Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 324/2024/HSPT

Ngày 09 tháng 5 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Duyên

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Tửu

Ông Mai Xuân Thành

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại điểm cầu tổ chức phiên tòa trực tuyến gồm: Điểm cầu trung tâm - Phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, điểm cầu xét xử - Phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau - Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 295/2024/HSPT ngày 02 tháng 4 năm 2024 đối với Trương Văn T, Lê Trung N, Trịnh Hữu H; do bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2024/HSST ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.

Các bị cáo bị kháng cáo:

1/ Trương Văn T, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Tổ D, Ấp M, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn K (đã chết) và bà Lê Thị V; Vợ: Phạm Thị Kiều T1; Con: Trương Thị Tuyết K1; Anh chị em ruột gồm 09 người; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam ngày 11/5/2023 đến nay, tại Trại tạm giam Công an tỉnh C. (có mặt)

2/ Lê Trung N (tên gọi khác: T2), sinh năm 1989; Nơi cư trú: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; Nơi ở hiện tại: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 4/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Đ (đã chết) và bà Lê Thị T3; Vợ, con: chưa có; Anh chị em ruột gồm 02 người; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam ngày 11/5/2023 đến nay, tại Trại tạm giam Công an tỉnh C. (có mặt)

3/ Trịnh Hữu H, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Minh M và bà Phan Thị T4; Vợ, con: chưa có; Anh chị em ruột gồm 04 người; Tiền án, tiền sự: Không;

Về nhân thân: Ngày 19/4/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 03/5/2019 (được miễn chấp hành 10 tháng 08 ngày). Bị bắt tạm giam ngày 12/5/2023 đến nay, tại Trại tạm giam Công an tỉnh C. (có mặt)

Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo T: Luật sư Ngô Ngọc T5 thuộc Đoàn luật sư tỉnh C (có mặt)

Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo N: Luật sư Tôn Quách T6 thuộc Đoàn luật sư tỉnh C (có mặt)

Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo H: Luật sư Phan Khánh D thuộc Đoàn luật sư tỉnh C (có mặt)

(Ngoài ra trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thanh N1 là thuyền trưởng tàu cá số hiệu KG 93009 TS, các thuyền viên (ngư phủ) làm thuê trên tàu tổng số 15 người, gồm: Đặng Văn Đ1 (B1), Trịnh Hữu H, Trần Anh T7, Nguyễn Văn S, Hồ Thanh C (Búa), Bùi Quốc Đ2, Trương Văn T8, Bùi Văn T9 cùng Hồ Quang Đ3, Nguyễn Quang T10, Phan Minh T11, Phi Văn D1, Lê Thanh N2, Nguyễn Văn D2, Nguyễn Hoàng N3. Trương Văn T là thuyền trưởng tàu cá số hiệu KG 91011 TS, các thuyền viên (ngư phủ) làm thuê trên tàu 02 người, gồm: Lê Trung N (T2) và Trần Phong V1. Hai tàu KG 93009 TS và KG 91011 TS do ông Trần Vũ C1 làm chủ, làm nghề cào đôi. Hai tàu cá xuất bến ngày 14/6/2022 tại cửa K thuộc huyện A, tỉnh Kiên Giang. Mọi hoạt động trên hai tàu do bị can Trần Thanh N1 thay mặt ông C1 điều hành và quản lý.

Ông Tôn Văn S1 là thuyền trưởng tàu cá số hiệu KG 95527 TS, thuyền viên (ngư phủ) làm thuê trên tàu tổng số 12 người, gồm: Mai Văn L, Trương Văn T12, Hoàng Văn Đ4, Võ Văn H1, Lâm Nhứt T13, Lý Vũ Quang H2, Trần Văn P, Trương Minh H3, Võ Văn T14, Danh Sáu L1, Nguyễn Văn K2 và Võ Văn H1.

Ông Trương Văn K3 là thuyền trưởng tàu cá số hiệu KG 95528 TS, thuyền viên (ngư phủ) làm thuê trên tàu có Lê Văn K4.

Hai tàu KG 95527 TS và KG 95528 TS do ông Lê Văn Bé S2 làm chủ, làm nghề cào đôi. Hai tàu xuất bến ngày 14/9/2022 tại cửa K thuộc huyện A, tỉnh Kiên Giang. Mọi hoạt động trên hai tàu do ông Tôn Văn S1 thay mặt ông S2 điều hành và quản lý.

Chiều ngày 09/10/2022, tàu KG 95527 TS của Sáng neo chung với tàu KG 90616 TS của Trần Thanh S3 (tên gọi khác là Ba C2). Hai tàu của N1 cũng thả neo gần tàu của Sáng, tại tọa độ 05°58′N – 104°29′E (thuộc vùng biển chồng lấn giữa Việt Nam và Malaysia). Đến tối cùng ngày, T điều khiển tàu KG 91011 TS cùng với N và Trần Phong V1 đến tàu KG 95527 TS của Tôn Văn S1 để xin nước ngọt. N và V1 qua tàu KG 95527 TS của Sáng lấy nước, N thấy Mai Văn L dùng dây thừng, kết nhựa dùng đựng cá đánh và chích điện thuyền viên trên tàu của Sáng. Sau khi lấy nước về tàu KG 93009 TS, N kể lại cho N1 biết việc bên tàu của Sáng có thuyền viên bị chích điện. Liền sau đó, N1 sử dụng điện đàm trên tàu KG 93009 TS nói chuyện với Sáng.

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, S1 tổ chức nhậu với Nguyễn Tấn M1 (tên thường gọi là Minh T15), là Thuyền trưởng tàu KG 94641 TS và Trần Thanh S3 trên tàu KG 90616 TS. Trong lúc nhậu, S3 và M1 biết việc L dùng điện chích thuyền viên trên tàu KG 95527 TS nên định đi qua tàu của S1 đánh L thì được mọi người trên tàu can ngăn, S1 đi về cho tàu chạy đi chổ khác neo đậu. Khoảng 01 giờ ngày 10/10/2022, M1 vào cabin tàu KG 90616 TS của S3, gọi điện đàm cho N1 nói lại việc L dùng điện chích thuyền viên dẫn đến việc M1 và S3 định đánh nhau với L. Sau khi nói chuyện với M1, N1 gọi điện đàm nói chuyện với S1, nói việc tàu của S1 để xảy ra việc chích điện thuyền viên, N1 hâm dọa sẽ kéo qua đánh nhau với tàu của Sáng.

Ngay sau khi nói chuyện qua điện đàm, N1 kéo còi để tập hợp thuyền viên trên tàu KG 91011 TS và tàu KG 93009 TS để đi đánh nhau, khi thuyền viên tập trung lại thì N1 nói: “Đi đánh lộn”. N1 lấy trong cabin 01 ống tuýp và 02 dao tự chế, sau đó N1 kêu T9 vào cabin lấy thêm 01 cây dao tự chế mang qua tàu KG 91011 TS, S biết đi đánh nhau nên vào chỗ ngủ lấy 01 cây dao tự chế mang qua tàu KG 91011 TS.

Khi qua tàu KG 91011 TS, N1 cầm ống tuýp sắt, S cầm 01 dao tự chế, 01 cây dao Tý lấy và 02 cây dao của N1 lấy thì cũng được đưa qua đặt trên boong tàu KG 91011 TS. Tất cả từ tàu KG 93009 TS qua tàu KG 91011 TS cùng đi với N1 gồm có: T8, T9, T, C, S, T7, H, Đ2, Đ1 và Nguyễn Hoàng N3; Tàu KG 91011 TS cùng đi với bị can N1 gồm có: T, Lê Trung N và Trần Phong V1. Những người khác trên tàu KG 93009 TS ở lại mà không đi cùng N1 để đánh nhau.

Trên đường đi, Nam vào cabin tàu KG 91011 TS kêu T điều khiển ghe đuổi theo tàu KG 95527 TS của Sáng. Trong lúc T điều khiển tàu, N1 ngồi cạnh T trong cabin và sử dụng điện đàm trong cabin nói chuyện với S1, N1 hâm dọa đánh người trên tàu KG 95527 TS của Sáng.

Khi T điều khiển tàu KG 91011 TS đuổi kịp tàu KG 95527 TS của Sáng, N1 chỉ đạo các bị can tập trung ra boong tàu. N1 cầm 01 ống tuýp sắt, S cầm 01 dao tự chế; T9 và T7 mỗi người cầm 01 dao tự chế (do T9 lấy để trên boong), T8 cầm 01 dao tự chế (do bị can N1 lấy để trên boong) và 01 cây búa có sẵn trên tàu KG 91011 TS. Đầy, Đ2 và H cầm dây xích sắt, dài khoảng 40cm, có sẵn trên tàu KG 91011 TS. Lúc này, N1 nói: “Đánh chết mẹ nó anh lo”. Tân chủ động cập tàu KG 91011 TS vào mạn tàu KG 95527 TS của S1, T8 cầm búa chọi vào cabin tàu của Sáng trúng vào cửa kính bên phải (theo hướng từ sau ra trước), H và Đ1 cũng chọi dây xích sắt vào cabin tàu của Sáng nhưng không trúng ai, riêng Đ2 cầm sẵn dây xích sắt trên tay nhưng không chọi. Tân điều khiển mũi tàu KG 91011 TS áp sát vào mạn phải tàu của Sáng để lần lượt T9, T8 cầm dao tự chế nhảy qua tàu của S1, tiếp đến N1 cầm ống tuýp nhảy qua. S cầm dao tự chế, đứng trên trái độn định nhảy qua nhưng bị rơi xuống biển, H và Đ1 thấy S bị rơi xuống biển thì chạy ra sau lái, ném dây hỗ trợ kéo S lên tàu KG 91011 TS. Tỷ, C, S, N, H, Đ2 và Đ1 đều nhảy qua tàu của S1; T ở lại điều khiển tàu; còn V1 và Nguyễn Hoàng N3 ở lại tàu không qua tàu của Sáng, cũng không cầm theo hung khí và không tham gia đánh nhau.

Khi qua được tàu của S1, T9 chạy vào cabin dùng dao tự chế chém nhiều cái vào vùng lưng và bả vai của S1, S1 bỏ chạy ra mạn phải tàu (theo hướng từ sau ra trước), tay phải Sáng nắm dây bô (được căng bên mạn tàu, dùng để cầm nắm khi đi lại trên tàu) thì gặp T8 đứng phía ngoài, T8 liền dùng dao tự chế chém 01 cái vào mu bàn tay phải, 01 cái trúng vào đầu của Sáng rồi dùng chân đạp vào bụng làm Sáng rơi xuống biển. Lúc này, N1 đứng ngoài cabin gặp L, N1 hỏi: “Ai chích điện lính dịch vụ”, L thấy S1 bị đạp rơi xuống biển thì chạy vào cabin tàu KG 95527 TS mở điện đàm lên nói: “Vớt thằng Sáng cháu tôi dùm”. Lúc này, T7 cầm 01 dao tự chế, N3 cầm 01 ống tuýp (lấy từ tay của bị can N1) cùng Hồ Thanh C đi vào cabin gặp L, N3 cầm ống tuýp sắt đánh lên đầu làm Lọt bị thương chảy máu, còn H qua tàu của Sáng la chửi xong thì quay về tàu KG 91011 TS.

N1 thấy S1 bị rớt xuống biển nên về tàu KG 91011 TS kêu T điều khiển tàu lui ra để hỗ trợ vớt Sáng. Lúc này, Trần Thanh S3 chạy đến gần, vớt được Sáng lên tàu KG 91896 TS của S3, S3 nghĩ Sáng bị ngư phủ trên tàu của Sáng đánh nên điều khiển tàu của S3 cập vào tàu của Sáng. Khi tàu của S3 cập vào tàu của Sáng, Trần Thanh Q và Huỳnh Văn S4 (tên gọi khác là S5) là thuyền viên trên tàu của S3, chạy qua tàu của Sáng, mục đích hỏi ai đã đánh Sáng rơi xuống biển. Lê Văn K4 thấy Q và S4 đi qua, nghĩ có người qua đánh nên K4 bỏ chạy ra sau lái và nhảy xuống biển. Lúc này T điều khiển tàu đực đến gần vị trí K4 đang ở dưới biển để H và T9 ném phao hỗ trợ kéo K4 lên tàu của T. Sau khi K4 được kéo lên, T8 dùng tay đánh K4, T9 dùng tay đánh vào mặt, dùng chân đạp vào bụng của K4, C dùng chân đạp K4 và lôi K4 ra boong tàu KG 91011 TS. Tiếp đó, T7 dùng tay đánh K4, N1 dùng tay đánh, dùng chân đá K4.

Sau khi đánh K4, N1 kêu T điều khiển tàu KG 91011 TS cập vào tàu KG 95527 TS của Sáng một lần nửa để N1 cùng T8, T9, S, T7, C, N3, H, Đ2, Đ1 đưa K4 qua tàu của Sáng. Khi T điều khiển tàu KG 91011 TS cập vào tàu của Sáng, Nam chỉ đạo Đức, H, T9 lên tìm thuyền viên đang trốn trên nóc cabin mà N1 cho rằng có tham gia chích điện thuyền viên. Tý tìm gặp và kêu Nguyễn Văn K2 xuống boong tàu KG 95527 TS, T7 cầm ống tuýp sắt đánh vào mông của K2, N1 dùng dép nhựa đánh vào mặt và dùng chân đá vào mặt của K2. Sau đó, N1 cầm dao tự chế buộc những người trên tàu KG 95527 TS của Sáng phải đá K2 để dằn mặt việc chích điện thuyền viên. Lúc này, tàu của S3 cập vào tàu của Sáng, S3 đi qua và lấy dao tự chế trên tay N1 kề vào cổ dọa L, dùng tay đánh vào mặt L. Sau đó, N1 kêu T8, T9, S, T7, C, N3, H, Đ2 và Đ1 về tàu KG 91011 TS, T điều khiển tàu quay về vị trí tàu KG 93009 của N1 đang neo đậu. Sau đó, Trần Thanh S3 quay về tàu của S3 để băng bó vết thương và thay quần áo cho S1 rồi đưa Sáng qua tàu KG 95528 TS để ông Trương Văn K3 cùng Lê Văn K4 đưa S1 vào đất liền. Đến khoảng 11 giờ ngày 12/10/2022, trên đường vào đất liền cấp cứu thì Sáng tử vong, Lê Văn K4 đến Công an thị trấn S để trình báo vụ việc.

Trong ngày 12/10/2022, ông Trần Vũ C1 gọi điện đàm cho N1 nói Sáng đã chết, kêu N1 đưa tàu KG 93009 TS và tàu KG 91011 TS vào đất liền để phục vụ điều tra. N1 cho T8 hay là Sáng đã chết, N1 kêu T8 lấy 03 cây dao tự chế, đã sử dụng đi đánh nhau trên tàu KG 95527 TS của Sáng vứt xuống biển. Sau đó, T8 kêu S vứt cây dao tự chế S đã mang đi đánh nhau trên tàu KG 95527 TS của Sáng xuống biển.

Đến ngày 14/10/2022 (trong thời gian đi vào đất liền), N1 kêu T9, T8, T, N3, H, S lên cabin tàu KG 93009 TS nói chuyện. N1 kếu T9 khi vào bờ làm việc với Cơ quan Công an thì nhận chém Sáng, không liên quan đến những người khác, nếu T9 đồng ý thì mỗi tháng sẽ trợ cấp cho mẹ của T9 10.000.000 đồng đến khi T9 mãn hạn tù. Sau đó, C viết “Tờ Cam kết” để N1, T, T8, C, H, N3 ký tên; riêng S và T7 không đồng ý ký tên nên N1 viết tên “S”, tên “Tỷ” vào “Tờ Cam kết” và đưa cho T9 chụp lại bằng điện thoại Tý. Sau đó, N1 kêu C xé bỏ tờ “Tờ Cam kết”. Khi vào thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau làm việc với Cơ quan điều tra và quá điều tra cho đến nay, các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án.

