    Tạm giữ, tạm giam: bị tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 15/3/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Có mặt.

- Người làm chứng:

Anh Ngô Trọng S, sinh năm: 1986;

Địa chỉ: Phố C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Hồi 13 giờ 05 phút, ngày 06/3/2024, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T thực hiện nhiệm vụ tuần tra tại khu vực ngõ S, T, phường Đ, thành phố T phát hiện Lê Sỹ BĐặng Tuấn A có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên đã tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, B đã tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc, bên trong chứa 04 viên nén hình tròn màu đỏ. B khai nhận đây là ma túy hồng phiến B vừa mua của Đặng Tuấn A với giá 460.000 đồng nhằm mục đích sử dụng. Đặng Tuấn A cũng tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon màu xanh bên trong chứa 03 viên nén hình tròn màu đỏ và khai nhận, 03 viên nén màu đỏ này là ma túy hồng phiến Tuấn A cất giấu để bán. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Sỹ B về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Đặng Tuấn A về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Thu giữ, niêm phong số ma túy, điện thoại di động để phục vụ công tác điều tra.

Về nguồn gốc ma túy thu giữ khi bắt quả tang, Tuấn A khai nhận: Sáng ngày 06/3/2024 khi được Lê Sỹ B hỏi mua 04 viên ma túy hồng phiến thì Tuấn A đã gặp và hỏi mua của Hoàng Thị P 07 viên ma túy hồng phiến với giá 500.000 đồng nhưng chưa thanh toán tiền. Sau đó Tuấn A lấy 04 viên gói lại bằng giấy bạc, 03 viên còn lại, bỏ vào túi nilon cất giấu trong túi quần khi có khách hỏi thì bán. Khoảng 13 giờ cùng ngày, tại ngõ S, T, phường Đ, thành phố T, BTuấn A gặp nhau để giao dịch mua bán ma túy, B đã chuyển 460.000 đồng tiền mua ma túy vào tài khoản của Tuấn A. Khi Tuấn A vừa đưa 04 viên ma túy hồng phiến gói trong giấy bạc bán cho B thì bị Công an phát biện, bắt quả tang.

Biết Đặng Tuấn A bị bắt, cùng ngày Hoàng Thị P đầu thú, khai nhận hành vi đã bán cho Đặng Tuấn A 07 viên ma túy hồng phiến với giá 500.000 đồng vào sáng ngày 06/3/2024 (Tuấn A chưa đưa tiền) và tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 túi nilon màu tím bên trong chứa 128 viên nén hình tròn (126 viên màu đỏ, 02 viên màu xanh). P khai nhận đây là ma túy hồng phiến, P cất giấu nhằm mục đích để bán kiếm lời. Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở củ P nhưng không thu giữ được gì.

Về nguồn gốc ma túy, P khai: Tối ngày 05/03/2024, P đã liên hệ qua điện thoại với Phùng Quốc H1 để hỏi mua 135 viên ma túy hồng phiến, thì được H1 đồng ý bán với giá 9.500.000 đồng. Sau đó PH1 gặp nhau tại ngõ S, Trần Xuân S1, phường Đ, thành phố T để giao dịch mua bán. Vào sáng ngày 06/3/2024 P đã bán cho Đặng Tuấn A 07 viên ma túy hồng phiến với giá 500.000 đồng (Tuấn A chưa đưa tiền). Còn lại 128 viên ma túy hồng phiến P cất giấu nhằm mục đích để bán.

Ngoài ra P còn khai nhận, trước đó vào sáng ngày 01/3/2024 P đã gặp Phùng Quốc H1 để mua 02 viên ma túy hồng phiến với giá 200.000 đồng sau đó đến nhà Ngô Thị Thu T2 tại số A Ngõ S, phường Đ, thành phố T đưa cho T2 02 viên ma túy hồng phiến để T2 bán cho một người người đàn ông tên S người phường Đ với giá 250.000 đồng.

Ngày 06/3/2024 khám xét khẩn cấp nơi ở của Phùng Quốc H1 tại phòng trọ số 09, số nhà I L, phường Đ, thành phố T, phát hiện thu giữ 13 viên nén hình tròn (gồm 05 viên nén hình tròn màu xanh và 08 viên nén hình tròn màu đỏ). H1 khai nhận, 13 viên nén trên là ma túy hồng phiến, H1 cất giấu để sử dụng, H1 không thừa nhận hành vi bán ma túy cho Hoàng Thị P như lời khai của P.

