Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 324/2024/HS-PT

Ngày 18 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Toàn;

Các Thẩm phán: Ông Ngô Thanh Sỹ;

Ông Nguyễn Trung Hưng.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Minh – Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Thị Thu Hiền – Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 134/2024/HS-PT ngày 22 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Đỗ Lập P.

Do có kháng cáo của bị cáo Đỗ Lập P đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2024/HS-ST ngày 02 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo có kháng cáo: Đỗ Lập P, tên gọi khác: Không; sinh năm 1995 tại Thanh Hóa.

Nơi cư trú: thôn Đ, xã C, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Xuân K và bà Trịnh Thị H; vợ: Nguyễn Ngọc Cát T, sinh năm 1998; con: Có 01 người con, sinh ngày 29/02/2024.

Tiền án; tiền sự: Không .

Bị cáo tại ngoại có mặt.

Trong vụ án còn có bị cáo Vũ Huy C; bị hại Công ty TNHH K1; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Công S không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Vũ C1Đỗ Lập P là công nhân của Công ty TNHH K1 tại ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình làm việc, C1 quan sát thấy kho vật tư của công ty không khóa cửa, không người trông coi nên C1 nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của Công ty đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Từ tháng 7/2022 đến 24/11/2022, C1 đã 06 lần trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Lần 01: Khoảng 18 giờ tháng 7/2022 (không nhớ rõ ngày), khi hết giờ làm, C1 thấy công ty không có người trông coi nên C1 lén lút đi vào kho lấy trộm 01 cái nắp bích đường kính 10cm bằng inox và 01 bao bù long và tán hai đầu bằng inox (đã qua sử dụng). Do không biết chỗ bán tài sản nên C1 gọi điện thoại cho Đỗ Lập P nhờ P chỉ nơi bán tài sản. P đồng ý, P cho C1 số điện thoại của một người tên P1 (không rõ nhân thân lai lịch). C1 gọi hẹn gặp P1 để bán tài sản trên. Khoảng 19 giờ 10 phút cùng ngày, C1 điều khiển xe mô tô biển số 66N1-496.48 chở tài sản trộm cắp đến gặp P1 tại trước cổng Công ty V. P1 điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) kéo theo rơ móc tự chế đến thỏa thuận mua tài sản với C1. Do C1 sợ tính sai tiền nên C1 gọi cho P đến tính tiền phụ, P đồng ý. P đi bộ đến gặp C1 và P1. Tại đây Phùng cân 01 cái nắp bích đường kính 10cm bằng inox nặng 1,5 kg và 69 kg bù long và tán hai đầu bằng inox. Phùng thỏa thuận mua đồng giá 27.000 đồng/kg, tổng cộng P1 trả cho P và C1 1.900.000 đồng. C1 đưa cho P giữ tiền. Giá trị tài sản chiếm đoạt lần 1 là 3.759.000 đồng.

Lần 02: Cách lần thứ nhất 03 ngày (không rõ ngày cụ thể), khoảng 18 giờ 00 phút, C1 tiếp tục đi vào kho của Công ty trộm lấy trộm 01 cái nắp bích đường kính 10cm bằng inox và 01 bao bù long và tán hai đầu bằng inox (đã qua sử dụng). C1 tiếp tục gọi điện cho P nhờ P bán tài sản, P gọi điện thoại cho P1 hẹn đến trước cổng Công ty V như lần 1 để bán. Lúc này C1 điều khiển xe mô tô biển số 51Z5- 8958 chở tài sản trộm cắp đến gặp P1 và P. Phùng cân và mua 01 cái nắp bích đường kính 10cm bằng inox 1.5 kg và 57,5 kg bù long và tán hai đầu bằng inox (đã qua sử dụng) và mua với giá 1.600.000 đồng. P1 đưa tiền cho P rồi cả ba đi về. Giá trị tài sản chiếm đoạt lần 2 là: 3.172.500 đồng.

Lần 03: Cách lần thứ hai 02 ngày (không rõ ngày cụ thể), khoảng 18 giờ, C1 đi vào kho của Công ty lấy trộm 01 cái nắp bích đường kính 10cm bằng inox và 01 bao bù long và tán hai đầu bằng inox (đã qua sử dụng). C1 tiếp tục gọi điện cho P để bán tài sản. P hẹn P1 đến vị trí như cũ. Chương điều khiển xe mô tô biển số 51Z5-8958 đến điểm hẹn. Phùng cân và mua 01 nắp bích đường kính 10cm bằng inox 1.5kg và 83.5kg bù long và tán hai đầu bằng inox (đã qua sử dụng) Phùng trả với giá 2.300.000 đồng, C1 để cho P giữ tiền. Giá trị tài sản chiếm đoạt lần 3 là 4.498.500 đồng.

Tổng số tiền C1 và P bán 03 lần là 5.800.000 đồng, sau đó P đưa lại cho C1, C1 chia cho P 2.800.000 đồng, C1 giữ số tiền 3.000.000 đồng.

Lần 04: Khoảng 06 giờ ngày 17/11/2022, C1 đi vào kho của Công ty lấy trộm 01 cuộn dây cáp điện bằng đồng nhãn hiệu Li-oa loại 4C x 6 mm dài 50 mét, 01 cái nắp bích kích thước 318 mm x 36 mm bằng inox và 01 cái nắp bích kích thước 254 mm x 23 mm bằng inox (đã qua sử dụng). Sau đó C1 điều khiển xe mô tô biển số 66N1-496.48 chở tài sản trên mang đến tiệm thu mua phế liệu của anh Đinh Công S, sinh năm 1991 tại phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bán được số tiền 1.700.000 đồng, C1 tiêu xài cá nhân hết. Giá trị tài sản chiếm đoạt lần 4 là: 2.295.000 đồng.

Lần 05: Vào khoảng 06 giờ 00 ngày 23/11/2022, C1 tiếp tục đi vào kho của Công ty lấy trộm 52 bộ bù long và tán hai đầu kích thước M25 mm x 125 mm bằng inox, 17 bộ bù long và tán hai đầu kích thước M22 mm x 145 mm bằng inox, 40 bộ bù long và tán hai đầu kích thước M28 mm x 135 mm bằng inox. Chương điều khiển xe mô tô biển số 51Z5-8958 chở tài sản trên đến bán cho Đinh Công S được 2.910.000 đồng, C1 tiêu xài cá nhân hết. Giá trị tài sản chiếm đoạt lần 5 là: 10.466.500 đồng.

Lần 6: Vào khoảng 06 giờ 00 sáng ngày 24/11/2022. C1 tiếp tục đi vào kho của công ty T1 bộ bù long và tán hai đầu kích thước M27 mm x 135 mm bằng sắt, 02 bộ bù long và tán hai đầu kích cỡ M33 mm x 225 mm bằng sắt rồi mang tài sản trên bán cho anh Đinh Công S được 80.000 đồng, C1 cũng tiêu xài cá nhân hết. Giá trị tài sản chiếm đoạt lần 6 là: 522.500 đồng.

Đến ngày 26/11/2022, biết hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nên bị cáo C1 đã đến Công an xã L đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các chứng cứ khác thu thập được. Đối với Đinh Công S số tài sản mua lần 4 đã bán cho người khác không biết nhân thân, địa chỉ nên không thu hồi được còn tài sản mua lần 5 và lần 6 đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra.

- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 104/KL-HĐĐGTS ngày 20/02/2023 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:

  • + 52 bộ bù long và tán hai đầu kích thước M25 mm x 125 mm bằng Inox trị giá 4.368.000 đồng.
  • + 17 bộ bù long và tán hai đầu kích thước M22 mm x 145 mm bằng Inox trị giá 1.198.500 đồng.
  • + 40 bộ bù long và tán hai đầu kích thước M28 mm x 135 mm bằng Inox trị giá 4.900.000 đồng.
  • + 03 bộ bù long và tán hai đầu kích thước M27 mm x 135 mm bằng sắt trị giá 187.000 đồng.
  • + 02 bộ bù long và tán hai đầu kích thước M33 mm x 225 mm bằng sắt trị giá 335.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị xâm phạm là: 10.988.500 đồng .

- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 116/KL-HĐĐGTS ngày 20/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:

  • + 01 cuộn dây cáp điện bằng đồng, nhãn hiệu Li-oa loại 4C x6 mm dài 50 mét đã qua sử dụng trị giá 1.650.000 đồng.
  • + 01 cái nắp bích kích thước 318mm x 36mm bằng Inox đã qua sử dụng trị giá 355.000 đồng.
  • + 01 cái nắp bích kích thước 254mm x 23mm bằng Inox đã qua sử dụng trị giá 290.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là: 2.295.000 đồng .

- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 117/KL-HĐĐGTS ngày 20/7/2023 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:

  • + 03 cái nắp bích đường kính 10cm bằng Inox đã qua sử dụng trị giá 720.000 đồng.
  • + 210 kg bù long và tán hai đầu bằng inox đã qua sử dụng trị giá 10.710.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản là: 11.430.000 đồng .

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 02/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Đỗ Lập P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Lập P 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Đỗ Lập P chấp hành án.

Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Vũ C1, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 16/01/2024 bị cáo Đỗ lập P2 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và đề nghị cấp phúc thẩm xem xét về tội danh và tuyên xử bị cáo không phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Đỗ Lập P trình bày: Theo đơn kháng cáo ngày 16/01/2024 bị cáo nộp tại Tòa án Long Thành đề nghị cấp phúc thẩm xem xét về tội danh và tuyên xử bị cáo không phạm tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng nay bị cáo xác định cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Trộm cắp tài sản với vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo C1 là đúng người, đúng tội, không oan sai. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu:

Với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội và mức án phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành phẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thể hiện ăn năn hối cải, đã tự nguyện nộp số tiền chiếm đoạt để khắc phục hậu quả và có đơn được chính quyền địa phương xác nhận thể hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, phải nuôi dưỡng nhiều người phụ thuộc, đây là những tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.

Đề nghị áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo Đỗ Lập P không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Lập P làm trong thời hạn luật định là hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Trộm cắp tài sản với vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo C1 là đúng người, đúng tội, không oan sai. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm đã nêu, đã có cơ sở xác định: Mặc dù bị cáo C1 không nói cho bị cáo P biết tài sản do trộm cắp mà có nhưng bị cáo biết các tài sản bị cáo C1 có được là do trộm cắp tại Công ty TNHH K1 và đã 03 lần bị cáo P tham gia cùng bị cáo C1 bán tài sản, tính tiền thay cho bị cáo C1, bị cáo P được hưởng số tiền 2.800.000 đồng. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 với vai trò đồng phạm giúp sức cho bị cáo C1 là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

[3] Về hình phạt:

+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự hình sự năm 2015.

+ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tại cấp sơ thẩm: Khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng bị cáo P khai báo không thành khẩn nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015; đại diện theo ủy quyền của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thể hiện thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo cung cấp đơn, được chính quyền địa phương xác nhận, thể hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải nuôi dưỡng nhiều người phụ thuộc là con dưới 12 tháng tuổi và cha ruột đang bị bệnh ung thư, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, ngoài ra trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền chiếm đoạt 2.800.000 đồng để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 nên áp dụng thêm cho bị cáo.

- Về hình phạt: Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy bị cáo có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; ngoài lần phạm tội này luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có khả năng tự cải tạo; việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là không cần thiết. Bị cáo có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao; do đó, chấp nhận kháng cáo của bị cáo P, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách theo quy định, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Lập P; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2024/HS-ST ngày 02/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

    Tội danh và hình phạt:

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58, 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

    + Xử phạt bị cáo Đỗ Lập P 10 (mười) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 08 (tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 18-7-2024.

    - Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    - Giao bị cáo Đỗ Lập P cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát và giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

  2. Về án phí: Bị cáo Đỗ Lập P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

(Đã ký)

Ngô Thanh Sỹ - Nguyễn Trung Hưng

Võ Văn Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 324/2024/HS-PT ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 324/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Lập P phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger