|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 323/2025/DS-PT
Ngày: 13-6-2025
Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Trịnh Thị Phúc
Các Thẩm phán:Ông Đặng Văn Những
Ông Nguyễn Thiện Tâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phạm Khánh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 129/2025/TLPT-DS ngày 23 tháng 4 năm 2025, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 119/2024/DS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 150/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành N, sinh năm: 1969 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm: 1966 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
-
Bị đơn: Ông Trần Thanh H, sinh năm: 1952 (đã chết ngày 29/8/2022).
Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn:
- Bà Trần Thanh Kim X, sinh năm: 1971.
Địa chỉ: Khu A, ấp C, xã P, huyện B, tỉnh Long An.
- Bà Trần Thị Mỹ T, sinh năm: 1973.
Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Ông Trần Thanh M, sinh năm: 1976.
Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Ông Trần Thanh T1, sinh năm: 1978.
Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Bà Trần Thị Kim N1, sinh năm: 1992.
Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà X, bà T, ông M, ông T1, bà N1: Bà Vũ Thị Tuyết H1, sinh năm: 1966 (có mặt).
Địa chỉ: 1, Đường C, Phường A, Quận A, TP Hồ Chí Minh.
- Bà Văn Thị K, sinh năm: 1953.
Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà K: Bà Đỗ Lê Tuyết P, sinh năm: 1975 (có mặt).
Địa chỉ: C, L tỉnh 5, Phường E, Quận H, TP Hồ Chí Minh.
- Bà Trần Thanh Kim X, sinh năm: 1971.
1.3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Lương Thị Kim L, sinh năm: 1965 (Vợ của ông N, vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- - Bà Văn Thị K, sinh năm: 1953 (Vợ của ông H)
Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- - Người đại diện theo ủy quyền của bà K: Bà Đỗ Lê Tuyết P, sinh năm: 1975 (có mặt).
Địa chỉ: C, L tỉnh 5, Phường E, Quận H, TP Hồ Chí Minh.
- - Ủy ban nhân dân huyện C (vắng mặt).
Địa chỉ: Khu A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
- - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh L (vắng mặt).
Địa chỉ: K - Khu T tỉnh Long An, số D, đường S, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An.
- - Ông Nguyễn Phú T2, sinh năm: 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
1.4. Người làm chứng: Bà Huỳnh Thị Kim L1, sinh năm: 1972 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Thành N, bà Đỗ Lê Tuyết P là người đại diện theo ủy quyền của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là bà Văn Thị K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/6/2020 và tại biên bản hòa giải ngày 14/12/2020, nguyên đơn ông Nguyễn Thành N trình bày: Yêu cầu ông Trần Thanh H phải tự tháo dỡ nhà bếp và tự di dời tất cả các cây dừa trên phần đất lấn chiếm để trả lại cho ông N khoảng 60m², thuộc một phần thửa đất 346, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Theo đơn khởi kiện ngày 08/8/2022, ngày 13/12/2022, nguyên đơn ông Nguyễn Thành N trình bày: Yêu cầu ông Trần Thanh H phải tự tháo dỡ nhà bếp và tự di dời tất cả các cây dừa trên phần đất lấn chiếm để trả lại cho ông N 44m², thuộc một phần thửa đất 346, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: U 571168 số vào sổ 00729 cấp ngày 24/12/2001 cho ông Trần Thanh H tại thửa đất 340, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CQ 781382 cấp ngày 11/02/2019 cấp cho ông Nguyễn Thành N tại thửa đất 346, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Tại biên bản hòa giải ngày 16/10/2023 và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn là ông Nguyễn Văn S trình bày:
Nguồn gốc thửa đất 3314, diện tích 2.310m² là của ông Nguyễn Văn H2 (cha ông N) cho ông N vào năm 1993 và ông N được cấp giấy vào thời điểm đó nhưng hồ sơ cấp giấy đã bị thất lạc nên không thu thập được (ông N cũng không yêu cầu Tòa án thu thập hồ sơ cấp giấy này). Đến năm 2001, ông N được cấp lại thành thửa 346, diện tích 1.453m², thời điểm này cấp giấy không có đo đạc thực tế. Do cấp thiếu đất nên ông N có khiếu nại. Đến năm 2019, thì có tiến hành đo đạc cấp đổi lại giấy, thời điểm này ông N có ký biên bản giáp ranh với phía ông H và các bên liên quan nhưng biên bản giáp ranh lúc đó không thể hiện rõ ranh giới đất, khi được cấp giấy xong thì ông phát hiện ra tiếp tục cấp thiếu diện tích và có sai ranh nên ông khiếu nại từ đó đến nay. Hàng rào xây gạch và rào lưới B40 phía trước là do con ông xây dựng từ cuối năm 2018 (xây sau khi đo đạc xong nhưng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
Nay, ông Nguyễn Thành N yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung sau:
- Buộc gia đình ông H phải tháo dỡ vật kiến trúc và cây trồng trên khu đất A3 để trả đất cho ông N.
- Yêu cầu Tòa án công nhận các khu đất B1, A4, A5, A2 cho ông N.
- Yêu cầu Tòa án tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đã cấp cho ông Nguyễn Thành N tại thửa 346.
- Yêu cầu Tòa án tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đã cấp cho ông Trần Thanh H tại thửa 340 để cấp lại cho đúng hiện trạng.