Về nguồn gốc ma túy thu giữ của Phùng Quốc H1 khi khám xét khẩn cấp, H1 khai nhận: Trước đó vào sáng ngày 06/3/2024 H1 mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tại khu vực công viên nước phường Đ, thành phố T 15 viên ma túy hồng phiến với giá 1.200.000 đồng. Hanh đã sử dụng 02 viên, còn lại 13 viên Hanh cất giấu nhằm mục đích sử dụng.

Đến ngày 07/3/2024, biết Hoàng Thị P bị bắt, Ngô Thị Thu T2Nguyễn Văn L2 đầu thú khai nhận hành vi: Do có quen biết với Hoàng Thị P nên T2 đồng ý cho P đến nhà ở. P nói với T2L2 là có ma túy để bán, nếu có ai hỏi mua thì P sẽ để lại ma túy cho T2L2 bán. Khoảng 03 giờ sáng, ngày 01/3/2023 Ngô Trọng S (Sinh năm 1986, trú tại Phố C, phường Đ, thành phố T) liên hệ qua điện thoại hỏi mua của T2 02 viên ma túy hồng phiến thì T2 đồng ý bán với giá 250.000 đồng, S chuyển số tiền này vào tài khoản ngân hàng của Nguyễn Văn L2 (bạn trai T2 đang ở cùng). Đến khoảng 06 giờ sáng cùng ngày, khi P đến, T2 trao đổi với P về việc bán 02 viên ma túy hồng phiến cho S thì P yêu cầu T2 chuyển số tiền 250.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của P thì được P đưa cho 02 viên hồng phiến. Lúc này, Nguyễn Văn L2 (bạn trai T2) ngủ dậy, T2 đưa 02 viên ma túy hồng phiến, số điện thoại, địa chỉ nhà của Ngô Ngọc S2 cho L2 để L2 đi giao ma túy cho S2. Khi đi, T2 dặn L2 đến gần thì vứt ma túy cạnh nhà để S2 tự ra lấy. L2 biết việc S2 hỏi mua ma túy của T2 và chuyển số tiền 250.000 đồng vào khoản của mình. Khi được T2 nhờ đi giao ma túy cho S2 thì L2 đồng ý và chủ động liên lạc giao ma túy cho S2 theo yêu cầu của T2.

Cơ quan điều tra đã triệu tập lấy lời khai Ngô Trọng S, S khai nhận: Khoảng 03 giờ sáng ngày 01/3/2024 S liên hệ với Ngô Thị Thu T2 để hỏi mua 02 viên mua túy hồng phiến thì T2 đồng ý bán với giá 250.000 đồng. Sau đó T2 nhắn tin số tài khoản, S đã chuyển 250.000 đồng vào tài khoản Nguyễn Văn L2. Khoảng 6 giờ sáng cùng ngày có số điện thoại lạ gọi đến cho S bảo ném 02 viên ma túy hồng phiến ở cạnh bãi rác bên hông nhà, ma túy được gói trong giấy bạc, S mang ma túy lên phòng riêng sử dụng. Xét nghiệm ma túy xác định Ngô Trọng Sơn dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.

Kết luận giám định ma túy của Phòng K Công an tỉnh T xác định:

  • 04 viên nén hình tròn màu đỏ thu giữ của Lê Sỹ B là ma túy, có tổng khối lượng 0,379 gam loại Methamphetamine;
  • 03 viên nén hình tròn màu đỏ thu giữ của Đặng Tuấn A là ma túy, có tổng khối lượng 0,287 gam loại Methamphetamine;
  • 126 viên nén hình tròn màu đỏ thu giữ của Hoàng Thị P là ma túy, có tổng khối lượng 11,951 gam loại Methamphetamine;
  • 02 viên nén hình tròn màu xanh thu giữ của Hoàng Thị P là ma túy, có tổng khối lượng 0,193 gam Methamphetamine;
  • 08 viên nén hình tròn màu đỏ thu giữ của Phùng Quốc H1 là ma túy, có tổng khối lượng 0,797 gam Methamphetamine;
  • 05 viên nén hình tròn màu xanh thu giữ của Phùng Quốc H1 là ma túy, có tổng khối lượng 0,502 gam Methamphetamine.

