|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 324/2022/HSST
Ngày 23-11-2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Hảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Sĩ Tiến
Ông Nguyễn Văn Tám
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Vững – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Ông Đoàn Văn Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 287/2022/HSST ngày 28 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 358/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:
Trần Văn S, sinh ngày 10-07-1991 tại tỉnh Bình Định; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; chỗ ở: Phòng trọ 16 tại số 52 X, phường T, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đ và bà Trần Thị L; vợ: Trần Thị B; có bốn con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền sự : Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 167/QĐ-XPVPHC ngày 26-10-2020 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu thời hạn 14 tháng; Tiền án: không; bị bắt ngày 13 tháng 07 năm 2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ( bị cáo có mặt).
Bị hại: Anh Trần Anh T, sinh năm 1973– Địa chỉ: Số 44/1C X, phường T, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (vắng mặt).
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Anh Y, sinh năm 1983– Địa chỉ: Số 6A T, Phường T, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 12-07-2022, Trần Văn S trèo cột điện rồi đu người lên trèo qua tường rào đột nhập từ lối cửa thông gió phía sau vào trong nhà số 44/1C X, phường T, thành phố Vũng Tàu của anh Trần Anh T để trộm cắp tài sản.
Khi vào phòng khách nhìn thấy trên bàn có 01 đôi bông tai kim loại màu trắng có hình chữ G; 01 đôi bông tai kim loại màu trắng có hình chữ YSL và 01 nhẫn bằng kim loại màu trắng có hình đầu hổ nên Sang lấy tài sản cất giấu trong người. Thấy phòng khách có gắn camera nên Sang dùng tay tháo gỡ lấy Camera hiệu IPDahua IPC-C15P này cầm mang theo.
Sang tiếp tục đi xuống khu vực bếp, thấy vị trí sát cửa thông gió có một tủ nhựa. Sang mở hộc tủ lấy 01 sợi dây chuyền kim loại màu trắng và 01 nhẫn kim loại màu trắng có đính 05 hạt đá màu trắng. Sang cất giấu toàn bộ tài sản vào túi quần bên phải của mình, còn camera bỏ vào bịch nilon lấy ở bếp rồi Sang trèo theo lối cũ ra ngoài tẩu thoát.
Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, Sang mang đôi bông tai, nhẫn và dây chuyền đến tiệm vàng bạc “Kim Dung” ở số 6A T, phường T, thành phố Vũng Tàu bán cho anh Nguyễn Anh Y được 37.000.000 đồng. Còn chiếc Camera Sang cất giấu ở phòng trọ 16 số 52 X, phường T, thành phố Vũng Tàu. Sau khi bán được tài sản, Sang lấy tiền tiêu xài cá nhân còn lại số tiền 11.500.000 đồng thì bị thu giữ khi bị bắt.
Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá xác định giá trị tổng tài sản bị chiếm đoạt: 01 sợi dây chuyền vàng loại 18K -750 trị giá 9.002.290 đồng, 01 đôi bông tai có hình chữ G bằng vàng loại 18K -750 trị giá 4.785.132 đồng; 01 đôi bông tai có hình chữ YSL bằng vàng loại 18K -750 trị giá 2.922.189 đồng; 01 nhẫn có hình đầu hổ bằng vàng loại 18K -750 trị giá 5.200.824 đồng; 01 Camera hiệu IPDahua IPC-C15P trị giá 200.000 đồng, tổng là 27.348.675 đồng.
Năm hạt kim cương, mỗi hạt 3,6 ly Hội đồng từ chối định giá: Lý do từ chối vì không có giấy khai sinh của tài sản.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Bản cáo trạng số 295/CT-VKS ngày 27-10-2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Trần Văn S về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo mức án từ 15 đến 18 tháng tù giam.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thành phố Vũng Tàu và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo xác định vào khoảng 01 giờ 00 ngày 12-07-2022, bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút đột nhập vào trong nhà số 44/1C X, phường T, thành phố Vũng Tàu trộm cắp được số tài sản của người bị hại có tổng trị giá 27.348.675 đồng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và bị hại, phù hợp với kết quả định giá và các tài liệu chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án và thẩm tra lại tại phiên tòa. Xét thấy ngoài số tài sản này bị cáo còn trộm cắp được 01 nhẫn kim loại màu trắng có đính 05 hạt đá màu trắng nhưng do bị hại không nhớ chính xác đã mua chiếc nhẫn này với giá bao nhiêu và không cung cấp được chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ của tài sản nên không xác định được giá trị tài sản để định lượng, nên xác định trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt chỉ là 27.348.675 đồng. Vì vậy, hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại quyền sở hữu tài sản của cá nhân, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với thủ đoạn liều lĩnh, nhân thân đã có một tiền sự bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm tương ứng với hành vi phạm tội nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- Bị hại xác định đã nhận lại toàn bộ các tài sản bị mất, không yêu cầu gì về phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Người liên quan anh Nguyễn Anh Y chỉ yêu cầu nhận lại số tiền 11.500.000 đồng mà Cơ quan điều tra đã thu giữ. Do thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên anh Ý không yêu cầu bị cáo phải trả lại thêm số tiền 25.500.000 đồng, nên trả lại anh Ý số tiền 11.500.000 đồng.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn S phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng : Khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Trần Văn S 02 ( hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 07 năm 2022.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- - Trả lại anh Nguyễn Anh Y số tiền 11.500.000 đồng ( mười một triệu năm trăm ngàn đồng).
- Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Lệnh thanh toán đến ( số lệnh thanh toán 2220210304643107 ngày 02-11-2022.
- Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng ( hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Thanh Hảo |
Bản án số 324/2022/HSST ngày 23/11/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 324/2022/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/11/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn S phạm tội “ Trộm cắp tài sản”