Đối với cây trồng thì nếu gia đình ông H không chịu di dời thì ông yêu cầu được sử hữu và hoàn trả lại giá trị theo định giá. Còn công trình xây dựng thì phải tháo dỡ, ông không đồng ý hoàn trả giá trị.
Ông Nguyễn Văn S đại diện cho ông Nguyễn Thành N thống nhất với M1 trích đo và Chứng thư thẩm định giá, không yêu cầu đo đạc hay định giá lại.
Tại biên bản hòa giải ngày 14/12/2020, bị đơn ông Trần Thanh H trình bày: Ông có thửa đất 340, tờ bản đồ số 19, diện tích 962m², loại đất ở nông thôn, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An. Nguồn gốc là mua của bà Nguyễn Thị V vào năm 1979, lúc đó có 01 cái nền khoảng 200m², ông lấp đất xung quanh từ từ. Năm 2001, ông đến UBND xã T làm thủ tục đăng ký, địa chính xã khảo sát mới làm thủ tục về huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ba cây dừa hiện hữu là do ông trồng năm 1983, nhà cấp 4 là ông xây dựng năm 1994 cùng với nhà bếp, năm 2015 nhà bếp sập chưa có tiền cất nên đến đầu năm 2020 thì ông mới xây lại nhà bếp bằng tường, lợp tole xi măng khoảng 16m² nhưng không có ai ngăn cản. Ông N kéo lưới B40 xung quanh vào năm 2017 đến năm 2019 thì xây hàng rào tường khoảng 20m. Do ông xây nhà bếp, trồng dừa trên đất của ông nên ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông N.
Theo đơn phản tố ngày 15/5/2023, bà Văn Thị K trình bày: Yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Thành N tháo dỡ hàng rào, trả lại cho ông Trần Thanh H phần đất đã chiếm sử dụng, diện tích đất: 351m², loại đất ONT, thuộc một phần thửa 340, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An (Khu A – Mảnh trích đo địa chính số 60TT – 2021 – Do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện C duyệt ngày 23/6/2021). Yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất thực tế theo hiện trạng của thửa đất số: 340, tờ bản đồ số 19, diện tích: 1.158,2m², loại đất: ở nông, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An. (Khu A1, A2, A3, A4, A5 – Mảnh trích đo địa chính số 60TT – 2021 – Do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện C duyệt ngày 23/6/2021). Không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành N về việc buộc ông Trần Thanh H trả lại 44m², thuộc một phần thửa 346, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An vì gia đình ông H không có lấn chiếm đất của ông N.
Tại biên bản hòa giải ngày 16/10/2023 và tại phiên tòa, bà Vũ Thị Tuyết H1 đại diện cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H trình bày: Đối với yêu cầu của nguyên đơn thì bà chỉ đồng ý trả lại khu B1, còn lại tất cả các yêu cầu khác thì không đồng ý. Lý do: Đối với khu B1 thì thuộc đất lúa của ông N nên trả lại; các khu A3, A4, A5 là đất thổ của ông H nên không đồng ý mà ngược lại yêu cầu Tòa án buộc ông N phải trả lại. Ranh giới của 02 bên đã được xác định từ năm 1976, gia đình ông H đã sử dụng từ đó đến nay và cụ thể nhất là năm 2018, sau khi đo đạc xong thì ông N đã thống nhất và tự xây dựng hàng rào làm ranh giới như hiện nay. Đối khu A2, thì đất thổ thuộc thửa 340 của ông H nhưng do ông N lấn chiếm và làm hàng rào ranh giới như hiện nay nên yêu cầu ông N trả lại. Khu A2 này thì gia đình ông H đã sử dụng từ năm 1976 đến năm 2019 thì gia đình ông N lấn chiếm. Hiện trạng trước đây là hố bom, gia đình ông H san lấp từ từ để sử dụng trồng dừa và trồng mít nhưng hiện nay đã bị chết. Việc san lấp và sử dụng phần đất này thì chỉ có những người lớn tuổi và bà K vợ ông H biết, hiện nay thì những người lớn tuổi này đã chết hết. Năm 2019, ông N lấn chiếm thì gia đình ông H có phản đối nhưng do ông N đi khiếu nại trước nên gia đình ông H không đi khiếu nại mà tham gia giải quyết theo yêu cầu của ông N. Trường hợp nếu Tòa án xét xử công nhận khu đất A2 cho ông N thì gia đình ông H cũng không yêu cầu hoàn trả công sức bồi đắp đất.
Bà Đỗ Lê Tuyết P đại diện cho bà Văn Thị K trình bày: Thửa đất 340 là tài sản chung của ông H và bà K. Đồng ý với phần trình bày của bà H1, không có ý kiến bổ sung gì thêm.
Bà Vũ Thị Tuyết H1 và bà Đỗ Lê Tuyết P thống nhất với M1 trích đo và Chứng thư thẩm định giá, không yêu cầu đo đạc hay định giá lại.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 119/2024/DS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An đã tuyên xử:
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thành N về tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bị đơn Trần Thanh H (những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông H là: Trần Thị Kim X1, Trần Thị Mỹ T, Trần Thanh M, Trần Thanh T1, Trần Thị Kim N1, Văn Thị K) về việc yêu cầu công nhận Khu A2 (diện tích 351m²) và trả lại Khu B1 (diện tích 1m²) thuộc Mảnh trích đo địa chính số 60TT – 2021 – Hệ tọa độ VN2000 – Khu vực nông thôn – Ấp D – Tờ bản đồ số 19 của Công ty TNHH Đ ngày 18/6/2021 được Chi nhánh VPĐKĐĐ tại huyện C duyệt ngày 23/6/2021.
- - Công nhận Khu đất A2 (diện tích: 351m²) thuộc Mảnh trích đo địa chính số 60TT – 2021 – Hệ tọa độ VN2000 – Khu vực nông thôn – Ấp D – Tờ bản đồ số 19 của Công ty TNHH Đ ngày 18/6/2021 được Chi nhánh VPĐKĐĐ tại huyện C duyệt ngày 23/6/2021 là của ông Nguyễn Thành N.
- Ông Nguyễn Thành N được quyền tiếp tục sử dụng và đăng ký kê khai theo quy định của pháp luật về đất đai. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Thanh H phải có nghĩa vụ đăng ký điều chỉnh lại diện tích đất sử dụng cho đúng với thực tế tại thửa đất 340, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- - Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Thanh H (bao gồm: Trần Thị Kim X1, Trần Thị Mỹ T, Trần Thanh M, Trần Thanh T1, Trần Thị Kim N1, Văn Thị K) phải hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất tại Khu B1 (diện tích: 1m²) thuộc một phần thửa đất 346, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An do UBND huyện C cấp cho ông Nguyễn Thành N số tiền là: 516.000đồng (năm trăm mười sáu nghìn đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- - Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Thanh H được quyền tiếp tục sử dụng Khu B1 và đăng ký kê khai theo quy định của pháp luật về đất đai. Ông Nguyễn Thành N phải có nghĩa vụ đăng ký điều chỉnh lại diện tích đất sử dụng cho đúng với thực tế tại thửa đất 346, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thành N về tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bị đơn Trần Thanh H (những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông H là: Trần Thị Kim X1, Trần Thị Mỹ T, Trần Thanh M, Trần Thanh T1, Trần Thị Kim N1, Văn Thị K) về việc yêu cầu công nhận Khu A3 (diện tích 44m²), Khu A4 (diện tích 0,8m²), Khu A5 (diện tích 1,3m²) thuộc Mảnh trích đo địa chính số 60TT – 2021 – Hệ tọa độ VN2000 – Khu vực nông thôn – Ấp D – Tờ bản đồ số 19 của Công ty TNHH Đ ngày 18/6/2021 được Chi nhánh VPĐKĐĐ tại huyện C duyệt ngày 23/6/2021 là của ông Nguyễn Thành N.
-
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Văn Thị K đối với ông Nguyễn Thành N về việc buộc ông Nguyễn Thành N trả lại Khu A4 (diện tích 0,8m²), Khu A5 (diện tích 1,3m²) thuộc Mảnh trích đo địa chính số 60TT – 2021 – Hệ tọa độ VN2000 – Khu vực nông thôn – Ấp D – Tờ bản đồ số 19 của Công ty TNHH Đ ngày 18/6/2021 được Chi nhánh VPĐKĐĐ tại huyện C duyệt ngày 23/6/2021.
- - Buộc ông Nguyễn Thành N phải hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất tại Khu A (diện tích 0,8m²), Khu A5 (diện tích 1,3m²) thuộc Mảnh trích đo địa chính số 60TT – 2021 – Hệ tọa độ VN2000 – Khu vực nông thôn – Ấp D – Tờ bản đồ số 19 của Công ty TNHH Đ ngày 18/6/2021 được Chi nhánh VPĐKĐĐ tại huyện C duyệt ngày 23/6/2021 cho bà Văn Thị K và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Thanh H (bao gồm: Trần Thị Kim X1, Trần Thị Mỹ T, Trần Thanh M, Trần Thanh T1, Trần Thị Kim N1, Văn Thị K) số tiền là: 2.625.000 đồng (hai triệu, sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- - Ông Nguyễn Thành N được quyền tiếp tục sử dụng Khu A4, A5 và đăng ký kê khai theo quy định của pháp luật về đất đai. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Thanh H phải có nghĩa vụ đăng ký điều chỉnh lại diện tích đất sử dụng cho đúng với thực tế tại thửa đất 340, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Văn Thị K đối với ông Nguyễn Thành N về việc công nhận Khu A3 (diện tích 44m²) thuộc Mảnh trích đo địa chính số 60TT – 2021 do Công ty TNHH Đ ngày 18/6/2021 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 23/6/2021 là của ông Trần Thanh H. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Thanh H được quyền tiếp tục sử dụng Khu A3.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Văn Thị K đối với ông Nguyễn Thành N về việc yêu cầu ông Nguyễn Thành N trả lại Khu A2 (diện tích 351m²) thuộc Mảnh trích đo địa chính số 60TT – 2021 – Hệ tọa độ VN2000 – Khu vực nông thôn – Ấp D – Tờ bản đồ số 19 của Công ty TNHH Đ ngày 18/6/2021 được Chi nhánh VPĐKĐĐ tại huyện C duyệt ngày 23/6/2021.
-
Về án phí, chi phí tố tụng:
- 6.1. Về án phí: Ông Nguyễn Thành N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0009113 ngày 25/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Đước. Ông Nguyễn Thành N đã nộp đủ. Bà Văn Thị K và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Thanh H được miễn án phí.
- 6.2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá: Số tiền là 23.300.000 đồng, ông Nguyễn Thành N phải chịu 7.767.000 đồng. Bà Văn Thị K và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Thanh H phải chịu 15.533.000 đồng. Ông Nguyễn Thành N đã nộp, bà Văn Thị K và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Thanh H phải nộp 15.533.000 đồng để hoàn trả cho ông Nguyễn Thành N.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.
Ngày 30/10/2024 và Đỗ Lê Tuyết P là người đại diện theo ủy quyền của bà Văn Thị K kháng cáo một phần bản án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Văn Thị K là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn.
Ngày 12/11/2024 ông Nguyễn Thành N kháng cáo một phần bản án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn về việc công nhận cho ông H phần đất tại khu A, A3, A4, A5; Xác định phần đất tại khu A, A4, A5 là của ông N và điều chỉnh lại chi phí tố tụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo.
Phần tranh luận:
Ông S là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Phần đất tại khu A, A4, A5 theo hồ sơ địa chính cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001 không thuộc thửa 340 của ông H, phần đất này thuộc thửa 346 của ông N, trước đây thửa đất 346 của ông N có ranh là đường thẳng, đến khi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2019 thì ranh đất của ông N không còn là đường thẳng và diện tích đất bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp lần đầu nên ông N đã khiếu nại. Đối với phần đất tại Khu A2 thì tại bản tường trình ngày 13/12/2020 ông H thì ông H xác định phần hố bom – tức Khu A2 là của ông N, tại biên bản hòa giải của xã cũng xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H trong đó cấp luôn Khu A2 do ông N đang sử dụng là không đúng đề nghị kiểm tra lại. Do đó, Bản án sơ thẩm công nhận Khu A2 cho ông N là có căn cứ, nhưng lại không công nhận Khu A3, A4, A5 cho ông N là không đúng theo ranh đất của ông N được cấp năm 2001, do đó ông N yêu cầu công nhận phần đất tại Khu A, A4, A5 là có căn cứ chấp nhận và yêu cầu điều chỉnh lại chi phí tố tụng.
Bà P là người đại diện theo ủy quyền của bà Văn Thị K là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông H trình bày: Bản án sơ thẩm công nhận Khu A3, A4, A5 cho ông H là có căn cứ, vì phần đất này nằm bên ngoài hàng rào của thửa đất của ông N, hàng rào này do chính bên gia đình ông N xây năm 2018 sau khi hai bên lập biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất. Ông N không đưa được chứng cứ chứng minh phần đất tại Khu A2 là của ông N, phần đất tại Khu A2 thuộc thửa 340 của ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2001, bên ông N không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Khu A. Ông N đã lấn chiếm phần đất tại Khu A2 của ông H và san lấp cát vào năm 2018, trong biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án cấp sơ thẩm ông N trình bày hàng rào lưới B40 tại Khu A2 được ông N kéo rào vào năm 1993 là không có căn cứ vì năm 2018 ông N mới mua cát của bà Huỳnh Thị Kim L1 san lấp phần đất tại Khu A, đến năm 2019 mới làm hàng rào. Phần đất tại Khu A2 trước đây là hố bom, đất trũng sâu ông H đã san lấp từ từ để sử dụng trồng dừa và trồng mít nhưng hiện nay đã bị chết. Việc san lấp và sử dụng phần đất này thì chỉ có những người lớn tuổi và bà K vợ ông H biết, hiện nay thì những người lớn tuổi này đã chết hết. Ông H được cấp giấy thửa 340 vào năm 2001, phần đất tại khu A thuộc thửa 340 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông H nên cần được pháp luật bảo vệ. Do đó, án sơ thẩm công nhận Khu A2 thuộc thửa 340 cho ông N là không đúng quy định của pháp luật. Vì vậy đề nghị chấp nhận kháng cáo của bà K sửa một phần bản án sơ thẩm xác định phần đất tại Khu A2 thuộc quyền sử dụng của ông H, bà K.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thành N, bà Đỗ Lê Tuyết P là người đại diện theo ủy quyền của bà Văn Thị K trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án:
Ông Nguyễn Thành N kháng cáo yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm theo hướng công nhận Khu A3, A4, A5 theo Mảnh trích đo địa chính số 60TT-2021 cho ông Nguyễn Thành N. Bà Đỗ Lê Tuyết P kháng cáo yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà Văn Thị K. Không đồng ý công nhận Khu A2 theo Mảnh trích đo địa chính số 60TT-2021 cho ông Nguyễn Thành N. Xét yêu cầu kháng cáo của bà Đỗ Lê Tuyết P và ông Nguyễn Thành N, nhận thấy:
Theo Mảnh trích đo địa chính số 60TT-2021 do Công ty TNHH Đ ngày 18/6/2021 được Chi nhánh VPĐKĐĐ tại huyện C duyệt ngày 23/6/2021 thì các đương sự tranh chấp các khu A2, A3, A4, A5, B1.
Đối với Khu A2 theo Mảnh trích đo địa chính số 60TT-2021:
Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước xác định phần đất tại Khu A2 của Mảnh trích đo do ông N quản lý sử dụng, ranh giới giữa Khu A2 với thửa 340 của ông H là hàng rào lưới B40 do ông N rào. Phía bị đơn trình bày Khu A2 được gia đình ông H sử dụng từ
năm 1976 đến năm 2019 thì gia đình ông N lấn chiếm, hiện trạng trước đây là hố bom, gia đình ông H san lấp từ từ để sử dụng trồng dừa và trồng mít nhưng hiện nay đã bị chết. Tuy nhiên, phía bị đơn không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh và khi ông N làm hàng rào ông H cũng không có phản đối hay tranh chấp. Theo Biên bản hòa giải ngày 04/6/2020 Ủy ban nhân dân xã T xác định 01 phần diện tích đất cấp giấy cho ông H bao trùm diện tích đất ông N đang canh tác. Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước đã tiến hành cho mỗi bên tự đào 03 lỗ để xác định vật liệu san lấp tại Khu A2 theo Mảnh trích đo hiện do ông N quản lý sử dụng thì đều là cát san lấp đúng như lời trình bày của ông N. Mặt khác, tại Biên bản lấy lời khai ngày 10/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước đối với bà Huỳnh Thị Kim L1 (Chủ hộ kinh doanh vật liệu xây dựng K) xác nhận vào ngày 21/5/2018 bà L1 có bán cho ông N cát san lấp là 25 xe mỗi xe là 06m³ và có xuất hóa đơn bán lẻ cho ông N. Như vậy, có cơ sở xác định phần đất Khu A2 do ông N thực tế sử dụng, nhưng lại cấp giấy sang thửa 340 của ông H là không đúng đối tượng sử dụng đất. Do đó, Bản án sơ thẩm tuyên công nhận quyền sử dụng đối với Khu A2 cho ông Nguyễn Thành N là có cơ sở.
Đối với Khu A3, A4, A5, B1 theo Mảnh trích đo địa chính số 60TT-2021:
Theo Công văn số 2494/CNVPĐKĐĐ-KTLTĐC ngày 05/8/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C cung cấp hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 346 thì tại Bản mô tả ranh giới, mốc giới ngày 30/8/2018 ông N có ký giáp ranh với ông H là người đứng tên quyền sử dụng đất thửa 340, Bản mô tả ranh giới, mốc giới xác định thửa đất không có thay đổi về ranh giới, đất sử dụng ổn định không có tranh chấp. Theo Biên bản lấy lời khai ngày 10/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước đối với anh Nguyễn Phú T2 (con trai ông Nguyễn Thành N) trình bày: Hàng rào xây gạch và rào lưới B40 phía trước là do anh T2 xây dựng cuối năm 2018, xây dựng theo hàng cây hiện trạng, sau thời điểm ký giáp ranh với ông H.
Khu A3 thuộc thửa đất 340 của ông H, do ông H thực tế sử dụng và nằm bên ngoài hàng rào do anh T2 xây dựng. Do đó, Bản án sơ thẩm tuyên công nhận quyền sử dụng đối với Khu A3 cho bị đơn là có cơ sở.
Khu A4, A5 thuộc thửa 340 của ông H nhưng thực tế nằm bên trong hàng rào do anh T2 xây dựng do bên ông N sử dụng. Khu B1 thuộc thửa đất 346 của ông N nhưng thực tế nằm bên ngoài hàng rào do anh T2 xây dựng do bên ông H sử dụng. Tuy nhiên, các Khu đất A4, A5 và B1 có diện tích rất nhỏ, giá trị thấp và hiện nay giữa hai bên đã có ranh giới là hàng rào xây gạch và lưới B40 sử dụng kiên cố từ năm 2018 đến nay là. Khi bên ông N xây dựng hàng rào thì phía ông H cũng không có phản đối. Do đó, Bản án sơ thẩm tuyên để các bên tiếp tục sử dụng và hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất cho nhau theo Chứng thư thẩm định giá là phù hợp.
Từ những căn cứ nêu trên, kháng cáo của bà Đỗ Lê Tuyết P và ông Nguyễn Thành N không có cơ sở chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
- [1] Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thành N, bà Đỗ Lê Tuyết P là người đại diện theo ủy quyền của bà Văn Thị K trong thời hạn luật định nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- [2] Đương sự vắng mặt có đơn xin vắng mặt, căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về giải quyết yêu cầu kháng cáo của đương sự:
-
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của ông N yêu cầu ông H, bà K phải tháo dỡ nhà bếp và tự di dời tất cả các cây trồng trên phần đất tại Khu A3 diện tích 44m² để lại đất cho ông N. Xét thấy:
- [3.1] Ông N cho rằng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông được cấp thửa 346 vào năm 2001 thì ranh đất là được thẳng, đến năm 2019 cấp đổi lại thì thửa 346 của ông bị thiếu diện tích và ranh đất không phải là đường thẳng nên sau khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông N đã khiếu nại yêu cầu điều chỉnh lại ranh đất. Chứng cứ trong hồ sơ thể hiện hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N năm 2001 đã bị thất lạc nên không có cơ sở xác định quyền sử dụng đất ông N được cấp năm 2001 đối với thửa 346 có đúng trình tự, thủ tục, đúng diện tích hay không. Hơn nữa, đến năm 2019 ông N đã được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 346 nên không thể căn cứ vào ranh đất được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông N được cấp năm 2001 để cơ sở giải quyết vụ án.
- [3.2] Căn cứ vào hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N ngày 11/02/2019 đối với thửa 346 thể hiện trước khi cấp đổi có đo đạc thực tế, có biên bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất. Theo Biên bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 30/8/2018 thể hiện ranh giữa thửa 346 và thửa 340 không phải là đường thẳng mà có nhiều đoạn gấp khúc, biên bản này có chữ ký xác nhận của ông N và ông H. Ông N trình bày có ký giáp ranh với ông H là người đứng tên quyền sử dụng đất thửa 340, nhưng lúc ký biên bản không thể hiện rõ ranh giới đất là không có cơ sở.
- [3.3] Căn cứ biên bản lấy lời khai ngày 10/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước đối với anh Nguyễn Phú T2 (con trai ông Nguyễn Thành N) anh T2 trình bày: Hàng rào xây gạch và rào lưới B40 phía trước là do anh T2 xây dựng cuối năm 2018, xây dựng theo hàng cây hiện trạng và sau thời điểm ký giáp ranh với ông H. Như vậy, giữa đất của ông N và ông H đã có ranh giới rõ ràng là hàng rào do phía ông N tự xây dựng sau khi hai bên đã thống nhất ranh theo Biên bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 30/8/2018.
- [3.4] Căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước thể hiện trên phần đất tranh chấp tại Khu A3 có 02 cây Mít, 01 cây Khế, 02 cây Dừa ăn trái do ông H trồng sau hoà bình năm 1975. Mặt khác, trên phần đất tranh chấp tại Khu A3 có căn nhà bếp của ông H được xây dựng lại vào năm 2019 trên nền và vị trí của nhà bếp cũ được xây dựng từ năm 1994, đến năm 2015 nhà bếp bị sập, đến năm 2019 mới xây dựng lại như hiện nay. Ông H xây nhà bếp (năm 2019) sau khi bên ông N (ông T2 xây hàng rào) và khi ông H xây nhà bếp thì ông N cũng không tranh chấp hay khiếu nại gì.
- [3.5] Như vậy, có căn cứ xác định phần đất tại Khu A3 thuộc quyền sử dụng của ông H. Do đó, ông N kháng cáo yêu cầu bà K và những người thuộc hàng thừa kế của ông H phải tháo dỡ vật kiến trúc và cây trồng trên đất để trả lại Khu A3 cho ông N là không có cơ sở chấp nhận.
-
[4] Xét kháng cáo của ông N yêu cầu xác định phần đất tại Khu A, A5 là của ông N, ông N không đồng ý thối hoàn giá trị quyền sử dụng đất tại khu A, A5 cho ông H. Xét thấy:
- [4.1] Như nhận định tại phần trên khi cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N vào năm 2019 có đo đạc thực tế, có biên bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 30/8/2018, biên này có chữ ký xác nhận của ông N. Do đó, cần căn cứ vào ranh bản đồ địa chính theo biên bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 30/8/2018 và giấy chứng nhận ông N được cấp ngày 11/02/2019 làm căn cứ giải quyết vụ án.
- [4.2] Căn cứ vào Mảnh trích đo địa chính số 60TT – 2021 do Công ty TNHH Đ1 vẽ ngày 18/6/2021 được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện C duyệt ngày 23/6/2021 thể hiện phần đất tại Khu A, A5 không thuộc thửa 346 của ông N mà thuộc thửa 340 của ông H. Như vậy, có căn cứ xác định ông N và ông T2 (con N) xây hàng rào lấn sang thửa 340 của ông H, do ông N đã xây hàng rào kiên cố nên án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của bà K buộc ông N phải thối hoàn giá trị quyền sử dụng đất của Khu A4, A5 cho bà K và những người thừa kế của ông H và ông N được tiếp tục sử dụng đất là có căn cứ. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của ông N.
-
[5] Xét kháng cáo của bà Đỗ Lê Tuyết P là người đại diện theo ủy quyền của bà Văn Thị K không đồng ý với bản án sơ thẩm xác định Khu A2 thuộc quyền sử dụng của ông N. Xét thấy:
- [5.1] Theo Mảnh trích đo địa chính số 60TT – 2021 do Công ty TNHH Đ1 vẽ ngày 18/6/2021 được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện C duyệt ngày 23/6/2021 thì Khu A2 diện tích 351m² thuộc một phần thửa đất 340, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An do UBND huyện C cấp chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Thanh H. Tuy nhiên, theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước thể hiện phần đất tại Khu A2 này do ông N quản lý sử dụng, ranh giới giữa Khu A2 với thửa 340 của ông H là hàng rào lưới B40 do ông N rào.
- [5.2] Bà K do bà P đại diện trình bày Khu A2 do gia đình ông H sử dụng từ năm 1976, đến năm 2019 thì gia đình ông N mới lấn chiếm phần đất này. Hiện trạng phần đất tại khu A trước đây là hố bom, gia đình ông H san lấp từ từ để sử dụng trồng Dừa và trồng Mít nhưng hiện nay đã bị chết, tuy nhiên bà K không cung cấp được tài liệu chứng minh và khi ông N làm hàng rào ông H cũng không có phản đối hay tranh chấp gì. Ông N trình bày phần đất tại Khu A2 là đất trũng, đất hào nên ông N đã mua cát của bà Kim L1 san lấp vào năm 2018. Như vậy, các bên trình bày thống nhất phần đất tại Khu A trước đây là đất hào, hố bom. Ông N trình bày đã bơm cát san lấp năm 2019 và làm hàng rào lưới B40 từ năm 1993. Bà P đại diện cho bà K trình bày ông N bơm cát san lấp và làm hàng rào lưới vào năm 2019. Các bên trình bày không thống nhất về thời gian ông N làm hàng rào lưới B40. Tuy
- nhiên, bà Huỳnh Thị Kim L1 (Chủ hộ kinh doanh vật liệu xây dựng K) xác nhận vào ngày 21/5/2018 bà L1 có bán cho ông N cát san lấp để san lấp phần đất tại Khu A, do đó bà P đại diện cho bà K trình bày ông N chỉ mới kéo rào lưới B40 vào năm 2019 là có cơ sở. Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/10/2024 của Tòa án tiến hành cho mỗi bên tự đào 03 lỗ để xác định vật liệu san lấp tại Khu A là gì. Qua kiểm tra đều xác định vật liệu san lấp là cát đúng như lời trình bày của ông N tại phiên tòa ngày 28/9/2024. Như vậy, có cơ sở xác định phần đất tại khu A do ông N san lấp và làm hàng rào lưới B40 để xác định ranh với phần còn lại của thửa 340.
- [5.3] Thời điểm ông N san lấp cát, xây hàng rào lưới B40 đối với phần đất tại khu A2 ông H còn sống nhưng không có tranh chấp hay ngăn cản gì. Tại bản tường trình ngày 13/12/2020, ông H trình bày “Qua ý kiên của cán bộ địa chính xã là ông H3 thì ông H cũng thống nhất đất của ông H là đất nền có cây, dưới hào, hố bom là đất của ông N, phần đất ông mua của bà V là đất gò, phía sau phần đất gò có trồng cây là của ông H, phần đất hào, hố bom là của ông N. Sau khi hai bên thống nhất ranh thì địa chính xã tiến hành cấp cấm cọc xác định ranh và hai bên đồng ý ký vào biên bản định ngày cấm ranh...”. Theo tờ thỏa thuận sang nhượng đất thổ cư ngày 03/9/1979 thể hiện bà Nguyễn Thị V chỉ sang nhượng cho ông H ngôi đất thổ, không phải là đất trũng, đất hào, đất hố bom. Mặt khác, theo Biên bản hòa giải ngày 04/6/2020 Ủy ban nhân dân xã T xác định 01 phần diện tích đất cấp giấy cho ông H thửa 340 bao trùm diện tích đất ông N đang canh tác.
- [5.4] Căn cứ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H đối với thửa 430 do UBND huyện C cấp vào năm 2001 (do bên bà K cung cấp) không có biên bản đo đạc thực tế, không biên bản ký giáp ranh, không biên bản kiểm tra hiện trạng đất, nên không thể căn cứ vào ranh đất được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm căn cứ giải quyết vụ án, cần căn cứ vào thực tế sử dụng đất. Như đã phân tích ở trên phần đất tại khu A2 do ông N là người san lấp hố bom để có được hiện trạng như hiện nay, và khi ông H còn sống ông H cũng thừa nhận phần đất hố bom - Khu A2 là của ông N. Vì vậy, án sơ thẩm xác định phần đất tại Khu A2 thuộc quyền sử dụng của ông N là có căn cứ, nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo bà P là người đại diện cho bà K yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định phần đất tại Khu A2 thuộc quyền sử dụng của ông H.
- [5.5] Đối với phần đất tại khu B thuộc thửa đất 346 của ông N, nhưng lại nằm bên ngoài hàng rào do ông N xây năm 2018 nên án sơ thẩm xác định bà K và các con của ông H bà K được tiếp tục sử dụng và hoàn giá trị cho ông N là có cơ sở.
- [5.6] Từ những nhận định trên không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thành N và không chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Lê Tuyết P là người đại diện theo ủy quyền của bà Văn Thị K, chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- [6] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo của ông N và bà K không được chấp nhận nên ông N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bà K được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo ông Nguyễn Thành N;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Lê Tuyết P là người đại diện theo ủy quyền của bà Văn Thị K.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 119/2024/DS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 148, 157, 165, 271, 273, 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 166, Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 100, 203 Luật Đất đai năm 2013, Điều 137 Luật Đất đai năm 2024, các Điều 12, 26, 27, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thành N về tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bị đơn Trần Thanh H (những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông H là: Trần Thị Kim X1, Trần Thị Mỹ T, Trần Thanh M, Trần Thanh T1, Trần Thị Kim N1, Văn Thị K) về việc yêu cầu công nhận Khu A2 diện tích 351m² và trả lại Khu B1 diện tích 1m² thuộc Mảnh trích đo địa chính số 60TT – 2021 do Công ty TNHH Đ1 vẽ ngày 18/6/2021 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 23/6/2021.
- Công nhận phần đất tại Khu A diện tích: 351m² thuộc Mảnh trích đo địa chính số 60TT – 2021 do Công ty TNHH Đ1 vẽ ngày 18/6/2021 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 23/6/2021 là của ông Nguyễn Thành N.
- Ông Nguyễn Thành N được quyền tiếp tục sử dụng và đăng ký kê khai theo quy định của pháp luật về đất đai. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Thanh H phải có nghĩa vụ đăng ký điều chỉnh lại diện tích đất sử dụng cho đúng với thực tế tại thửa đất 340, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Buộc những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Thanh H bao gồm: Trần Thị Kim X1, Trần Thị Mỹ T, Trần Thanh M, Trần Thanh T1, Trần Thị Kim N1, Văn Thị K phải hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất tại Khu B1 diện tích: 1m² thuộc một phần thửa đất 346, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An do UBND huyện C cấp cho ông Nguyễn Thành N số tiền là: 516.000đồng.
- Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Thanh H được quyền tiếp tục sử dụng Khu B1 và đăng ký kê khai theo quy định của pháp luật về đất đai. Ông Nguyễn Thành N phải có nghĩa vụ đăng ký điều chỉnh lại diện tích đất sử dụng cho đúng với thực tế tại thửa đất 346, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thành N về tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bị đơn Trần Thanh H (những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông H là: Trần Thị Kim X1, Trần Thị Mỹ T, Trần Thanh M, Trần Thanh T1, Trần Thị Kim N1, Văn Thị K) về việc yêu cầu công nhận Khu A3 diện tích 44m², Khu A diện tích 0,8m², Khu A5 diện tích 1,3m² thuộc Mảnh trích đo địa chính số 60TT – 2021 do Công ty TNHH Đ1 vẽ ngày 18/6/2021 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 23/6/2021 là của ông Nguyễn Thành N.
-
Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Văn Thị K đối với ông Nguyễn Thành N về việc buộc ông Nguyễn Thành N trả lại Khu A4 diện tích 0,8m², Khu A diện tích 1,3m² thuộc Mảnh trích đo địa chính số 60TT – 2021 do Công ty TNHH Đ1 vẽ ngày 18/6/2021 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 23/6/2021.
- Buộc ông Nguyễn Thành N phải hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất tại Khu A4 diện tích 0,8m², Khu A diện tích 1,3m² thuộc Mảnh trích đo địa chính số 60TT - 2021 do Công ty TNHH Đ1 vẽ ngày 18/6/2021 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 23/6/2021 cho bà Văn Thị K và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Thanh H (bao gồm: Trần Thị Kim X1, Trần Thị Mỹ T, Trần Thanh M, Trần Thanh T1, Trần Thị Kim N1, Văn Thị K) số tiền là: 2.625.000đồng.
- Ông Nguyễn Thành N được quyền tiếp tục sử dụng Khu A4, A5 và đăng ký kê khai theo quy định của pháp luật về đất đai. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Thanh H phải có nghĩa vụ đăng ký điều chỉnh lại diện tích đất sử dụng cho đúng với thực tế tại thửa đất 340, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Văn Thị K đối với ông Nguyễn Thành N về việc công nhận Khu A3 diện tích 44m² thuộc Mảnh trích đo địa chính số 60TT – 2021 do Công ty TNHH Đ1 vẽ ngày 18/6/2021 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 23/6/2021 là của ông Trần Thanh H. Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Trần Thanh H được quyền tiếp tục sử dụng đất tại Khu A.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Văn Thị K đối với ông Nguyễn Thành N về việc yêu cầu ông Nguyễn Thành N trả lại Khu A2 diện tích 351m² thuộc Mảnh trích đo địa chính số 60TT – 2021 do Công ty TNHH Đ1 vẽ ngày 18/6/2021 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 23/6/2021.
-
Về án phí, chi phí tố tụng:
- Về án phí: Ông Nguyễn Thành N phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0009113 ngày 25/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Đước. Ông Nguyễn Thành N đã nộp đủ. Bà Văn Thị K và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Thanh H được miễn án phí.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá là 23.300.000đồng, ông Nguyễn Thành N phải chịu 7.767.000đồng. Bà Văn Thị K và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Thanh H phải chịu 15.533.000đồng. Ông Nguyễn Thành N đã nộp đủ 23.300.000đồng và đã chi xong, do đó bà Văn Thị K và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Thanh H phải nộp 15.533.000đồng để hoàn trả cho ông Nguyễn Thành N.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thành N phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000đồng tạm ứng án phí ông N đã nộp theo biên lai thu số 0012765 ngày 12/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
- Về quyền và nghĩa vụ thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Ông Nguyễn Thành N và bà Văn Thị K và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Thanh H (bao gồm: Trần Thị Kim X1, Trần Thị Mỹ T, Trần Thanh M, Trần Thanh T1, Trần Thị Kim N1, Văn Thị K) có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, kê khai cập nhật chỉnh lý quyền sử dụng đất đối với phần đất được sử dụng theo quyết định của bản án.
Văn phòng đăng ký đất đai, Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự cho phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Trường hợp các đương sự không nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất nêu trên thì Cơ quan có thẩm quyền, Cơ quan Tài nguyên môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thu hồi, hủy bỏ, chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các bên đương sự theo quy định của pháp luật về đất đai.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Phúc |
|
Thành viên Hội đồng xét xử Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Đặng Văn N2 – Đ |
Trịnh Thị P1 |
Bản án số 323/2025/DS-PT ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 323/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