Về vật chứng thu giữ, xử lý:

  • - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo A5S, màu xanh thu giữ của Đặng Tuấn A;
  • - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu nhãn hiệu Redmi màu xanh thu giữ của Lê Sỹ B;
  • - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung Galaxy A23 thu giữ của Hoàng Thị P;
  • - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung Galaxy Note 4 thu giữ của Ngô Thị Thu T2;
  • - 01 điện thoại di động, nhãn hiệu nhãn hiệu Redmi màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn L2;
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 thu giữ của Phùng Quốc H1.
  • - Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của các phong bì ký hiệu M1, M2, M3, M4 và 03 viên nén hình tròn màu đỏ có tổng khối lượng là 0,289 gam của phong bì niêm phong M1; 02 viên nén hình tròn màu đỏ có tổng khối lượng là 0,191 gam của phong bì ký hiệu M2; 121 viên nén hình tròn màu đỏ có tổng khối lượng là 11,471 gam của phong bì ký hiệu M3; 01 viên nén hình tròn màu xanh có tổng khối lượng là 0,096 gam của phong bì ký hiệu M3; 07 viên nén hình tròn màu đỏ có tổng khối lượng 0,694 gam của phong bì ký hiệu M4; 04 viên nén hình tròn màu xanh có tổng khối lượng là 0, 401 gam của phong bì ký hiệu M4. Tất cả được đựng trong 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh L3, Trần Thị Thúy H5, Trịnh Thị Thu H6 và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T.

Toàn bộ vật chứng trên được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 267/CT-VKS-TPTH ngày 21 tháng 08 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) thành phố T, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố:

  • Bị cáo Hoàng Thị P về tội “mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b. i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).
  • Bị cáo Đặng Tuấn A về tội “mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.
  • Bị cáo Ngô Thị Thu T2 về tội “mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.
  • Bị cáo Nguyễn Văn L2 về tội “mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.
  • Bị cáo Phùng Quốc H1 về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS.
  • Bị cáo Lê Sỹ B về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên toà, đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

  • Áp dụng vào điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 17; Điều 38 BLHS để xử phạt Hoàng Thị P mức án từ 7 (bảy) năm 9 (chín) tháng đến 8 (tám) năm tù về tội “mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Áp dụng vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS để xử phạt Phùng Quốc H1 mức án từ 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng đến 6 (sáu) năm tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS để xử phạt Đặng Tuấn A mức án từ 30 (ba mươi) đến 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 38 BLHS để xử phạt Ngô Thị Thu T2 mức án từ 27 (hai mươi bảy) đến 30 (ba mươi) tháng tù về tội “mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 38 BLHS để xử phạt Nguyễn Văn L2 mức án từ 27 (hai mươi bảy) đến 30 (ba mươi) tháng tù về tội “mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS để xử phạt Lê Sỹ B mức án từ 18 (mười tám) đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản nào có giá trị, không có thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS):

  • Tịch thu, sung công quỹ 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo A5S, màu xanh thu giữ của Đặng Tuấn A dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội;
  • Tịch thu, sung công quỹ 01 điện thoại di động, nhãn hiệu nhãn hiệu Redmi màu xanh thu giữ của Lê Sỹ B dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội;
  • Tịch thu, sung công quỹ 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung Galaxy A23 thu giữ của Hoàng Thị P dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội;
  • Tịch thu, sung công quỹ 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung Galaxy Note 4 thu giữ của Ngô Thị Thu T2 dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội;
  • Tịch thu, sung công quỹ 01 điện thoại di động, nhãn hiệu nhãn hiệu Redmi màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn L2 dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội;
  • Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 thu giữ của Phùng Quốc H1 cho Phùng Quốc H1 do không liên quan đến hành vi phạm tội.
  • Tịch thu, tiêu huỷ toàn bộ ma tuý thu giữ của các bị cáo là vật cấm lưu hành được đựng trong 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh L3, Trần Thị Thúy H5, Trịnh Thị Thu H6 và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T.

Các vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 210/2024/THA ngày 12/09/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T.

