TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 3230/2024/DS – ST
Ngày: 19 - 7 - 2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Khuyến
- Bà Phan Thị Bé
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa:
Bà Trương Thị Ngọc Huệ – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 2234/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4362/2024/QĐXXST - DS ngày 20 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty TNHH M
Địa chỉ: D Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền:
- - Ông Nguyễn Ý Q, sinh năm 2001 (có mặt)
- - Ông Trần Văn T, sinh năm 1998 (vắng mặt)
- - Ông Ngô Vĩnh N, sinh năm 2001 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Tầng C, Tòa nhà G, D Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1977
Địa chỉ: Số F, đường số E, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty TNHH M ông Nguyễn Ý Q trình bày:
Ngày 19/03/2021, bà Nguyễn Ngọc L và Công ty T1 (Việt Nam) đã ký Hợp đồng tín dụng số 2109687 để vay tiền với các nội dung sau:
- Số tiền vay: 31.650.000 đồng;
- Thời hạn: 24 tháng;
- Lãi suất: 50%/năm;
- Mục đích vay: Tiêu dùng cá nhân
Kể từ ngày 17/7/2021, bà Nguyễn Ngọc L đã không thanh toán mặc dù Công ty đã thực hiện nhắc nhở bằng nhiều biện pháp.
Ngày 20/06/2022, khoản nợ của bà Nguyễn Ngọc L đã được Công ty T1 (Việt Nam) chuyển nhượng cho Công ty TNHH M (gọi tắt là Công ty M) theo Hợp đồng mua bán nợ số 2731/2022/TTCN/MAFC-WELCOME.
Việc không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo đúng cam kết, kế hoạch trả nợ của bà Nguyễn Ngọc L đã vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã ký. Vì vậy Công ty M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Nguyễn Ngọc L có nghĩa vụ thanh toán một lần cho Công ty M toàn bộ số nợ gốc, nợ lãi phát sinh tạm tính đến ngày 15/5/2024 là: 75.638.421 đồng (Bảy mươi lăm triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn bốn trăm hai mươi mốt đồng), trong đó gồm:
Nợ gốc: 28.085.842 đồng;
Nợ lãi: 47.552.579 đồng.
Ngoài ra, kể từ ngày 16/5/2024, nếu bà Nguyễn Ngọc L vẫn chưa thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ, bà Nguyễn Ngọc L vẫn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ.
Bị đơn bà Nguyễn Ngọc L đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đến làm việc, Thông báo tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tham gia các phiên toà xét xử nhưng bà L vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và vắng mặt tại các phiên toà xét xử không có lý do.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty M là ông Nguyễn Ý Q vẫn giữ nguyên lời trình bày như trên và yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Ngọc L phải trả toàn bộ số tiền nợ tính đến ngày 19/7/2024 là 78.639.374 đồng, trong đó: Nợ gốc: 28.085.842 đồng; Nợ lãi: 50.553.532 đồng (lãi trong hạn là 42.112.390 đồng, lãi chậm trả là 8.441.142 đồng) và bà L còn phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 20/7/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký, trả một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn bà Nguyễn Ngọc L đã được Toà án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa để tham gia các phiên toà xét xử nhưng bà L vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và
2
Hội đồng xét xử đã thực hiện việc cấp, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng và tiến hành giải quyết vụ án đúng nhiệm vụ, quyền hạn, đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, có vi phạm về thời hạn đưa vụ án ra xét xử. Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Đồng thời, Đại diện Viện kiểm sát nhận định yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Công ty M yêu cầu bà Nguyễn Ngọc L phải trả cho Công ty M số tiền (gồm tiền gốc và tiền lãi hạn) mà bà L đã vay theo Hợp đồng tín dụng số 2109687 ngày 19/03/2021 nên đây là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng năm 2015.
Theo xác nhận của Công an P, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà Nguyễn Ngọc L có đăng ký thường trú tại địa chỉ D H, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 03/2022 đi đâu, ở đâu, làm gì không rõ; theo xác nhận của Công an phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì bà Nguyễn Ngọc L có đăng ký tạm trú tại địa chỉ số F, Đường E, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 25/01/2021 đến ngày 01/12/2022, hiện nay không còn cư trú tại địa phương, đi đâu không rõ. Bà Nguyễn Ngọc L không thông báo cho Công ty M biết về nơi cư trú, làm việc mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn kiện lại vụ án thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Ngọc L đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Ngọc L theo quy định pháp luật.
[3]. Về nội dung vụ án:
Căn cứ hợp đồng tín dụng, lịch sử thanh toán, lời khai của đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì có đủ cơ sở xác định vào ngày 17/3/2021 bà Nguyễn Ngọc L có vay của Công ty T1 (Việt Nam) số tiền là 31.650.000 đồng,
3
thời hạn vay 24 tháng, lãi suất thỏa thuận 50%/năm, mục đích vay tiêu dùng, không có biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, do vậy là hợp đồng vay không có biện pháp bảo đảm, có kỳ hạn và có lãi. Xét thấy, các chủ thể giao kết hợp đồng có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, việc ký hợp đồng tín dụng là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 117, 398, 401 và 463 Bộ luật dân sự nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch.
Thực hiện hợp đồng tín dụng, khách hàng bà Nguyễn Ngọc L đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng, kể từ ngày 17/7/2021 bà Nguyễn Ngọc L vi phạm nghĩa vụ thanh toán, không thanh toán nợ cho Công ty T1 (Việt Nam). Xét thấy, bà Nguyễn Ngọc L đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đúng hạn là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên được cấp tín dụng theo như thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 2109687 ngày 19/3/2021, do đó Công ty T1 (Việt Nam) chấm dứt cho vay trước hạn là có căn cứ theo Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng.
Ngày 20/06/2022, khoản nợ của bà Nguyễn Ngọc L đã được Công ty T1 (Việt Nam) chuyển nhượng cho Công ty TNHH M theo Hợp đồng mua bán nợ số 2731/2022/TTCN/MAFC-WELCOME. Hợp đồng mua bán nợ của Công ty T1 (Việt Nam) và Công ty TNHH M đã phát sinh hiệu lực do đó Công ty TNHH M có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bà Nguyễn Ngọc L.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Công ty M yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Ngọc L phải thanh toán số tiền tính đến ngày 19/7/2024 là 78.639.374 đồng, trong đó: Nợ gốc: 28.085.842 đồng; Nợ lãi: 50.553.532 đồng và bà L còn phải có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh kể từ ngày 20/7/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký, trả một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Xét yêu cầu trả tiền gốc, tiền lãi của Công ty M là phù hợp với các điều khoản trong Hợp đồng tín dụng số 2109687 ngày 19/3/2021 và có căn cứ theo quy định tại Điều 280, Điều 466 Bộ luật dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Xét, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T phù hợp với các nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự có giá ngạch trên số tiền phải trả là (78.639.374 đồng x 5%) = 3.931.969 đồng, nguyên đơn không phải chịu án phí do đó trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
4
Căn cứ Điều 280, Điều 463, Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 4, Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017).
Căn cứ kho ản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH M.
Buộc bà Nguyễn Ngọc L phải trả cho Công ty TNHH M tổng số tiền tính đến ngày 19/7/2024 là 78.639.374 đồng (bảy mươi tám triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn ba trăm bảy mươi tư đồng), trong đó: Nợ gốc: 28.085.842 đồng (hai mươi tám triệu không trăm tám mươi lăm nghìn tám trăm bốn mươi hai đồng); Nợ lãi: 50.553.532 đồng (năm mươi triệu năm trăm năm mươi ba nghìn năm trăm ba mươi hai đồng). Trả một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 20/7/2024, bà Nguyễn Ngọc L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Ngọc L phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 3.931.969 đồng (ba triệu chín trăm ba mươi mốt nghìn chín trăm sáu mươi chín đồng)
Công ty TNHH M không phải chịu án phí. Do đó, trả lại cho Công ty TNHH M số tiền 1.340.958 đồng (một triệu ba trăm bốn mươi nghìn chín trăm năm mươi tám đồng) tạm ứng án phí mà Công ty đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án, phí lệ phí Tòa án số AA/2023/0001472 ngày 18/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
Đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Thu Hiền |
5
Bản án số 3230/2024/DS – ST ngày 19/07/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 3230/2024/DS – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
