|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 3233/2024/DS-ST Ngày: 19/7/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Cẩm Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Mai Thanh Giàu
- Bà Phan Thị Bé
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1978/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3780/2024/QĐXXST–DS ngày 04 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 4572/2024/QÐST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lưu Hồng T, sinh năm: 1946
Địa chỉ: A N, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền có: ông Lưu Nguyên Đ, sinh năm: 1976 (có mặt).
Theo Văn bản ủy quyền số 12568 ngày 07/8/2023 của Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc P, sinh năm: 1966 (vắng mặt).
Địa chỉ: số C đường A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có ông Lưu Nguyên Đ trình bày: Do quen biết thông qua một người bạn giới thiệu, ông Lưu Hồng T có cho ông Nguyễn Quốc P vay số tiền là 250.000.000 đồng. Để tạo lòng tin, ông P có viết Giấy vay tiền ngày 01/10/2020 với số tiền là 200.000.000 đồng và Giấy vay tiền ngày 12/10/2020 với số tiền là 50.000.000 đồng. Ông P nói do cần tiền giải quyết việc cá nhân nên mượn tạm thời hạn tối đa là 12 tháng kể từ ngày nhận nợ sẽ trả lại, hai bên thỏa thuận không tính lãi suất. Tuy nhiên, hết thời hạn nêu trên ông Phòng không trả lại tiền, ông T nhiều lần nhắn tin, gọi điện và đến nơi làm việc để tìm gặp đòi lại số tiền cho mượn nhưng ông P đều né tránh không trả. Không thể tự giải quyết nên ông T khởi kiện vụ án yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Quốc P phải trả cho ông Lưu Hồng T tổng số tiền nợ đã vay theo Giấy vay tiền ngày 01/10/2020 và Giấy vay tiền ngày 12/10/2020 là 250.000.000 đồng. Ông T không yêu cầu ông P phải trả tiền lãi phát sinh.
Khi cho ông P vay tiền, ông T chỉ biết ông P và trực tiếp giao tiền cho ông P, không biết rõ thông tin về vợ ông P nên không yêu cầu vợ ông P liên đới trả số tiền nợ nêu trên. Ông T không có vợ, số tiền ông T cho ông P vay là tiền của riêng cá nhân ông T.
Tại phiên tòa:
- Ông Lưu Nguyên Đ là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc ông Nguyễn Quốc P phải trả cho ông Lưu Hồng T tổng số tiền nợ đã vay là 250.000.000 đồng theo Giấy vay tiền ngày 01/10/2020 và ngày 12/10/2020. Ông T1 không yêu cầu ông P phải trả tiền lãi phát sinh.
- Bị đơn ông Nguyễn Quốc P vắng mặt không có lý do.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, Tòa án đã vi phạm về thời hạn xét xử nhưng một phần do bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.
- Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định.
- Về nội dung: Bị đơn vi phạm nghiêm trọng các nội dung trong Giấy vay tiền ngày 01/10/2020 và Giấy vay tiền ngày 12/10/2020 gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn đã được thông báo về việc bị khởi kiện nhưng không có ý kiến gì nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Ghi nhận nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi phát sinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: ông Lưu Hồng T khởi kiện ông Nguyễn Quốc P yêu cầu trả nợ đã vay theo Giấy vay tiền đã ký kết. Ông Nguyễn Quốc P có nơi cư trú tại phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về việc tham gia Tố tụng của các đương sự:
- Ông Lưu Hồng T có Văn bản số 12568 ngày 07/8/2023 của Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh uỷ quyền cho ông Lưu Nguyên Đ tham gia tố tụng, việc uỷ quyền này là hợp lệ, ông Đ thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
- Bị đơn ông Nguyễn Quốc P có đăng ký cư trú tại số C đường A, tổ A, khu phố G, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với thông tin cư trú ghi trên Giấy vay tiền và đơn khởi kiện. Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định nhưng ông P vẫn không đến Tòa án, cũng không gửi cho Tòa án ý kiến của mình về việc bị khởi kiện hoặc lý do vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông P theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Trong vụ án, nguyên đơn khởi kiện ông Nguyễn Quốc P, yêu cầu cá nhân ông P trả nợ theo giấy vay nợ ông P đã ký kết, nguyên đơn chưa xác định được các thông tin về vợ ông P nên không yêu cầu vợ ông P cùng liên đới trả nợ. Do đó không có cơ sở triệu tập vợ ông P tham gia tố tụng trong vụ án này.
[3] Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện ông Lưu Hồng T có cho ông Nguyễn Quốc P vay tổng số tiền là 250.000.000 đồng theo các Giấy vay tiền do hai bên lập ngày 01/10/2020 và ngày 12/10/2020. Mặc dù nguyên đơn đã nhắc nhở, yêu cầu trả nợ khi hạn hạn vay nhưng ông Phòng K thực hiện. Biết nguyên đơn khởi kiện cũng không có ý kiến gì về việc bị khởi kiện. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở và bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 “Bên vay tài sản là tiền phải trả đủ tiền khi đến hạn” nên phải trả lại tiền đã vay cho nguyên đơn.
Ghi nhận việc nguyên đơn ông Lưu Hồng T tự nguyện không yêu cầu ông Nguyễn Quốc P phải trả tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ vay.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Nguyễn Quốc P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 250.000.000 đồng x 5% = 12.500.000 đồng.
Ông Lưu Hồng T thuộc trường hợp miễn tiền tạm ứng án phí theo quy định.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 273; Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 463, Điều 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Lưu Hồng T.
1. Buộc ông Nguyễn Quốc P trả cho ông Lưu Hồng T tổng số tiền nợ là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng). Ghi nhận ông Lưu Hồng T tự nguyện không yêu cầu ông Nguyễn Quốc P phải trả tiền lãi phát sinh.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Quốc P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm ngàn đồng) tại C1 có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
3. Về quyền kháng: Đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với trường hợp vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Thái Thị Cẩm Hiền |
Bản án số 3233/2024/DS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 3233/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vay cá nhân
