|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 323/2024/DS-PT Ngày: 17/4/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có đặt cọc”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Nguyên Nguyên
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thoa
Ông Nguyễn Tiến Dũng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga là Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ái - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12 và ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 703/DSPT ngày 25 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có đặt cọc”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 3768/2023/DS-ST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 950/2024/QĐPT-DS ngày 28/02/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 3542/2024/QĐ-PT ngày 26/3/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lâm Kim R, sinh năm 1955
Địa chỉ: D T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1989; địa chỉ: F đường số H, khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền (Theo Văn bản ủy quyền số 005383, quyển số 54 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 23/3/2021 của Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh). (có mặt, vắng mặt tuyên án)
- Bị đơn:
1/ Ông Đinh Thế N1, sinh năm 1971
2/ Bà Đinh Thị Hồng T, sinh năm 1976
Cùng địa chỉ: 5 C, Tổ I, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của ông N1, bà T: Bà Trần Thị Kim H, sinh năm 1970; địa chỉ: 2 T, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 000687 ngày 19/01/2024 của V, Thành phố Hồ Chí Minh). (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị H1, sinh năm 1968
Địa chỉ: D T, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1989; địa chỉ: F Đường số H, khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền (Theo Văn bản ủy quyền số 00002692, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/3/2023 của Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh). (có mặt, vắng mặt tuyên án)
- Người kháng cáo: Ông Lâm Kim R là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện và lời trình bày của đại diện nguyên đơn trong quá trình tham gia tố tụng:
Ngày 18/3/2008, ông Lâm Kim R và ông Đinh Thế N1, bà Đinh Thị Hồng T đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất về việc chuyển nhượng một phần thửa đất số 396, tờ bản đồ số 1, xã L, huyện T (tài liệu 299/TTg), tọa lạc tại địa chỉ 5 đường C, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Diện tích phần đất chuyển nhượng là 6m x 20m, giá chuyển nhượng là 156.000.000 đồng (1.300.000 đồng/m²). Khi ký hợp đồng ông R đã thanh toán cho ông N1, bà T số tiền 130.000.000 đồng, số tiền còn lại 26.000.000 đồng hai bên thỏa thuận sẽ thanh toán hết sau khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi ký hợp đồng thì phần đất hai bên thỏa thuận chuyển nhượng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hai bên không xác định cụ thể vị trí phần đất chuyển nhượng, chỉ xác định chuyển nhượng 120m² trong phần đất của gia đình ông N1 được sử dụng. Số tiền đã thanh toán 130.000.000 đồng là tiền đặt cọc đảm bảo cho việc giao kết thực hiện hợp đồng chuyển nhượng và là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của ông R và bà Đặng Thị H1.
Ông R đã nhiều lần liên hệ với ông N1, bà T để yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, tuy nhiên ông N1, bà T không thực hiện, đến nay phần đất chuyển nhượng cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 122, Điều 124, Điều 127, Điều 137, khoản 2 Điều 689 Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 1 Điều 127 Luật đất đai năm 2003 ông Lâm Kim R khởi kiện yêu cầu:
- + Tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/3/2008 giữa ông Lâm Kim R và ông Đinh Thế N1, bà Đinh Thị Hồng T về việc chuyển nhượng phần đất có diện tích 120m² (6m x 12m) thuộc một phần thửa đất số 396, tờ bản đồ số 1, xã L, huyện T (tài liệu 299) tọa lạc tại địa chỉ số E đường C, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là vô hiệu.
- + Yêu cầu ông Đinh Thế N1, bà Đinh Thị Hồng T hoàn trả cho ông Lâm Kim R, bà Đặng Thị H1 số tiền đã nhận là 130.000.000 đồng.
- + Yêu cầu ông Đinh Thế N1, bà Đinh Thị Hồng T bồi thường thiệt hại cho ông Lâm Kim R, bà Đặng Thị H1 phần chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất là 10.000.000 đồng/m² x 120m² = 1.200.000.000 đồng.
Ngày 15/9/2023, người đại diện theo ủy quyền của ông R có đơn yêu cầu vắng mặt tại phiên tòa.
* Ông Đinh Thế N1, bà Đinh Thị Hồng T trình bày trong quá trình tham gia tố tụng:
Ngày 18/3/2008 ông bà có ký hợp đồng với ông R về việc chuyển nhượng phần đất có diện tích 120m² (6m x 12m) thuộc một phần thửa đất số 396, tờ bản đồ số 1, xã L, huyện T (tài liệu 299) tọa lạc tại địa chỉ số E đường C, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông bà đã nhận cọc 130.000.000 đồng. Khi chuyển nhượng 02 bên không xác định cụ thể vị trí đất chuyển nhượng ở đâu trong tổng diện tích khu đất có diện tích khoảng 5.800 m² của gia đình ông N1 tại thửa đất nêu trên. Cho đến nay, ông N1 cũng chưa được chia thừa kế của ba ông là ông Đinh Thế H2 và đất cũng đang còn tranh chấp trong gia tộc nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, ông bà không biết vị trí đất chuyển nhượng ở đâu. Theo quy hoạch thì khu đất nằm trong diện quy hoạch cây xanh. Nay ông R yêu cầu hủy hợp đồng thì ông bà đồng ý, đồng ý trả lại số tiền đã nhận là 130.000.000 đồng, không đồng ý với yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông R.
Sau đó, Tòa án tiếp tục triệu tập bị đơn tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng bị đơn vắng mặt.
* Bà Đặng Thị H1 có người đại diện theo ủy quyền trình bày trong quá trình tham gia tố tụng:
Bà H1 thống nhất với ý kiến, yêu cầu của ông R và không bổ sung gì thêm và có yêu cầu vắng mặt khi xét xử.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 3768/2023/DS-ST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Kim R:
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/3/2008 giữa ông Lâm Kim R và ông Đinh Thế N1, bà Đinh Thị Hồng T về việc chuyển nhượng phần đất có diện tích 120m² thuộc một phần thửa đất số 396, tờ bản đồ số 1, xã L, huyện T (tài liệu 299) tọa lạc tại địa chỉ số E đường C, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là vô hiệu.
- Buộc ông Đinh Thế N1, bà Đinh Thị Hồng T có trách nhiệm trả cho ông Lâm Kim R, bà Đặng Thị H1 số tiền đặt cọc là 130.000.000 (một trăm ba mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày ông Lâm Kim R, bà Đặng Thị H1 có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, ông Đinh Thế N1, bà Đinh Thị Hồng T còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Kim R về việc yêu cầu ông Đinh Thế N1, bà Đinh Thị Hồng T bồi thường số tiền là 1.200.000.000 (một tỷ hai trăm triệu) đồng.
- Ông Đinh Thế N1, bà Đinh Thị Hồng T chịu số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 2.000.000 (hai triệu) đồng và chi phí định giá là 4.000.000 (bốn triệu) đồng. Ông Lâm Kim R đã nộp tạm ứng số tiền này nên ông Đinh Thế N1, bà Đinh Thị Hồng T có trách nhiệm trả lại cho ông Lâm Kim R số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng.
-
Án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Lâm Kim R. Ông Lâm Kim R đã được miễn tạm ứng án phí do thuộc đối tượng là người cao tuổi.
Ông Đinh Thế N1, bà Đinh Thị Hồng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.800.000 (sáu triệu tám trăm ngàn) đồng.
Ngày 11/10/2023 nguyên đơn là ông Lâm Kim R có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
* Tại phiên toà phúc thẩm:
- Ông Nguyễn Văn N trình bày: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu là hoàn toàn do bị đơn, do bị đơn biết rõ diện tích đất, để thực hiện lòng tin bị đơn tiến hành cắm mốc, đo vẽ hiện trạng vị trí cung cấp cho nguyên đơn làm cho nguyên đơn nhầm tưởng là có đầy đủ điều kiện để mua bán. Cấp sơ thẩm chưa xác định thiệt hại. Giá tại thời điểm mua bán với giá tại thời điểm xét xử sơ thẩm có sự chênh lệnh là 7.000.000 đồng/m² x 120m² = 840.000.000 đồng. Nên thiệt hại được xác định là 840.000.000 đồng – 1.300.000. đồng = 838.700.000 đồng. Lỗi hoàn thoàn thuộc về bị đơn, nên phải chịu thiệt hại 838.700.000 đồng.
Do đó đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng: buộc bị đơn ông Đinh Thế N1 và bà Đinh Thị Hồng T bồi thường thiệt hại phần chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm xét xử sơ thẩm với số tiền là: 968.700.000 đồng (840.000.000 đồng - 1.300.000 đồng = 838.700.000 đồng + 130.000.000 đồng).
Với tư cách là người đại diện ủy quyền cho bà Đặng Thị H1, ông Nguyễn Văn N cho biết bà H1 thống nhất với nguyên đơn.
- Bị đơn không kháng cáo, người đại diện ủy quyền của bị đơn vắng mặt.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm:
Về tố tụng: Thẩm phán, các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án và các đương sự trong vụ án đã thực hiện đầy đủ quy định của của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập thể hiện Bản án sơ thẩm đã xét xử là khách quan, phù hợp pháp luật. Do đó không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm vấn công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn Lâm Kim R làm trong hạn luật định, đương sự đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Người đại diện ủy quyền của các bị đơn là bà Trần Thị Kim H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà H.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Căn cứ theo nội dung hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/3/2008, các bên chỉ thỏa thuận chuyển nhượng phần diện tích đất 6m² x 20m² = 120m² với giá 156.000.000 đồng tại địa chỉ số E tổ D, khu phố A, phường L; thỏa thuận về phương thức thanh toán là đặt cọc 130.000.000 đồng, còn lại 26.000.000 đồng khi nào ra giấy đỏ sẽ thanh toán hết. Hợp đồng này lập không được công chứng chứng thực. Những thông tin khác về số thửa, tờ bản đồ không thể hiện. Nguyên đơn và bị đơn cùng thống nhất ý kiến xác định khi chuyển nhượng và hiện nay cả hai bên đều không xác định được cụ thể vị trí 120m² đất chuyển nhượng ở đâu trong tổng diện tích khu đất của gia đình ông N1 tại thửa đất nêu trên.
Như vậy, tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng các bên đã biết được phần đất chuyển nhượng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N1, bà T nhưng vẫn thực hiện ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nhau. Cho đến nay, khu đất các bên thỏa thuận chuyển nhượng vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thuộc khu vực quy hoạch đất cây xanh. Do đó, thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất các bên ký kết đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 106 Luật Đất đai 2003 (Luật Đất đai có hiệu lực tại thời điểm các bên xác lập giao dịch năm 2008). Căn cứ quy định tại Điều 122, Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2005 (Bộ luật Dân sự có hiệu lực tại thời điểm các bên xác lập giao dịch năm 2008) thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này là vô hiệu. Do đó, ông R yêu cầu tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/3/2008 giữa ông Lâm Kim R và ông Đinh Thế N1, bà Đinh Thị Hồng T về việc chuyển nhượng phần đất có diện tích 120m² thuộc một phần thửa đất số 396, tờ bản đồ số 1, xã L, huyện T (tài liệu 299) tọa lạc tại địa chỉ số E đường C, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là vô hiệu là có cơ sở nên được chấp nhận.
[2.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn hoàn trả số tiền đặt cọc 130.000.000 đồng.
Thỏa thuận tại hợp đồng, các bên đương sự xác nhận số tiền đã giao nhận 130.000.000 đồng là tiền đặt cọc. Như vậy có căn cứ xác định các bên đặt cọc để đảm bảo cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà các bên đã ký kết. Tuy nhiên, hợp đồng chuyển nhượng mà các bên thỏa thuận không thể thực hiện được do đã xác định vô hiệu như phân tích ở trên nên ông R yêu cầu ông N1, bà T trả lại số tiền đặt cọc đã giao nhận 130.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005 nên có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn bồi thường phần chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất là 1.200.000.000 đồng.
Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hai bên không thực hiện được là do vô hiệu, không phải do các bên đổi ý không bán, không mua hay thanh toán không đúng hợp đồng nên không áp dụng thỏa thuận của các bên về điều khoản phạt cọc.
Quy định tại điểm a khoản 1 Điều 106 Luật Đất đai 2003 là quyền sử dụng đất chuyển nhượng phải được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất các bên thỏa thuận chuyển nhượng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cả bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng đều biết điều này nhưng các bên vẫn tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng và thỏa thuận đặt cọc để giao kết và thực hiện hợp đồng. Khi ký hợp đồng các bên cũng không xác định cụ thể vị trí đất chuyển nhượng. Cấp sơ thẩm nhận định các bên có lỗi ngang nhau trong việc giao kết hợp đồng này. Căn cứ quy định tại điểm d mục 1 phần I Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình thì trong trường hợp đặt cọc chỉ để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng hoặc chỉ để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng hoặc vừa để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng vừa để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng, nếu cả hai bên cùng có lỗi thì không phạt cọc. Do đó, yêu cầu bồi thường của ông R là không có cơ sở chấp nhận.
Cấp phúc thẩm nhận thấy việc tòa sơ thẩm đã nhận định và tuyên xử như trên là phù hợp và đúng pháp luật. Tại tòa phúc thẩm nguyên đơn không cung cấp thêm chứng cứ nào mới do đó không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn
[3] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp và đúng quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[4] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên người kháng cáo là ông Lâm Kim R phải chịu án phí phúc thẩm, tuy nhiên ông R là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Căn cứ vào Luật Thi hành án Dân sự;
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Đinh Thế N1.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 3768/2023/DS-ST ngày 19/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Kim R:
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 18/3/2008 giữa ông Lâm Kim R và ông Đinh Thế N1, bà Đinh Thị Hồng T về việc chuyển nhượng phần đất có diện tích 120m² thuộc một phần thửa đất số 396, tờ bản đồ số 1, xã L, huyện T (tài liệu 299) tọa lạc tại địa chỉ số E đường C, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là vô hiệu.
- Buộc ông Đinh Thế N1, bà Đinh Thị Hồng T có trách nhiệm trả cho ông Lâm Kim R, bà Đặng Thị H1 số tiền đặt cọc là 130.000.000 (một trăm ba mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày ông Lâm Kim R, bà Đặng Thị H1 có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, ông Đinh Thế N1, bà Đinh Thị Hồng T còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Kim R về việc yêu cầu ông Đinh Thế N1, bà Đinh Thị Hồng T bồi thường số tiền là 1.200.000.000 (một tỷ hai trăm triệu) đồng.
- Ông Đinh Thế N1, bà Đinh Thị Hồng T chịu số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 2.000.000 (hai triệu) đồng và chi phí định giá là 4.000.000 (bốn triệu) đồng. Ông Lâm Kim R đã nộp tạm ứng số tiền này nên ông Đinh Thế N1, bà Đinh Thị Hồng T có trách nhiệm trả lại cho ông Lâm Kim R số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng.
-
Án phí dân sự sơ thẩm:
Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Lâm Kim R. Ông Lâm Kim R đã được miễn tạm ứng án phí do thuộc đối tượng là người cao tuổi.
Ông Đinh Thế N1, bà Đinh Thị Hồng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.800.000 (sáu triệu tám trăm ngàn) đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo các quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
-
Án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Lâm Kim R được miễn án phí phúc thẩm.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án số 323/2024/DS-PT ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có đặt cọc
- Số bản án: 323/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
