TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Số: 324/2025/HNGĐ-ST Ngày 19-6-2025 V/v tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Lâm Bảo Ngọc
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Chi
- Ông Huỳnh Văn Sức
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa:
Ông Lê Thanh Phong- Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 87/2025/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 02 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 92/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị B Mnăm 1990, nơi cư trú: tổ F, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang
Bị đơn: Anh Hoa Thanh V 1985, nơi cư trú: số E, tổ G, khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang
(chị Bé M có đơn xin vắng mặt, anh V vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn trình bày:
Chị và anh Hoa T V1tìm hiểu quen biết nhau được vài năm, chung sống với nhau như vợ chồng, được cha mẹ hai bên chấp thuận tổ chức lễ cưới vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B Sau đám cưới cả hai sống chung gia đình chồng được khoảng 2 năm. Quá trình chung sống không hạnh phúc thường phát sinh mâu thuẫn do anh V2quan tâm chăm sóc vợ con, ăn chơi cờ bạc, có quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài, chị có khuyên nhiều lần nhưng anh V2sửa đổi, mỗi lần chị bàn tính đến việc đi làm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Do vợ chồng không có tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn tình cảm với nhau, đến tháng 4/2021 chị cùng con về sống với cha mẹ ruột ở Tiền Giang, vợ chồng ly thân nhau, thời gian đầu anh V3đến hỏi thăm và bắt con về, sau đó chị có tới lui thăm con vài lần, nhưng anh V2nói gì đến việc hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay chị và anh V2còn tình cảm, không thể hàn gắn được, chị yêu cầu ly hôn với anh Hoa T V4
+ Về con chung: Có 01 con chung tên Hoa Ngọc Thiên K 29/01/2019. Nay ly hôn chị B1 giao con chung cho anh Vtiếp tục nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về nợ phải thu phải trả: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn vắng mặt, không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do cho thấy bị đơn không chấp hành đúng quy định Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ly hôn với anh Hoa T V4. Tiếp tục giao cho anh V được tiếp tục nuôi con chung tên Hoa Ngọc Thiên K1, chị B2 không phải cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh An Giangnên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: cả hai tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 19 ngày 20/3/2020 do Ủy ban nhân dân xã B cấp là hôn nhân hợp pháp. Chị Bé M cho rằng vợ chồng mâu thuẫn do rạn nứt tình cảm là do anh V không quan tâm lo lắng, có người phụ nữ khác bên ngoài, từ đó quan hệ vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, anh chị đã ly thân từ tháng 4 năm 2021 đến nay. Quá trình tố tụng, anh V cũng không thể hiện ý kiến và đến hoà giải. Xét thấy, hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị B2 yêu cầu ly hôn là có căn cứ.
[2.2] Về con chung: con chung hiện đang sống với anh V, để đảm bảo môi trường phát triển của cháu tiếp tục giao con chung cho anh V tiếp tục nuôi dưỡng, chị B2 không phải cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: chị B2 không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[3] Về án phí: chị Trần Thị B2 phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 9; Điều 51, 53, khoản 1 Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147 khoản 1 Điều 273, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị B2
- Về hôn nhân gia đình: chị Trần Thị B2 được ly hôn với anh Hoa T V4.
- Về con chung: Giao con chung tên Hoa Ngọc T1 K1, sinh ngày 29/01/2019, cho anh V được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến thành niên hoặc tự lập được. Chị Trần Thị B M1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Hoa T V5các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị BMột trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định
- Về tài sản chung: Không
- Về nợ chung: Ghi nhận chị Bé M trình bày không có nợ chung, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
- Về án phí: chị Trần Thị B2 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0011855 ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Anh Hoa T V4 không phải chịu án phí.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Lâm Bảo Ngọc |
Bản án số 324/2025/HNGĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 324/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Bé Một xin ly hôn với anh Hoa Thanh Vũ