Ngoài ra Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí, quyền kháng cáo.

Về người đàn ông đã bán ma túy cho Phùng Quốc H1, H1 khai không quen biết, không rõ tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để để xử lý.

Về việc Hoàng Thị P khai báo Phùng Quốc H1 là người đã bán ma túy cho P. Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp, lấy lời khai và đối chất theo quy định. Tuy nhiên, ngoài lời khai của P thì không còn chứng cứ nào khác chứng minh H1 là người đã bán ma túy cho P. Do đó không có căn cứ xử lý H1 về hành vi bán ma túy cho P như P khai báo.

Đối với Ngô Trọng S là người đã mua 02 viên ma túy hồng phiến của Ngô Thị Thu T2Nguyễn Văn L2. Do lượng ma túy S đã sử dụng hết nên Cơ quan điều tra chuyển Công an thành phố xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Trong lời nói sau cùng, các các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với với nhau và phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Về trách nhiệm hình sự:

Do có mục đích vụ lợi, nên Hoàng Thị P đã tìm mua 137 viên hồng phiến (có tổng khối lượng 12,81 gam ma túy, loại Methamphetamine) về bán kiếm lời. Tại số nhà A ngõ S, Trần Xuân S1, phường Đ, thành phố T, P đã 02 lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy: Lần thứ nhất, vào khoảng 06 giờ ngày 01/3/2024 thông qua Ngô Thị Thu T2, P đã bán 02 viên hồng phiến với giá 250.000 đồng cho Ngô Trọng S (D đã sử dụng hết 02 viên ma túy hồng phiến này nên không xác định được khối lượng ma túy); Lần thứ hai, bán cho Đặng Tuấn A 07 viên hồng phiến (có tổng khối lượng 0,666 gam ma túy, loại Methamphetamine) vào sáng ngày 06/3/2024; Số còn lại 128 viên hồng phiến (có tổng khối lượng 12,144 gam ma túy, loại Methamphetamine) P cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời.

Sau khi mua được ma túy từ P, Đặng Tuấn A đem 04 viên hồng phiến (có tổng khối lượng 0,379 gam ma túy, loại Methamphetamine) bán cho Lê Sỹ B; 03 viên hồng phiến còn lại (có tổng khối lượng 0,287 gam ma túy, loại Methamphetamine) Tuấn A cất giấu trong người nhằm mục đích để bán. Khi vừa giao dịch đưa ma túy bán cho B xong thì bị Tổ công tác Công an thành phố T phát hiện, bắt quả tang. B khai nhận 04 viên ma túy hồng phiến giao nộp là mua của Đặng Tuấn A mục đích để sử dụng.

Ngô Thị Thu T2 do quen biết với Hoàng Thị P và được P trao đổi là có ma túy để bán, nếu có khách hỏi mua, P sẽ đưa ma túy cho T2 bán hộ, chi phí sinh hoạt khi PT2 ở cùng P sẽ chi trả, nên T2 đồng ý bán hộ P. Khoảng 06 giờ sáng ngày 01/3/2024, sau khi được Ngô Trọng S hỏi mua 02 viên ma túy hồng phiến thì T2 đã nói lại với P và chuyển lại số tiền 250.000 đồng nhận từ S cho P. P đưa T2 02 viên ma túy hồng phiến bán cho S. Sau đó T2 đưa ma túy, số điện thoại, địa chỉ nhà của S cho Nguyễn Văn L2 để L2 đi giao ma túy cho S. Khi đi, T2 dặn L2 khi đến thì vứt ma túy cạnh nhà để S tự ra lấy. L2 biết việc S hỏi mua ma túy của T2 và chuyển 250.000.000 đồng mua ma túy vào khoản của mình. Khi được T2 nhờ đi giao ma túy cho S thì L2 đồng ý và chủ động liên lạc giao ma túy cho S. Do đó, T2 đồng phạm với P; L2 đồng phạm giúp sức cho T2 đối với hành vi bán trái phép 02 viên ma túy hồng phiến cho Ngô Trọng S. Tuy nhiên do 02 viên ma túy hồng phiến S đã dùng hết, nên không xác định được khối lượng ma túy P, T2L2 đã bán cho S.

Phùng Quốc H1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 13 viên hồng phiến (có tổng khối lượng 1,299 gam ma túy, loại Methamphetamine), mục đích để sử dụng.

Xét về vai trò của các bị cáo: Bị cáo P phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng khối lượng ma túy bán cho Đặng Tuấn A 07 viên hồng phiến (có tổng khối lượng 0,666 gam ma túy, loại Methamphetamine); 02 viên ma túy hồng phiến thông qua T2 bán cho Ngô Trọng S (do số ma túy này S đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng) và 128 viên hồng phiến (có tổng khối lượng 12,144 gam ma túy, loại Methamphetamine) P cất giấu nhằm mục đích để bán. Tổng lượng ma túy P phải chịu trách nhiệm hình sự là 12,81 gam ma túy, loại Methamphetamine; Bị cáo Đặng Tuấn A phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 07 viên hồng phiến (có tổng khối lượng 0,666 gam ma túy, loại Methamphetamine) đã mua của Hoàng Thị P để bán và cất giấu nhằm mục đích để bán. Bị cáo Lê Sỹ B phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 04 viên hồng phiến (có tổng khối lượng 0,379 gam ma túy, loại Methamphetamine) đã mua của Đặng Tuấn A nhằm mục đích sử dụng; Bị cáo Ngô Thị Thu T2 đồng phạm với Hoàng Thị P; Nguyễn Văn L2 đồng phạm giúp sức cho Ngô Thị Thu T2 đối với hành vi bán trái phép 02 viên ma túy hồng phiến cho Ngô Trọng S (Tuy nhiên do 02 viên ma túy hồng phiến S đã dùng hết, nên không xác định được khối lượng ma túy); Bị cáo Phùng Quốc H1 phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 13 viên hồng phiến (có tổng khối lượng 1,299 gam ma túy, loại Methamphetamine) cất giấu nhằm mục đích sử dụng.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự, trị an và an toàn xã hội trên địa bàn.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hành vi trên đây của bị cáo Hoàng Thị P đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 BLHS; Đặng Tuấn A, Ngô Thị Thu T2, Nguyễn Văn L2 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS; Phùng Quốc H1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS; Lê Sỹ B phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS đúng với đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa và đúng với Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng

Tội phạm mà các bị cáo P, H1 thực hiện thuộc loại rất nghiêm trọng; Tội phạm mà các bị cáo Tuấn A, T2, L2, B thực hiện thuộc nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự an và an toàn xã hội tại địa phương, xâm phạm đến quyền chính sách độc quyền về quản lý ma túy của nhà nước và là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý; động cơ mục đích phạm tội của bị cáo P, Tuấn A, T2, L2 là để kiếm lời từ hành vi mua bán trái phép chất ma túy, các bị cáo H1, B tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Thời gian các bị cáo bị tạm giữ, tạm giam sẽ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt.

[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân:

Đối với bị cáo Hoàng Thị P: Ngày 17/3/2021 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội (Bản án HSPT số 43/2021/HS-PT ngày 17/3/2021), chưa được xoá án tích nay lại tiếp tục phạm tội.

Đối với bị cáo Phùng Quốc H1:

  • + Ngày 07/8/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 179/2017/HSST ngày 07/8//2017). Chấp hành xong ngày 16/10/2018.
  • + Ngày 20/8/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 233/2019/HSST ngày 20/8/2019). Chấp hành xong hình phạt ngày 28/02/2023. Chưa được xoá án tích thì tiếp tục phạm tội lần này nên bị cáo H1 đã tái phạm nguy hiểm phải chịu tình tiết định khung quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 BLHS. Ngoài ra bị cáo còn bị hai lần xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý vào năm 2009 và năm 2012 đã được xoá án tích.

Đối với bị cáo Đặng Tuấn A: Ngày 29/11/2009 bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác” theo Quyết định số 5891 ngày 29/11/2009

Đối với bị cáo Ngô Thị Thu T2: Đã một lần bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với bị cáo: Nguyễn Văn L2 đã một lần bị xét xử về hành vi Cố ý gây thương tích, một lần bị xét xử về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, một lần bị xét xử và một lần bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.

Đối với bị cáo Lê Sỹ B đã ba lần bị xử phạt hành chính trong đó hai lần về hành vi Đánh bạc, một lần về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hoàng Thị P phạm tội có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo khai trung thực các tình tiết của vụ án là đã thành khẩn khai báo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Các bị cáo Hoàng Thị P; Ngô Thị Thu T2, Nguyễn Văn L2 có thêm 01 tình tiết giảm nhẹ “Đầu thú”, bị can Đặng Tuấn A có “Bố là người có công với cách mạng” quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội mà các bị cáo phạm phải ngoài hình phạt chính còn có hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét các bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt tiền cho các bị cáo.

[7] Về vật chứng:

  • 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo A5S, màu xanh thu giữ của Đặng Tuấn A dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, sung công quỹ nhà nước;
  • 01 điện thoại di động, nhãn hiệu nhãn hiệu Redmi màu xanh thu giữ của Lê Sỹ B dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, sung công quỹ nhà nước;
  • 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung Galaxy A23 thu giữ của Hoàng Thị P dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, sung công quỹ nhà nước;
  • 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung Galaxy Note 4 thu giữ của Ngô Thị Thu T2 dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, sung công quỹ nhà nước;
  • 01 điện thoại di động, nhãn hiệu nhãn hiệu Redmi màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn L2 dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, sung công quỹ nhà nước;
  • Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 thu giữ của Phùng Quốc H1 cho Phùng Quốc H1 do không liên quan đến hành vi phạm tội.
  • Toàn bộ số ma tuý thu giữ của các bị cáo còn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh L3, Trần Thị Thúy H5, Trịnh Thị Thu H6 và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu huỷ.

[8] Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa về việc giải quyết toàn diện vụ án là có căn cứ nên được chấp nhận.

[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 17; Điều 38 BLHS:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị P phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Hoàng Thị P: 8 (tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 06/03/2024).

2. Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS:

Tuyên bố bị cáo Phùng Quốc H1 phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Phùng Quốc H1: 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 07/03/2024).

3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS:

Tuyên bố bị cáo Đặng Tuấn A phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Đặng Tuấn A: 3 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 06/03/2024).

4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 38 BLHS:

Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Thu T2 phạm tội “mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Ngô Thị Thu T2: 30 (ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 07/03/2024)

5. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 38 BLHS:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L2 phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Nguyễn Văn L2: 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 07/03/2024).

6. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS:

Tuyên bố bị cáo Lê Sỹ B phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Lê Sỹ B: 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 06/03/2024).

7. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS tuyên xử:

  • Tịch thu, sung công quỹ 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Oppo A5S, màu xanh thu giữ của Đặng Tuấn A dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội;
  • Tịch thu, sung công quỹ 01 điện thoại di động, nhãn hiệu nhãn hiệu Redmi màu xanh thu giữ của Lê Sỹ B dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội;
  • Tịch thu, sung công quỹ 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung Galaxy A23 thu giữ của Hoàng Thị P dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội;
  • Tịch thu, sung công quỹ 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Sam sung Galaxy Note 4 thu giữ của Ngô Thị Thu T2 dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội;
  • Tịch thu, sung công quỹ 01 điện thoại di động, nhãn hiệu nhãn hiệu Redmi màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn L2 dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội;
  • Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 thu giữ của Phùng Quốc H1 cho Phùng Quốc H1 do không liên quan đến hành vi phạm tội.
  • Tịch thu, tiêu huỷ toàn bộ ma tuý thu giữ của các bị cáo là vật cấm lưu hành được đựng trong 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lại Thị Thanh L3, Trần Thị Thúy H5, Trịnh Thị Thu H6 và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T.

Các vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 210/2024/THA ngày 12/09/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T.

8. Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc mỗi bị cáo Hoàng Thị P, Phùng Quốc H1, Ngô Thị Thu T2, Đặng Tuấn A, Nguyễn Văn L2, Ngô Sỹ B1, phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng án phí hình sự sơ thẩm).

9. Tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo cho việc thi hành án.

8. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS: Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Các bị cáo, có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND, TAND, Sở tư pháp tỉnh Thanh Hoá;
  • - CA thành phố T;
  • - THAHS, DS thành phố T;
  • - VKSND thành phố T;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 324/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ về vụ án hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 324/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự Sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger