Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 323/2024/DS-PT

Ngày 25 - 6 - 2024

V/v tranh chấp về quyền sử dụng

đất, yêu cầu hủy GCNQSDĐ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Minh

Các Thẩm phán: Ông Hồ Sỹ Hưng và ông Nguyễn Tiến Dũng.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Ông Phạm Ngọc Vỹ

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên. Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án thụ lý số: 186/2023/TLPT-DS ngày 28 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp về quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2023/DS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 6436/2024/QĐPT-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quyết T, sinh năm 1960; địa chỉ: Số B, Ngách C, phố N, phường B, quận H, thành phố Hà Nội. (có mặt)
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1937; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt)

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Tuấn S, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện N, tỉnh Khánh Hòa. Ông Hứa Tiến H, sinh năm 1957; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường X, quận B, thành phố Hà Nội. (ông H có mặt, ông S có đơn xin xét xử vắng mặt)

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1954; địa chỉ: Tổ A, phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
    2. Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1956; địa chỉ: Số A nhà B, tập thể Viện vệ sinh dịch tễ, phường Đ, quận H, Hà Nội. (vắng mặt)
    3. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1958; địa chỉ: Tổ I, phường V, quận H, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)
    4. Anh Nguyễn Kim Vĩnh H1, sinh năm 1975 và chị Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1976; cùng địa chỉ: Căn hộ F nhà N, khu C, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)

      Người đại diện theo ủy quyền của bà T1, bà Á, bà C, anh H1 và chị T2: Ông Nguyễn Quyết T. (Là nguyên đơn của vụ án)

    5. Ông Nguyễn Hữu B, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. (đã chết ngày 02/02/2024)

      Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Hữu B:

      Bà Trần Thị Thu H2, sinh năm 17973 (là vợ ông B); chị Nguyễn Thị Hồng D, sinh năm 2000 và chị Nguyễn Thị Thảo N, sinh năm 2010 (là con ông B); cùng địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. (đều vắng mặt)

      Chị Nguyễn Thị Hương G, sinh năm 1997 (là con ông B); địa chỉ: Tổ dân phố C, phường X, quận B, thành phố Hà Nội. (vắng mặt)

    6. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. (vắng mặt)

      Người đại diện theo ủy quyền của bà T3, bà H2, chị G, chị D và chị N: Ông Nguyễn Tuấn S, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện N, tỉnh Khánh Hòa. Ông Hứa Tiến H, sinh năm 1957; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường X, quận B, thành phố Hà Nội. (ông H có mặt, ông S có đơn xin xét xử vắng mặt)

    7. Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Xuân L - Chủ tịch UBND huyện Y. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn D1 - Phó Chủ tịch UBND huyện Y. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Quyết T trình bày:

Bố mẹ ông là cụ Nguyễn Hữu H3 (chết năm 1970) và cụ Hoàng Thị N1 (chết năm 2021), hai cụ sinh được năm người con gồm các ông, bà: Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị Á, Nguyễn Thị C, Nguyễn Quyết T và Nguyễn Thị T4 (bà T4 chết năm 2020, có hai con là Nguyễn Kim Vĩnh H1 và Nguyễn Ngọc T2). Theo Biên bản họp gia đình ngày 28/3/2021 và Văn bản thỏa thuận phân chia và nhường di sản thừa kế ngày 29/3/2021, ông được gia đình thỏa thuận phân chia cho ông hưởng thừa kế của bố mẹ ông là cụ Nguyễn Hữu H3 và cụ Hoàng Thị N1 thửa đất số 136 tờ bản đồ số 1 Bản đồ 299 có diện tích 240m² tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Thửa đất có tứ cận là, phía Bắc giáp thửa 133 của gia đình bà Nguyễn Thị Đ, phía Đông giáp thửa 134 của bác ruột ông là Nguyễn Hữu K, phía Nam giáp bờ mương thoát nước của thôn, phía Tây giáp đường đi của thôn. Tại phía Bắc của thửa đất, bà nội, bác ruột và bố ông có mở một lối đi từ thửa 134 ra đường đi của thôn có kích thước (2x15)m, trong đó có rãnh nước nhỏ khoảng 20cm thoát nước từ thửa 134 ra hệ thống thoát nước chung của thôn, làm ranh giới đất phía Bắc giữa thửa 136 và thửa 133. Trước năm 1964, thửa 133 có nhà hướng Tây, có lối đi ra đường thôn tại vị trí giáp ranh giữa thửa 133 và thửa 127. Sau năm 1964, thửa 133 làm nhà hướng Nam và đi nhờ một đoạn lối đi trên thửa đất của nhà ông với chiều dài khoảng 7m. Do bị lấn đất, nên năm 1993, gia đình ông phải xây tường ngăn không cho lấn đất thì gia đình bà Đ xin tiếp tục đi nhờ lối đi đến khi nào gia đình ông sử dụng thì trả lại. Từ năm 1993 đến năm 2006, nhà ông không có ai ở nhà, bà Đ đã mạo chữ ký của mẹ ông là Hoàng Thị N1 ký vào biên bản xác định mốc giới đất ngày 06/8/2004 để làm thủ tục đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) của bà Đ tại thửa 133 (nay là thửa 372 tờ bản đồ số 11) với diện tích 234m² nhằm chiếm đoạt phần lấn chiếm và đi nhờ đất của ông. Nay ông khởi kiện buộc bà Nguyễn Thị Đ phải trả lại ông 25m² đất đã lấn chiếm và đề nghị hủy GCNQSDĐ đã cấp cho bà Nguyễn Thị Đ, trong đó có phần đất của gia đình ông.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Đất của nhà bà Nguyễn Thị Đ là do ông cha để lại. Tại Bản đồ 299 là thửa 133, diện tích 240m² mang tên chồng bà là ông Nguyễn Văn N2. Năm 2005, là thửa 372 diện tích 234m² (nguyên nhân giảm đi là do gia đình lùi ngõ lại), khi đo đạc bà Hoàng Thị N1, mẹ ông T đã ký giáp ranh giữa hai thửa đất. Ngày 24/6/2006, UBND huyện Y đã cấp GCNQSDĐ cho bà Đ. Từ trước đến nay, nhà bà N1 không hề đi lại trên ngõ nhà bà, lý do phần ngõ đó có cái cổng của nhà bà N1 là do ngày xưa hai gia đình vẫn còn đi lại nên nhà bà N1 xây tường có để lại một cái ngách để thỉnh thoảng đi sang nhà bà, khi nhà bà N1 làm nhà đã làm hết đất và còn xây dựng tường bao quanh từ năm 1993 đến nay. Khi đo đạc hiện trạng thì diện tích nhà bà Đ và nhà bà N1 đều tăng. Tuy nhiên các bên đã đăng ký kê khai và ký biên bản ranh giới, mốc giới với nhau. Việc ông T kiện bà Đ lấn chiếm 25m² đất là không có cơ sở. Đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của ông T.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

Các bà Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Á, Nguyễn Thị T1 trình bày thống nhất với ông T về nguồn gốc đất, lối đi cũ và việc gia đình các bà có cho nhà bà Đ đi nhờ một đoạn ngõ có chiều dài khoảng 7m, khi nào gia đình các bà sử dụng thì bà Đ phải trả lại. Các bà đề nghị đo đạc, xác định lại mốc giới đất của hai gia đình theo Bản đồ 299, đồng thời yêu cầu gia đình bà Đ phải trả lại cho ông T tổng diện tích đất đã lấn là 25m².

Bà Nguyễn Thị T3: Thửa đất 372 là của bố mẹ bà để lại, hiện bà được bố mẹ bà cho xây dựng nhà trên thửa đất này. Giáp đất gia đình bà là đất gia đình ông T. Phần đất tranh chấp trước đây là ngõ đi chung của gia đình ông T, gia đình bà C1 và gia đình bà. Bà xác định phần đất tranh chấp vẫn là ngõ đi chung.

