Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ T

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 323/2024/HS-ST

Ngày 16 - 09 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tân

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thưởng

Ông Nguyễn Duy Tuyên

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Yến - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 346/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 08 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 359/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 09 năm 2024, đối với bị cáo:

Ngân Văn Đ; sinh ngày 27/10/1994; nơi sinh: tỉnh Thanh Hoá; Nơi cư trú: thôn E, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lái xe; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Đảng viên Đ2, đình chỉ sinh hoạt Đảng từ ngày 29/8/2024; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngân Văn L (đã chết); Con bà: Hà Thị N; Sinh năm 1971; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Lương Thị Q, Sinh năm 1998, con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2019; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Không; Tạm giữ:,T giam: Không. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Bị hại: Ông Ngô Quang H, sinh năm 1949

Địa chỉ: Số nhà B L, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. (đã chết)

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

Anh Ngô Quang H1, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Số nhà B L, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Công ty cổ phần X

Địa chỉ: Số B, tổ C, phường P, quận L, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật:

Ông Lê Văn T1, chức vụ: Giám đốc.

Địa chỉ nhà riêng: Số A ngách E tổ B Bằng A, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 13/4/2024, Ngân Văn Đ có giấy phép lái xe hợp lệ (giấy phép lái xe hạng C), điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29H-810.16 đi trên đường Q thuộc phường Q, thành phố T theo hướng từ thành phố S đi thành phố T (Đ - T), khi đi đến ngã tư Quốc lộ D giao nhau với đường dẫn đi phía bắc Quốc lộ A thuộc phường Q, thành phố T, Đ điều khiển xe ô tô rẽ phải, do thiếu chú ý quan sát nên mặt trước giá đỡ bậc lên xuống bên phải đầu xe ô tô của Đ đâm vào bên phải đuôi xe mô tô biển kiểm soát 36P2 – 6502 do ông Ngô Quang H, sinh năm 1949 trú tại số nhà D L, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa điều khiển. Hậu quả ông H bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh T sau đó bị tử vong.

Sau khi xảy ra vụ việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã phối hợp với các cơ quan chức năng khám nghiệm hiện trường, phương tiện và khám nghiệm tử thi thể hiện như sau:

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Nơi xảy ra tai nạn giao thông là tại ngã tư Q 47 giao nhau với đường dẫn lên phía Bắc QL1A, phường Q, thành phố T. Đây là đoạn đường giao nhau đi theo tín hiệu đèn giao thông. Trước đầu vào ngã tư, trên lề bên phải đường Q chiều thành phố S - thành phố T được đặt hệ thống biển báo “đèn đỏ được phép rẽ phải” và “đường người đi bộ sang ngang”. Tại phía đông ngã tư đường Q có dải phân cách cứng chia đường làm hai chiều phương tiện lưu thông riêng biệt, mặt đường được rải nhựa tương đối bằng phẳng mỗi chiều có bề rộng 09m50. Đường dẫn đi phía Bắc đường tránh Quốc lộ A là đoạn đường một chiều, mặt đường được rải nhựa tương đối bằng phẳng, có bề rộng 12m00.

- Lấy tâm đầu mút dải phân cách cứng phía Đông ngã tư đường Q làm điểm mốc (ký hiệu A), lấy mép bên phải đường Q hướng thành phố S đi thành phố T làm mép giả định (Ký hiệu B), lấy mép bên phải đường dẫn đi phía bắc đường tránh Quốc lộ A hường Nghệ An đi Hà Nội làm mép chuẩn (ký hiệu C).

Vị trí dấu vết, phương tiện, đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ tai nạn giao thông để lại hiện trường được đánh số, mô tả và ghi nhận như sau:

  1. Vết 01: Cách (A) 21m50 về hướng Đông Bắc, cách (B) 07m40 về hướng Bắc, cách (C) 3m00 về hướng Tây là vị trí dầu vết tỳ cà trượt không liên tục, không rõ hình xuất hiện trên mặt đường, kích thước 25,80 x 1m09. Vết có chiều Đ1 chếch T, cuối vết tương ứng với vị trí tâm trục bánh sau xe mô tô gắng BKS: 36P2 - 6502.
  2. Vị trí xe mô tô gắn BKS: 36P2 – 6502 đổ ngã trái trên mặt đường trong tư thế đầu xe quay hướng T, đuôi xe quay hướng Đông Bắc, vị trí tâm trục bánh trước xe mô tô cách (C) là 5m60 hướng Tây, tâm trục bánh sau cách (C) 5m00 về hướng Tây.
  3. Cách đầu vết (1) về hướng T 6m00, cách (C) 5m00 về hướng Tây là tâm đám chất dịch màu nâu đỏ nghi máu và 01 mũ bảo hiểm màu xanh, trong diện kích thước 1m70 x 0m60 xuất hiện trên mặt đường.
  4. Cách đầu vết (1) về hướng Bắc 12m70, cách (C) về hướng Tây 2m20 là vị trí đầu vết tỳ trượt xuất hiện trên mặt đường KT 4m85 x 0m42.Vết có chiều N, bề mặt vết bám dính chất màu đen dạng cao su, cuối vết tương ứng vị trí hàng lốp sau cùng bên phải xe ô tô gắn BKS: 29H – 810.16.
  5. Vị trí xe ô tô gắn BKS: 29H – 810.16 trong tư thế dừng cuối cùng trên đường, đầu xe hướng T, đuôi xe hương Đông Nam, vị trí hình chiếu tâm trục bánh trước bên phải cách (C) về hướng Tây 2m30.

Kết quả khám nghiệm phương tiện:

  • * Xe ô tô biển kiểm soát 29H – 810.16
    • Mặt trước bên phải ba đờ sốc trước cách thành xe bên phải 58cm có vết tỳ trượt làm sạch bụi, mòn xước sơn màu đen, kích thước (51 x 11,5)cm, vết có chiều từ trước về sau, từ phải qua trái. Bề mặt vết có các đường xước cong và bám dính các sợi tơ vải màu xanh, vết cao cách mặt đất 81 – 92cm.
    • Mặt trước dưới giá đỡ bậc lên xuống bên phải đầu xe, mặt dưới bên phải ba đờ sốc trước có vết cà trượt làm mòn xước sơn màu đen, mòn xước kim loại, kích thước (38 x 42)cm vết có chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, bề mặt vết bám dính chất màu tím dạng sơn và chất màu vàng dạng nhựa, vết cao cách mặt đất 57cm – 75cm.
    • Mặt trước dưới cầu trước má trong lốp trước bên phải có các vết cà trượt làm sạch bụi, mòn xước cao su và kim loại, kích thước trên cầu trước là (95 x14)cm, trên lốp kích thước (22 x 24)cm, vết có chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới, vị trí cao nhất của vết so với mặt đất là 44cm.
    • Mặt và má ngoài các lốp 01, 02, 03 bên phải (tính từ đầu xe xuống) có các vết tỳ trượt làm sạch bụi, bề mặt vết có bám dính chất màu nâu đỏ dạng máu (BL 37-38).
  • * Xe mô tô biển kiểm soát 36P2 - 6502:
    • Mặt sau ngoài bên phải tay nâng, ốp nhựa đuôi xe và ốp nhựa đèn xi nhan sau bên phải có vết cà trượt làm sạch bụi, mòn cao su, sơn màu tím và nhựa màu vàng, kích thước (12,5 x 16)cm, chiều hướng vết từ sau về trước, từ trái qua phải, bề mặt vết bám dính chất màu đen dạng nhựa, chất màu nâu dạng han rỉ, vết cao cách mặt đất 64 – 76cm.
    • Mặt dưới ngoài dưới ống bô, giá để chân sau, giá để chân trước bên phải, bên phải lốc máy, bên phải yên xe, mặt trước cánh yếm bên phải đầu xe và giảm xóc dưới bên phải có các vết cà trượt làm mòn nhựa, kim loại và cao su, chiều hướng vết từ dưới lên trên, từ trước về sau, bề mặt vết bám dính chất màu nâu dạng han rỉ, bụi đất, vết cao so với mặt đất 25 – 115cm, vết nằm trong diện (140 x 90)cm, vết làm cong vênh, bóp méo giá để chân trước, bên phải đầu xe và đuôi ống bô.
    • Bên trái xe có các vết cà trượt làm mòn nhựa, kim loại và cao su, chiều hướng vết từ trên xuống dưới, bề mặt vết bám dính chất bột màu trắng đục dạng bột đá.

Ngày 16/4/2024, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định Phòng PC09 - Công an tỉnh T giám định dấu vết cơ học đối với xe ô tô gắn BKS: 29H – 810.16 và mô tô gắn BKS: 36P2 – 6502. Tại bản kết luận giám định số 1769/KL-KTHS ngày 04/5/2024 của Phòng PC09 - Công an tỉnh T kết luận:

  • Va chạm giữa hai phương tiện: Mặt trước dưới giá đỡ bậc lên xuống bên phải đầu xe, mặt dưới bên phải ba-đờ-sốc trước xe ô tô gắn BKS: 29H – 810.16 với mặt sau ngoài bên phải tay nâng, ốp nhựa đuôi xe và ốp nhựa đèn xi-nhan sau bên phải xe mô tô gắn BKS 36P2 – 6502.
  • Tại thời điểm va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết tỳ cà trượt trong khu vực giao nhau giữa Quốc lộ D với đường dẫn đi phía Bắc đường tránh Quốc lộ A.
  • Vị trí va chạm: Tương ứng vị trí 1/3 giữa vết cà trượt số 1 thể hiện trên sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông.
  • Không đủ cơ sở xác định vận tốc của xe ô tô gắn BKS: 29H – 810.16 và mô tô gắn BKS: 36P2 – 6502 tại thời điểm xảy ra tai nạn.

Kết luận giám định pháp y tử thi: Số 1781/KLGĐTT-PC09 ngày 04/5/2024 của Phòng PC09 - Công an tỉnh T kết luận: Nguyên nhân chết của ông Ngô Quang H do đa chấn thương.

Về dân sự: Bị cáo Ngân Văn Đ đã thoả thuận bồi thường cho đại diện gia đình nạn nhân là anh Ngô Quang H1 (con trai nạn nhân). Anh H1 đã nhận đủ số tiền, không có yêu cầu gì thêm về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Ngân Văn Đ.

Về vật chứng thu giữ và xử lý:

  • Đối với xe mô tô biển kiểm soát 36P2-6502, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là tài sản là ông Ngô Quang H, Cơ quan CSĐT đã trả lại cho đại diện gia đình bị hại.
  • Đối với xe ô tô biển kiểm soát 29H-.81016, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là Công ty cổ phần X. Do đó Cơ quan CSĐT Công an thành phố T trả chiếc xe cho Công ty cổ phần X quản lý sử dụng.
  • 01 (một) Giấy phép lái xe số [...] mang tên Ngân Văn Đ đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 273/CT-VKS ngày 28 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) thành phố T, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Ngân Văn Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).

Tại phiên toà, đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS để xử phạt Ngân Văn Đ mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là từ 36 tháng đến 48 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị Áp dụng Điều 106 BLTTHS trả lại 01 (một) Giấy phép lái xe số [...] mang tên Ngân Văn Đ.

Ngoài ra đại diện VKSND còn đề nghị về án phí và quyền kháng cáo.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Ngân Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiêm tử thi, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định tử thi và các tài liệu, chứng cứ khác do cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố T đã thu thập được.

Đại diện hợp pháp của bị hại anh Ngô Quang H1 đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Ngân Văn Đ.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Về trách nhiệm hình sự: Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 13/4/2024, Ngân Văn Đ có giấy phép lái xe hợp lệ, điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29H-810.16 trên đường Quốc lộ 47 theo hướng Đ-T, khi đi đến ngã tư giao nhau giữa Quốc lộ D với đường dẫn Quốc lộ A, thuộc địa phận phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, Đ điều khiển xe rẽ phải do thiếu chú ý quan sát nên mặt trước dưới giá đỡ bậc lên xuống bên phải đầu xe ô tô do Đ điều khiển đâm va vào bên phải đuôi xe mô tô biển kiểm soát 36P2 – 6502 do ông Ngô Quang H đi phía trước cùng chiều điều khiển. Hậu quả ông H tử vong do đa chấn thương. Hành vi phạm tội nêu trên của Ngân Văn Đ đã vi phạm Điều 12, Điều 15 Luật giao thông đường bộ làm thiệt hại đến tính mạng của người khác, gây hậu quả nghiêm trọng, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã có hành vi phạm vào điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có 03 tình tiết giảm nhẹ như sau: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai trung thực các tình tiết của vụ án là đã thành khẩn khai báo, bị cáo đã tự nguyện thực hiện xong việc bồi thường cho gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã có thời gian phục vụ trong quân ngũ, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở thôn kinh tế đặc biệt khó khăn được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[5] Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, của bị cáo về việc cho bị cáo được hưởng hình phạt tù cho hưởng án treo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định để cơ quan có thẩm quyền giám sát, giáo dục nên không cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội. Việc cho bị cáo án phạt tù cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội hay ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự địa phương. Ngoài ra cho bị cáo cải tạo ngoài cộng đồng còn thể hiện chính sách pháp luật nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước. Do đó, Hội đồng xét xử nhất trí áp dụng điều 65 BLHS đối với bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Sau tai nạn, bị cáo vay mượn để đền bù cho gia đình bị hại nên việc miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là cách thức để bị cáo có điều kiện tích cực lao động khắc phục thiệt hại về kinh tế, chăm lo cho gia đình. Vì thế Hội đồng xét xử cân nhắc và quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về vật chứng:

  • Đối với xe mô tô biển kiểm soát 36P2-6502, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là tài sản là ông Ngô Quang H, Cơ quan CSĐT đã trả lại cho đại diện gia đình bị hại nên không xem xét.
  • Đối với xe ô tô biển kiểm soát 29H-.81016, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là Công ty cổ phần X. Do đó Cơ quan CSĐT Công an thành phố T trả chiếc xe cho Công ty cổ phần X quản lý sử dụng nên không xem xét.
  • 01 (một) Giấy phép lái xe số [...] mang tên Ngân Văn Đ đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án do không liên quan đến hành vi phạm tội và cũng không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS; Điều 106, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 331, Điều 332, Điều 333 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội::

Tuyên bố: Bị cáo Ngân Văn Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: N1 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/09/2024).

Giao bị cáo Ngân Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

Xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 (một) Giấy phép lái xe số [...] mang tên Ngân Văn Đ.

Án phí: Buộc bị cáo Ngân Văn Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng án phí hình sự sơ thẩm).

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án này, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - CQĐT CA thành phố T;
  • - CQTHAHS CA thành phố T;
  • - VKSND thành phố T;
  • - TAND, VKSND, sở tư pháp tỉnh Thanh Hoá;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Tân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Thu Hà Lê Thị Thủy Nguyễn Thanh Tân
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 323/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 323/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: gây tai nạn chết 01 người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger