TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 323/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 8 - 2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con | NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI |
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Học.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Hồng Ngọc.
Bà Vương Thị Khánh Loan.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân
thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai:
Bà Nguyễn Thúy Duyên – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 960/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 246/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 357/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị S, sinh năm 1986, địa chỉ: 5, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Vũ Quốc S1, sinh năm 1982, địa chỉ: D, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông S1 vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 28/3/2024, bản tự khai, nguyên đơn bà Lê Thị S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông S1 kết hôn vào năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không còn yêu thương nhau. Nay mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng nên bà xin ly hôn với ông S1.
Về con chung: Có 02 con chung là Vũ Lê Hoàng A, sinh ngày 26/7/2008 và Vũ Gia H, sinh ngày 09/8/2009. Ly hôn, bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông S1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có lời khai.
- Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật về thụ lý vụ án, quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, tư cách đương sự, thủ tục tố tụng đã được Tòa án xác định và thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung tranh chấp: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà S về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với ông S1. Cho bà S được ly hôn với ông S1. Về con chung, giao 02 con chung cho bà S trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Tạm thời ông S1 không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết, tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật: Bà S khởi kiện yêu cầu “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” nên quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền của Tòa án: Vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con, bị đơn thường trú tại địa chỉ phường T, thành phố B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo các quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt, do vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo các quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về nội dung tranh chấp:
[4.1] Bà S và ông S1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 14/01/2008 tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, theo giấy chứng nhận kết hôn số 09/KHTH, quyển sổ 01/2008 nên việc kết hôn là hợp pháp theo các quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
[4.2] Bà S trình bày vợ chồng chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không còn yêu thương nhau nên bà xin được ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập ông S1 đến Tòa án làm việc, hòa giải đoàn tụ nhưng ông S1 vắng mặt, không quan tâm đến quan hệ hôn nhân của mình. Do vậy đủ căn cứ để kết luận hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cho bà S ly hôn ông S1.
[4.3] Về con chung: Có 02 con chung là Vũ Lê Hoàng A, sinh ngày 26/7/2008 và Vũ Gia H, sinh ngày 09/8/2009. Ly hôn, bà S xin được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, bà S là người đang trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, chăm lo việc ăn học, đóng học phí cho các con; 02 cháu Hoàng A và Gia H có bản tự khai có nguyện vọng được sống cùng với bà S. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con nên Hội đồng xét xử giao 02 con chung cho bà S trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Bà S không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm thời ông S1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
[4.4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà S trình bày tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông S1 không có lời khai, yêu cầu về tài sản chung, nợ chung. Do vậy, không đặt ra xem xét, giải quyết; tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
[5] Về án phí: Bà S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003183 ngày 04/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà S đã nộp xong án phí.
[6] Ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nhận định của Hội đồng xét xử và quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị S về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với ông Vũ Quốc S1.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị S được ly hôn ông Vũ Quốc S1.
- Về con chung: Có 02 con chung là Vũ Lê Hoàng A, sinh ngày 26/7/2008 và Vũ Gia H, sinh ngày 09/8/2009. Ly hôn, giao 02 cháu Vũ Lê Hoàng A và Vũ Gia H cho bà Lê Thị S trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Tạm thời ông Vũ Quốc S1 không cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì không trực tiếp nuôi con nên ông S1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
- Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết, tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Bà S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003183 ngày 04/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa. Bà S đã nộp xong án phí.
- Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Học |
Bản án số 323/2024/HNGĐ-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 323/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Thị S xin ly hôn ông Vũ Quốc S