Ông Nguyễn Hữu B: Ông là con trai bà Nguyễn Thị Đ và ông Nguyễn Hữu N3 (chết năm 1990). Bố mẹ ông sinh được 7 người con gồm: Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Tuấn S, Nguyễn Hữu H4, Nguyễn Hữu B, Nguyễn Hữu K1 (đã chết) và Nguyễn Thị T3. Bố mẹ ông được ông cha, tổ nghiệp để lại cho thửa đất số 372, tờ bản đồ số 11, diện tích trong GCNQSDĐ là 234m². Giáp ranh thửa đất của gia đình ông là đất nhà ông T. Tường ngăn cách giữa hai thửa đất, gia đình ông T đã xây khoảng hơn 10 năm nay. Ông xác định phần đất đang tranh chấp là ngõ đi chung.

Anh Nguyễn Kim Vĩnh H1: Mẹ anh là bà Nguyễn Thị T4, con của hai cụ H3 và N1. Do anh không sinh ra và lớn lên tại thôn T nên không biết rõ nguồn gốc đất. Thông qua ông T, là cậu ruột, anh biết việc gia đình bà Đ đã lấn chiếm một phần đất là 25m². Anh đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T về việc buộc gia đình bà Đ phải trả 25m² đất.

Người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện Y trình bày: Thửa đất 372, tờ bản đồ số 11, diện tích 234m² đã được cấp GCNQSDĐ cho bà Nguyễn Thị Đ theo Quyết định số 130/QĐ-UBND ngày 24/02/2006 của UBND huyện Y, đúng quy định, trình tự thủ tục. Đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt UBND huyện Y.

Xác minh tại UBND xã T, huyện Y, đại diện của UBND xã T trình bày: Theo Bản đồ 299 và sổ mục kê: Thửa đất số 133, tờ bản đồ 01, diện tích 240m² mang tên Nguyễn Văn N2; thửa đất số 136, tờ bản đồ 01, diện tích 240m² mang tên Nguyễn Văn H5; thửa đất số 134, tờ bản đồ 01, diện tích 460m² mang tên Nguyễn Văn C2. Phần đất bà Nguyễn Thị H6 thực tế sử dụng xây dựng nhà cấp 4 không thể hiện trên bản đồ. Thửa đất 133 và 134 giáp ranh thửa đất số 136 và phần đất bà H6 sử dụng;

Bản đồ các năm 2005, 2015 và sổ mục kê kèm theo: Thửa số 393, tờ bản đồ 11, diện tích 291m² mang tên hộ Hoàng Thị N1 (mẹ ông T); thửa số 394, tờ bản đồ 11, diện tích 581m² mang tên hộ Nguyễn Thị Q; thửa số 372, tờ bản đồ 11, diện tích 234m² mang tên hộ Nguyễn Thị Đ;

Về nguyên nhân tăng diện tích thửa số 136 của gia đình ông H5 và thửa số 134 của gia đình ông C2 cũng như việc tách một phần của thửa số 134 sang thửa số 136, địa phương không nắm được. Về hình thể thửa đất 134, 136 theo bản đồ 2005 và 2015, có sự thay đổi.

Theo bà Nguyễn Thị N4 - Trưởng thôn T: Lý do diện tích thửa đất 136 của gia đình ông H5 và thửa số 134 của gia đình ông C2 (Khương) tăng lên là do phần đất của bà Nguyễn Thị H6 sử dụng không thể hiện trên bản đồ tặng hai anh trai là ông H5 và ông C2 mỗi người một nửa. Phần ông H5 được tặng cho chính là phần gian bếp của bà H6 sử dụng trước khi chết. Thời điểm trước đây, thửa đất 133, 134, 136 và phần đất của bà H6 đều sử dụng ngõ đi chung của ba hộ là: Hộ ông C2 (K), bà Q, bà H6; hộ ông H5 bà N1; hộ ông N2 bà Đ để đi ra đường làng. Lối đi chung này tiếp giáp các thửa số 133, 134, 136 và phần đất của bà H6.