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 310/KL-KTHS ngày 14/10/2022 của Phòng K5 Công an tỉnh C kết luận về nguyên nhân chết của Tôn Văn S1:

Khám ngoài:

  • - Lưng: Bả vai bên phải có vết rách da nông (7cm x 0.2cm); vùng bả vai khoảng đốt sống ngực 9, 10 có vết rách da nông (13cm x 0.2cm); bả vai bên trái có 02 vết rách da d1 = 4cm x 1cm, vết thương lộ cơ bờ mép sắc gọn; d2 = 3cm x 0.2cm, vết thương rách da nông; Lưng trái có vết rách da nông (10cm x 0.2cm);
  • - Chi trên: Bàn tay phải dính nhiều máu khô, trên tay phải có 03 vết hằn (do thắt garo cấp cứu); Cổ tay phải có vết thương rách da há miệng lộ cơ, bờ mép sắc gọn (3.8cm x 01cm). Tay trái không dấu vết thương tích;

Khám trong:

  • - Bầm tụ máu dưới vết thương (10cm x 7cm), cơ hai bên thái dương không bầm tụ máu;
  • - Bóc tách màng xương sọ kiểm tra: Phát hiện ở vùng đỉnh thái dương trái vết thương làm đứt xương sọ (4cm x 0.1cm);
  • - Bầm tụ máu nhiều ở da, cơ mu bàn tay và cổ tay phải;
  • - Kiểm tra vết thương phát hiện đứt nhánh động, tĩnh mạch quay cổ tay phải;

Phần kết luận:

  • + Dấu hiệu chính qua giám định:
  • - Kết mạc mắt nhợt nhạt;
  • - Cổ tay phải có vết thương rách da há miệng lộ cơ, bờ mép sắc gọn;
  • - Bầm tụ máu nhiều ở dưới da, cơ mu bàn tay và cổ tay phải;
  • - Đứt nhánh động, tĩnh mạch quay cổ tay phải.
  • + Nguyên nhân chết: Sốc mất máu/ Vết thương đứt động, tĩnh mạch quay cổ tay phải.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2024/HSST ngày 26 tháng 01 năm 2024, Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau đã quyết định:

1/Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 17; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Văn T 10 (M2) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/5/2023.

2/Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 17; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Trung N (T2) 07 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/5/2023.

3/Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 17; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Hữu H 07 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo khác, phần dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

  • - Ngày 05/02/2024 bị cáo Trương Văn T làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
  • - Ngày 06/02/2024 các bị cáo Trịnh Hữu H, Lê Trung N cũng làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bị cáo Trương Văn T, Trịnh Hữu H, Lê Trung N vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh:

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Trương Văn T, Trịnh Hữu H, Lê Trung N về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật. Mức án mà Tòa sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp. Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết gì mới, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của các bị cáo, giữ y bản án sơ thẩm.

-Luật sư bào chữa cho các bị cáo: Luật sư thống nhất tội danh mà Tòa sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân, hoàn cảnh phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giảm hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của Luật sư và của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo của các bị cáo Trương Văn T, Trịnh Hữu H, Lê Trung N: Đơn kháng cáo của các bị cáo Trương Văn T, Trịnh Hữu H, Lê Trung N được làm trong thời hạn luật định. Do đó, đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo các bị cáo Trương Văn T, Trịnh Hữu H, Lê Trung N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đã có đủ cơ sở xác định:

Vào rạng sáng ngày 10 tháng 10 năm 2022 do tức giận việc trên tàu của bị hại Tôn Văn S1 có người chích điện thuyền viên trên tàu của S1, nên bị cáo N1 đã kéo còi tập họp, rủ rê thuyền viên bên tàu do N1 và T quản lý, khi đi gồm có 11 người tham gia trong đó có các bị cáo Trương Văn T, Trịnh Hữu H, Lê Trung N để đánh những người bên tàu của Sáng. Hậu quả dẫn đến anh S1 tử vong.

Với hành vi phạm tội trên các bị cáo Trương Văn T, Trịnh Hữu H, Lê Trung N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự như cấp sơ thẩm đã truy tố xét xử là có căn cứ.

[3.] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Xét Bị cáo Trần Thanh N1 với vai trò chủ mưu, kêu gọi các bị cáo khác đi đánh nhau với những người trên tàu của bị hại Sáng, dẫn đến bị hại tử vong.

Đối với các bị cáo Trương Văn T, Trịnh Hữu H, Lê Trung N (T2) khi được bị cáo N1 hô hào, rủ rê đi đánh nhau, các bị cáo không ngần ngại tham gia, các bị cáo tự lấy hung khí gồm dao và dây xích để đánh nhau, cụ thể T tích cực lái tàu chở các bị cáo đuổi theo tàu của Sáng để đánh người, bị cáo H khi đi cầm cây dao cánh bướm và sợi dây xích, khi cập tàu bị hại thì có ném dây xích trúng cửa ca bin, la hét lớn tiếng để những người trên tàu bị hại sợ; bị cáo N có giật ống tuýp trên tay N1 để đánh anh L; Có đi lên nóc cabin tàu bị hại tìm người theo yêu cầu của N1. Mặc dù các bị cáo không trực tiếp gây nên cái chết cho bị hại Sáng nhưng việc các bị cáo đi theo đã thể hiện vai trò đồng phạm trong việc ủng hộ tích cực về mặt tinh thần, trong khi bị cáo N1 không ép buộc phải đi theo nhưng vẫn tự nguyện tham gia và có hành vi ném xích và đánh một số thuyền viên khác nên các bị cáo phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc để nhằm có thời gian cải tạo giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Trương Văn T, Trịnh Hữu H, Lê Trung N, Hội đồng xét xử xét thấy:

Khi quyết định hình phạt Tòa sơ thẩm có xem xét cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Trương Văn T, Lê Trung N; Trịnh Hữu H có đơn xin giảm nhẹ của đại diện bị hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nộp tiền khắc phục mai táng phí. Áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự; Tình tiết tăng nặng: Không.

Đối chiếu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo như trên, cấp sơ thẩm đã áp dụng mức hình phạt 10 năm tù đối với bị cáo T; 07 năm tù đối với bị cáo N và H là phù hợp, không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Do đó, không có cơ sở xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

[4] Quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

[5] Quan điểm của luật sư bào chữa cho các bị cáo có lời bào chữa giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.

[6] Các nội dung khác của quyết định bản án không có kháng cáo, không có kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật để thi hành.

[7] Do kháng cáo của các bị cáo Trương Văn T, Lê Trung N; Trịnh Hữu H không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

I/ Không chấp nhận kháng cáo của các Trương Văn T, Lê Trung N; Trịnh Hữu H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử:

1/Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 17; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trương Văn T 10 (M2) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/5/2023.

2/Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 17; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Trung N (T2) 07 (B) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 11/5/2023.

3/Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 17; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trịnh Hữu H 07 (B) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2023.

Tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

II/ Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Trương Văn T, Lê Trung N; Trịnh Hữu H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

III/ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1)
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
  • tại thành phố Hồ Chí Minh (1)
  • - TAND tỉnh Cà Mau(1);
  • - VKSND tỉnh Cà Mau(1);
  • - Cục THADS tỉnh Cà Mau(1);
  • - CA tỉnh Cà Mau(1);
  • - Sở tư pháp tỉnh Cà Mau(1);
  • - Trại tạm giam (tống đạt cho bị cáo) (4)
  • - Lưu (5).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Huỳnh Thanh Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 324/2024/HSPT ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội "giết người"

  • Số bản án: 324/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Giết người"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger