TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 323/2024/DS-ST
Ngày: 04/6/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trúc Lý
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đào Quốc Thắng
- Bà Nguyễn Thị Thanh Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Đào – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Hiền, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 419/2023/DSST ngày 03 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐST-XX-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam).
Địa chỉ: Số I đường P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Phước Quỳnh G (vắng mặt – có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Dương Thị Phương L, sinh năm 1980. (vắng mặt)
Địa chỉ: Số G, đường A, Khu A, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ nguyên đơn Công ty T (Việt Nam) có người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Phước Quỳnh G trình bày:
Ngày 12/5/2022 Công ty T (VIỆT NAM) (sau đây gọi tắt là Công ty T) ký Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số: 3153328 ngày 10/5/2022 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho bà Dương Thị Phương L với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng. Sau khi ký kết, Công ty T đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bà Dương Thị Phương L. Theo Hợp đồng tín dụng, bà Dương Thị Phương L có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền là 1.777.497 đồng trong kỳ hạn là 30 tháng kể từ ngày 10/6/2022 đến ngày 10/11/2024.
Tuy nhiên, sau khi được giải ngân từ ngày 14/9/2022 bà Dương Thị Phương L đã không thanh toán/ thanh toán không đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T đã giải ngân.
Công ty T đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị bà Dương Thị Phương L thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty T cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho bà Dương Thị Phương L biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, bà Dương Thị Phương L vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T.
Do đã gửi thông báo nhắc nợ nhưng bà Dương Thị Phương L vẫn cố tình không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo HĐTD cho phía Công ty T. Nay Công ty yêu cầu bà Dương Thị Phương L thanh toán cho Công ty T tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 04/6/2024 là 56.437.240 đồng. Trong đó:
- - Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 29.389.790 đồng.
- - Số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi phát sinh trong hạn): 15.394.095 đồng.
- - Số tiền lãi dư trên nợ gốc bị quá hạn (lãi quá hạn): 10.131.071 đồng.
- - Số tiền lãi chậm trả: 1.522.284 đồng.
Công thức tính lãi:
- - Số tiền lãi trong hạn = Tổng số tiền lãi chưa trả mỗi kỳ
- - Số tiền lãi quá hạn = 150% x Lãi suất x Số tiền gốc chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn: 365 ngày
- - Số tiền lãi chậm trả = 10% x Số tiền lãi chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn: 365 ngày
Ngoài ra Công ty còn yêu cầu buộc bà Dương Thị Phương L phải thanh toán lãi, phí phát sinh kể từ ngày 05/6/2024 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn bà Dương Thị Phương L vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- + Về việc tuân theo pháp luật: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đều tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án theo quy định tại Điều 48, Điều 51, Điều 63, Điều 203, từ Điều 239 đến Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Về nội dung vụ án: Căn cứ Hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Công ty T (Việt Nam) và bà Dương Thị Phương L là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp quy định pháp luật. Bà Dương Thị Phương L vi phạm nghĩa vụ thanh toán được các bên thỏa thuận trong hợp đồng là gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty T (Việt Nam). Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và nghe ý kiến trình bày của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Xét đơn khởi kiện của nguyên đơn, Hợp đồng tín dụng mà hai bên ký kết, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là quan hệ hợp đồng dân sự về Tranh chấp hợp đồng tín dụng. Do bị đơn cư trú tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: Toà án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hòa giải và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Giấy triệu tập đương sự, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà cho bị đơn là bà Dương Thị Phương Linh P theo quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bà Dương Thị Phương L vẫn vắng mặt. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà Dương Thị Phương L theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về yêu cầu của các đương sự:
- Về yêu cầu thanh toán số tiền gốc và lãi của Hợp đồng tín dụng:
Xét Hợp đồng tín dụng thể hiện thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung không trái với quy định pháp luật nên có hiệu lực từ thời điểm các bên giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 385 và Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Xét, trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng thì bà Dương Thị Phương L vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Công ty khởi kiện yêu bà Dương Thị Phương L thanh toán số tiền nợ các khoản vay còn thiếu là phải thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và lãi cho Công ty đến ngày 04/6/2024 với tổng số tiền là 56.437.240đồng (Năm mươi sáu triệu bốn trăm ba mươi bảy ngàn hai trăm bốn mươi đồng), trong đó số nợ dư gốc còn lại chưa thanh toán là 29.389.790 đồng, số tiền lãi còn phải thanh toán là 15.394.095 đồng, số tiền lãi dư trên nợ gốc chưa thanh toán là 10.131.071 đồng, số tiền lãi chậm trả trên tiền lãi chưa thanh toán là 1.522.284 đồng và nợ lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 05/6/2024 theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi bà L thanh toán xong các khoản nợ là có cơ sở và phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật Tổ chức tín dụng năm 2010 nên có căn cứ chấp nhận.
Xét, trong quá trình giải quyết vụ án bà Dương Thị Phương L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để trình bày ý kiến, yêu cầu do đó không có cơ sở xem xét.
- Về thời hạn và phương thức thanh toán:
Công ty khởi kiện yêu cầu bà Dương Thị Phương L thanh toán số tiền nợ trên một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, ông bà Dương Thị Phương L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán được các bên thỏa thuận trong Hợp đồng đã gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty, do đó việc Công ty yêu cầu bà Dương Thị Phương L thanh toán số tiền nợ trên một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở chấp nhận.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Dương Thị Phương L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho Công ty T (Việt Nam) là 56.437.240đồng, do đó án phí bà Dương Thị Phương L phải chịu là 2.822.000 đồng.
Hoàn trả cho Công ty T (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí là phí 1.035.874 đồng (Một triệu không trăm ba mươi lăm ngàn tám trăm bảy mươi bốn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T (Việt Nam).
Buộc bà Dương Thị Phương L có trách nhiệm thanh toán cho Công ty T (Việt Nam) đến ngày 05/9/2023 với số tiền nợ gốc và lãi là 56.437.240đồng (Năm mươi sáu triệu bốn trăm ba mươi bảy ngàn hai trăm bốn mươi đồng), trong đó số nợ dư gốc còn lại chưa thanh toán là 29.389.790 đồng, số tiền lãi còn phải thanh toán là 15.394.095 đồng, số tiền lãi dư trên nợ gốc chưa thanh toán là 10.131.071 đồng, số tiền lãi chậm trả trên tiền lãi chưa thanh toán là 1.522.284 đồng.
Kể từ ngày 05/6/2024, nợ lãi tiếp tục phát sinh theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo Hợp đồng mà hai bên đã ký kết cho đến khi bà Dương Thị Phương L thanh toán xong số tiền còn nợ.
Thời hạn thanh toán: Một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bà Dương Thị Phương L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2. 822.000 đồng (Hai triệu tám trăm hai mươi hai đồng).
- - Hoàn trả cho Công ty T (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí 1.035.874 đồng (Một triệu không trăm ba mươi lăm ngàn tám trăm bảy mươi bốn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006711 ngày 03/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Trúc Lý |
Bản án số 323/2024/DS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 323/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