Đối với cạnh tiếp giáp giữa hai thửa 133 và 136 hiện đang tranh chấp: Theo Bản đồ 299 là một đường thẳng. Do có sự biến động sử dụng đất giữa các hộ nên hiện nay là đường gấp khúc và gia đình bà N1 đã xây tường ngăn cách với thửa số 133 nên có hình thể như hiện trạng.

Năm 2004, gia đình bà N1 kê khai, đăng ký, biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất số 393, tờ bản đồ số 11, diện tích 291m² mang tên Hoàng Thị N1. Gia đình bà Đ kê khai biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa số 372, tờ bản đồ 11, diện tích 234m² mang tên Nguyễn Thị Đ. Gia đình bà Q kê khai thửa số 394, tờ bản đồ 11, diện tích 581m² mang tên Nguyễn Thị Q.

Hiện thửa đất số 372, tờ bản đồ 11, diện tích 234m² của gia đình bà Nguyễn Thị Đ đã được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ số AC 110037, số vào sổ H 00429 ngày 24/02/2006 theo hiện trạng bản đồ năm 2005.

Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản xác định: Hiện trạng gia đình bà Đ đang sử dụng diện tích thực tế là 250,2m². Gia đình ông T quản lý sử dụng diện tích đất 308,6m².

Phần đất đang tranh chấp trên cơ sở kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ xác định có diện tích 19m² và kích thước như sau: Phía Tây 1,99m; phía Bắc 14,77m; phía Đông 0,8m; phía Nam 6,31m + 1,17m + 8,07m. Trong đó phần kích thước 1,17m có ngách đi sang phần lối đi hiện tại của nhà bà Đ (ngách đi hiện có cổng bằng sắt gia đình ông T làm khoảng năm 1993).

Trị giá đất tranh chấp là 19m² x 12.000.000đồng/m² = 228.000.000đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T yêu cầu bà Đ phải trả bằng hiện vật là phần đất kéo dài từ bức tường gia đình ông xây năm 1993 ra phía đường làng, vì trên phần đất này có mái văng và móng chìm của ngôi nhà bê tông 2 tầng, phần đất tranh chấp còn lại giải quyết theo pháp luật.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cho rằng không có việc lấn chiếm đất và đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2023/DS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên đã quyết định:

Căn cứ các Điều 105, 107, 163, 164, 166, 175, 176 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 12, Điều 100, Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; khoản 2 và khoản 9 Điều 26, Điều 34, 37, 39, 147, 157, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và Lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quyết T.

  1. Xác định gia đình bà Nguyễn Thị Đ lấn chiếm của gia đình ông Nguyễn Quyết T 7,5m² đất tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị Đ phải trả lại cho ông Nguyễn Quyết T 7,5m² đất (là hình ABCD trên sơ đồ trong đó: AB = 6,5m; BC = 1,17m; CD = 6,45m; DA = 1,17m) và bà Đ phải tháo dỡ các tài sản của gia đình bà nằm trên phần đất này để trả đất cho ông T. (có sơ đồ kèm theo)
  3. Huỷ GCNQSDĐ số AC 110037, số vào sổ cấp Giấy H 00429, do UBND huyện Y cấp ngày 24/02/2006 cho bà Nguyễn Thị Đ đối với thửa đất số 372, tờ bản đồ số 11, diện tích 234m² tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
  4. Các đương sự có quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để cấp lại GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và tuyên quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 01/12/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T3 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị Thu g nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm nêu trên, theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Nguyên đơn ông Nguyễn Quyết T đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của chị T3, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của chị T3, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 22/2023/DS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; ý kiến trình bày của các đương sự và ý kiến tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Ngày 01/12/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T3 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nêu trên trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn vắng mặt; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về phía nguyên đơn và phía bị đơn đều vắng mặt nhưng đã có người đại diện theo ủy quyền có mặt; người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T3 đối với toàn bộ bản án sơ thẩm:

[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quyết T buộc bà Nguyễn Thị Đ phải hoàn trả diện tích đất lấn chiếm là 19m², Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Nguồn gốc thửa đất số 393 của gia đình ông T và thửa đất số 372 của gia đình bà Đ đều do ông cha để lại. Quá trình sử dụng, hai thửa đất đều đã được kê khai trên bản đồ địa chính và sổ mục kê qua các thời kỳ, cụ thể như sau.

Đối với thửa đất của gia đình ông T: Tại bản đồ 299, thửa đất nhà ông T là thửa số 136 có diện tích 240m²; tại bản đồ năm 2005 và bản đồ năm 2015 là thửa số 393, diện tích 291m². Lý do đất nhà ông T tăng lên so với bản đồ 299 là do được tách một phần từ thửa số 134 sang. Theo kết quả xác minh tại chính quyền địa phương, của Trưởng thôn T và lời khai của ông T, xác định được diện tích đất của thửa 134 tách sang cho gia đình ông T là phần đất của bà Nguyễn Thị H6 em gái ông Nguyễn Hữu H3 (bố ông T). Đo hiện trạng thửa đất nhà ông T, có diện tích thực tế là 308,6m².

Đối với thửa đất của gia đình bà Đ: Tại bản đồ 299 là thửa 133, có diện tích 240m². Tại bản đồ năm 2005 và bản đồ năm 2015 cùng sổ mục kê, là thửa 372, diện tích 234m². Ngày 24/02/2006, bà Đ được UBND huyện Y cấp GCNQSDĐ với diện tích là 234m². Hiện trạng đất bà Đ đang quản lý sử dụng là 250,2m². Như vậy, diện tích đất thực tế nhà bà Đ đang sử dụng tăng so với bản đồ 299 là 10,2m², tăng so với diện tích trong GCNQSDĐ là 16,2m².

Về ranh giới giữa hai gia đình, theo cạnh đất phía Nam của nhà bà Đ: Theo bản đồ 299, đường ranh giới giữa hai thửa đất là một đường thẳng. Đến bản đồ 2005 và 2015, đường ranh giới giữa hai thửa đất trở thành đường gấp khúc.

Ông T, bà C, bà Á và bà T1 đều xác định năm 1993, gia đình ông T xây tường và có để lại một phần đất cho nhà bà Đ làm lối đi. Vì vậy, ranh giới giữa hai nhà có hình gấp khúc như hiện tại. Trên thực tế, gia đình ông T vẫn mở một cổng sắt phụ có chiều rộng 1,17m để đi ra lối đi này. Bà T3, ông B là các con bà Đ cũng thừa nhận khi ông T xây tường có để một phần diện tích đất làm ngõ đi chung và hiện nay vẫn là ngõ đi chung, phù hợp với kết quả xác minh tại chính quyền địa phương và cung cấp của Trưởng thôn T là có một lối đi chung tiếp giáp thửa đất số 136 của nhà ông T và thửa đất số 133 của nhà bà Đ. Hơn nữa, nếu cộng cả phần diện tích đất đang tranh chấp 19m² vào đất nhà bà Đ thì đất nhà bà Đ là 250,2m², trong khi diện tích gia đình bà Đ kê khai và được cấp GCNQSDĐ năm 2006 chỉ là 234m². So với diện tích trong GCNQSDĐ và diện tích kê khai theo bản đồ 299 thì diện tích đất nhà bà Đ đã tăng lên lần lượt là 16,2m² và 10,2m², trong khi bà Đ xác định không được tặng cho hoặc mua thêm đất của ai.

Như vậy, có căn cứ xác định một phần ngõ đi của nhà bà Đ hiện nay đang sử dụng là đất của nhà ông T. Ranh giới đất giữa hai nhà (phía Nam nhà bà Đ, phía Bắc nhà ông T), theo bản đồ gốc 299 là một đường thẳng; bên cạnh đó, ông T đã xây một đoạn tường làm ranh giới giữa hai thửa đất từ năm 1993, phần còn lại do gia đình ông T đã xây nhà 2 tầng nên không xây tường và để lại một phần đất cho nhà bà Đ sử dụng làm lối đi. Vì vậy, ranh giới giữa hai nhà, được xác định bằng bức tường gia đình ông T đã xây, chiếu thẳng hết đất ra lối đi chung trước đây và tiếp giáp với đường bê tông của xóm. Phần diện tích đất nhà bà Đ đang chiếm dụng của nhà ông T trên cơ sở thẩm định và các tài liệu có trong hồ sơ được xác định có diện tích là 7,5m² (chiều rộng 1,17m x chiều dài 6,45m).

Trên thực tế, trong phần đất lấn chiếm 7,5m² mà gia đình bà Đ đang sử dụng để làm lối đi thì có một phần móng chìm và phần mái nhà 2 tầng của ông T nhô ra có diện tích 1,89m² (6,31m chiều dài x 0,3m chiều rộng móng nhà). Nếu buộc bà Đ trả bằng tiền và giao toàn bộ phần đất của nhà ông T bị lấn chiếm cho gia đình bà Đ sử dụng thì ông T sẽ phải tháo dỡ một phần móng nhà và phần mái nhà nhô ra, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết cấu công trình. Vì vậy, để đảm bảo giá trị sử dụng của công trình là ngôi nhà bê tông 2 tầng của ông T. Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc gia đình bà Đ phải trả phần đất ngõ đi bị lấn chiếm có diện tích 7,5m² là phù hợp quy định của pháp luật.

Do yêu cầu khởi kiện của ông T được chấp nhận một phần, nên đối với các tài sản của gia đình bà Đ đã xây dựng trên phần đất lấn chiếm của ông T gồm gạch lát ngõ đi, một phần cổng... Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc gia đình bà Đ phải phá dỡ toàn bộ tài sản, vật kiến trúc xây dựng trên phần đất lẫn chiếm để trả lại đất cho ông T là phù hợp với pháp luật.

[2.2] Đối với yêu cầu hủy GCNQSDĐ số AC 110037, số vào sổ cấp giấy H 00429, do UBND huyện Y cấp ngày 24/02/2006 cho bà Nguyễn Thị Đ đối với thửa đất số 372, tờ bản đồ số 11, diện tích 234m² tại thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:

Như đã phân tích, nhận định tại mục [2.1], xác định gia đình bà Đ lấn chiếm 7,5m² đất của gia đình ông T và buộc phải hoàn trả lại. Mặc dù diện tích của gia đình bà Đ sau khi trừ phần diện tích đất lấn chiếm 7,5m² vẫn còn 242,7m² là nhiều hơn diện tích được cấp trong GCNQSDĐ cũng như diện tích theo bản đồ 299, nhưng cạnh đất tiếp giáp đường bê tông về phía Tây của nhà bà Đ trong GCNQSDĐ có kích thước 15m (đo thực tế là 15,15m) đã lấn sang phần đất của gia đình ông T một đoạn là 1,17m. GCNQSDĐ do UBND huyện Y cấp ngày 24/02/2006 cho bà Đ là không đúng hiện trạng và cấp sang cả phần đất của gia đình ông T. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu của ông T, hủy GCNQSDĐ số AC 110037, số vào sổ cấp giấy H 00429 do UBND huyện Y cấp ngày 24/02/2006 cho bà Nguyễn Thị Đ là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Từ những phân tích, nhận định nêu trên thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị T3 không xuất trình được tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh cho nội dung kháng cáo của chị T3 nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của chị T3, cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên chị Nguyễn Thị T3 phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị T3. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2023/DS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
  2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T3 phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0000096 ngày 15/01/2024 tại Cục Thi hành dân sự tỉnh H. Chị T3 đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, P.HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quang Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 323/2024/DS-PT ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp về quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy gcnqsdđ

  • Số bản án: 323/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy GCNQSDĐ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger