|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 171/2024/HS-ST Ngày 10-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Lý
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Hà
Bà Nguyễn Thị Thoa
ảng Phong - Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Minh Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Trà My - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 153/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Bích H, sinh năm 1986 tại Hải Phòng; ĐKHKTT: SỐ E Đ, phường Đ, Quận L, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Số D Chợ H, phường D, Quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân Đ và bà Tạ Thị H1, có chồng là Đặng Xuân T và 02 con. Tiền án: Bản án số 06/2019/HS-ST ngày 22/01/2019, Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp với 09 tháng tù của bản án số 15/2017/HSST ngày 11/9/2017 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, tổng hợp hình phạt chung là 33 tháng tù. Tiền sự: Không. Về nhân thân: Bản án số 139/2015/HSST ngày 21/10/2015, Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; Bản án số 15/2017/HSST ngày 11/9/2017, Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/3/2024. Có mặt.
2. Nguyễn Thị Diệu L, sinh ngày 25/11/1985 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số D Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức K và bà Hoàng Thị L1, có chồng là Trần Đăng H2 và 01 con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/3/2024. Có mặt.
- Bị hại: Ban Q; địa chỉ: Đường B, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Người đại diện: Ông Lưu Sỹ H3 – Trưởng Ban Q; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 05/3/2024, H đi xe đạp từ nhà ở mang theo 01 túi xách màu đen, 01 tô vít, đến đền Q để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, H để xe đạp vào một ngõ nhỏ, H đi bộ ra đường 208 rồi trèo tường vào bên trong khuôn viên đền Q. Hường đến khu vực đền Q chính, cạy cửa vào trong nhưng không được nên đã trèo lên mái rồi xuống theo khe hở của đền thờ chính. H dùng áo che mắt camera an ninh, lấy tô vít mang theo cạy mở khóa hòm công đức lấy toàn bộ tiền và phong bì ở trong. Tổng số tiền trong hòm và tiền trong phong bì là 15.700.000 đồng. Hường cất số tiền 8.000.000 đồng gồm 15 tờ mệnh giá 500.000 đồng, 02 tờ mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng vào trong túi áo, còn toàn bộ số tiền lẻ để vào trong túi nilon rồi cho vào túi xách. Sau đó, H mở cửa đền thờ chính từ bên trong đi ra ngoài khuôn viên, trèo tường bao ở phía sau ra ngoài rồi đạp xe đến khu vực gần chợ H4 thuộc phường S, quận H, thành phố Hải Phòng lấy 400.000 đồng mua ma tuý Heroine để sử dụng. Khoảng 04 giờ cùng ngày, H về nhà, bỏ túi tiền ra, nói cho L biết là tiền vừa trộm cắp được rồi cùng L đếm số tiền lẻ được 7.300.000 đồng. Hường đưa số tiền này cho L để chi tiêu chung.
Lời khai nhận tội của Nguyễn Bích H, Nguyễn Thị Diệu L phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và kết luận giám định.
Cáo trạng số 170/CT-VKSAD ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Bích H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Nguyễn Thị Diệu L về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đại diện Ban Q Nguyễn Đức C không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Dương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
2
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; các điểm b,n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Bích H, xử phạt bị cáo Nguyễn Bích H mức án từ 27 tháng tù đến 33 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 323; Điều 36; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Diệu L. xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Diệu L mức án từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Khi nói lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ và kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng hơn 01 giờ ngày 06/3/2024, Nguyễn Bích H đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 15.700.000 đồng trong hòm công đức của Nhà tưởng niệm đồng chí Nguyễn Đức C, Nguyễn Thị Diệu L biết rõ tài sản do Nguyễn Bích H trộm cắp mà có nhưng vẫn sử dụng số tiền 7.300.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Bị cáo Nguyễn Bích H có hai tiền án nên bị cáo đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị Diệu L đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình; hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của các bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và răn đe phòng ngừa chung.
3
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, quá trình điều tra thành khẩn khai báo, đối với bị cáo L còn tỏ ra ăn năn hối cải, được hưởng các tình tiết quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.Bị cáo Nguyễn Bích H được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phụ nữ có thai phạm tội qui định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị Diệu L phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về phần hình phạt:
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, việc xử phạt bị cáo Nguyễn Bích H cần áp dụng mức hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt tù là thỏa đáng. Bị cáo Nguyễn Thị Diệu L nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vì ở cùng nhà với bị cáo H nên khi bị cáo đưa tiền cho để chi tiêu, biết rõ là tiền do H trộm cắp mà có nhưng vẫn sử dụng; vì vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội nên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ với bị cáo L là thỏa đáng.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 323 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét tính chất, hành vi phạm tội và hoàn cảnh gia đình các bị cáo thì không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo L.
[6]. Về xử lý vật chứng: 01 hòm công đức bằng gỗ kích thước: 60cm x 40cm x 70cm; 01 ghế tựa bằng gỗ; 02 phong bì giấy màu trắng và đỏ, bị xé; số tiền 15.700.000 đồng do H và L nộp lại Cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện hợp pháp của Ban Q; 01 USB chứa dữ liệu camera thu tại hiện trường kèm theo hồ sơ vụ án. Xe đạp mini do Nguyễn Bích H mượn của bạn (không xác định được lai lịch) không thu giữ được. 01 áo phông ngắn tay màu đen; 01 áo khoác dài tay màu đen; 01 túi da màu đen; 01 tô vít hai cạnh là các tài sản, công cụ mà bị cáo Nguyễn Bích H sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, tiêu huỷ theo quy định.
[7]. Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Ban Q đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8]. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn quy định của pháp luật.
4
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; các điểm b, s, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Bích H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án phạt tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 323; Điều 36; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Diệu L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, xử phạt bị cáo 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, thời điểm chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự công an huyện A, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Diệu L cho Ủy ban nhân dân phường D, Quận L, thành phố Hải Phòng để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Nguyễn Thị Diệu L có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường D, Quận L, thành phố Hải Phòng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Người chấp hành án có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều 100 Luật Thi hành án hình sự, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
- Người chấp hành án khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người chấp hành án khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người chấp hành án vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
- Việc giải quyết trường hợp người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.
5
- Người chấp hành án không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án.
- Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Thị Diệu L .Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ 01 áo phông ngắn tay màu đen có chữ Gucci màu trắng trước ngực; 01 áo khoác dài tay màu đen có tem chữ Nefertiti; 01 túi đeo bằng da màu đen; 01 tua vít hai cạnh có cán bằng nhựa trong suốt.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A và Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo và bị hại đều có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Hồng Lý |
6
7
Bản án số 171/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (criminal) - trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 171/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Criminal) - Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Linh, Huong pham toi
