Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 323/2024/HNGĐ-ST

Ngày 30-7-2024

"V/v Tranh chấp xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Len

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Kim Lên

Bà Đỗ Mỹ Lil

- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Nga Muội - Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời: Ông Nguyễn Đồng Tình – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 357/2024/TLST-HNGĐ ngày 06/6/2024 về việc “Tranh chấp xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 300/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/7/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Tấn N, Sinh năm 1966 (xin vắng mặt)
  2. Địa chỉ cư trú: Ấp V, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

  3. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, Sinh năm 1971 (xin vắng mặt)
  4. Địa chỉ cư trú: Ấp V, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ông Lê Tấn N trình bày:

Vợ chồng chung sống nhau từ năm 1998, không có đăng ký kết hôn, thời gian chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân khoảng 02 hay 3 năm.

Thời gian chung sống vợ chồng có 01 người con Lê Tấn Nguyễn S năm 1999 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết.

Tài sản chung: Ông rút lại yêu cầu chia tài sản chung, vợ chồng tự thỏa thuận. Do điều kiện đi lại khó khăn, ông đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông ở các phiên tòa sơ thẩm.

Nợ chung: không có.

Bà Nguyễn Thị H trình bày:

Về hôn nhân vợ chồng chung sống với nhau từ năm 1997, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T năm 1997 hiện tại đã thất lạc không còn.

Con chung: Thời gian chung sống vợ chồng có 01 người con Lê Tấn Nguyễn S năm 1999 đã trưởng thành.

Nguyên nhân mâu thuẫn: Vợ chồng không có mâu thuẫn, hiện tại vợ chồng ly thân hơn 02 năm, ông N yêu cầu ly hôn bà đồng ý.

Về tài sản chung, vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do điều kiện đi lại khó khăn, bà đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ở các phiên tòa sơ thẩm.

Phát biểu kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử. Đương sự chấp hành đúng theo quy định của BLTTDS.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng đối với ông Lê Tấn N và bà Nguyễn Thị H.

Đình chỉ yêu cầu của ông Lê Tấn N về việc yêu cầu chia tài sản chung.

Án phí sơ thẩm đương sự phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Xét về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Lê Tấn N khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị H, bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, do đó xác định mối quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự “Tranh chấp xin ly hôn" thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vắng mặt đương sự: Ông Lê Tấn N và bà Nguyễn Thị H xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên là đúng quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét về yêu cầu ly hôn: Ông N xác định vợ chồng chung sống từ năm 1998 không có đăng ký kết hôn, bà H xác định vợ chồng chung sống từ năm 1997 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T năm 1997, hiện tại giấy chứng nhận kết hôn đã thất lạc. Theo xác định của Ủy ban nhân dân xã T tàng thư lưu trữ đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T chỉ còn từ năm 1999 đến nay, không còn lưu trữ kết hôn từ năm 1998 trở về trước. Bà H cho rằng có đăng ký kết hôn nhưng không cung cấp được giấy chứng nhận kết hôn cho Tòa án, do đó trình bày của bà H không có căn cứ. Ông N và bà H chung sống với nhau như vợ chồng và không có đăng ký kết hôn, do đó hôn nhân của ông bà không hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Bà H, ông N xác định ông bà đã sống ly thân hơn 02 năm. Hội đồng xét xử thấy rằng ông N, bà H chung sống với nhau không có đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền và nghĩa của vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Lê Tấn N, bà Nguyễn Thị H.

Con chung: Có một người con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.2] Xét về tài sản chung: Ông Ngọc r lại yêu cầu chia tài sản chung, do đó Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của ông N.

Ông N, bà H xác định tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này giữa ông N, bà H có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.

[3] Xét về án phí: Ông Lê Tấn N là người yêu cầu nên phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, 14 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Lê Tấn N và bà Nguyễn Thị H.
  2. Đình chỉ yêu cầu của ông Lê Tấn N về việc yêu cầu chia tài sản chung.

  3. Về án phí sơ thẩm: Ông Lê Tấn N phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, ông N đã dự nộp tạm ứng án phí, lệ phí 300.000 đồng theo biên lai số 0005104 ngày 06/6/2024 và tạm ứng số tiền 5.625.000 đồng theo biên lai số 0005126 ngày 11/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ, ông N được nhận lại 5.625.000 đồng.
  4. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Đương sự;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Văn Len

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 323/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 323/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Tấn N yêu cầu ly hôn với Nguyễn Ngọc H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger