Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 323/2024/HS-ST

Ngày: 28 - 6 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Học.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thiều Thị Phi Loan.
  • Ông Huỳnh Thế Cần.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lam - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 334/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 323/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Trường L, sinh năm 1985, tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú: Ấp L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 06/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Công L1, sinh năm 1949 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1955; gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ tư; có vợ Lê Thị Kiều E, sinh năm 1986; bị cáo có 01 con sinh năm 2004; tiền án: Ngày 24/8/2022, Nguyễn Trường L bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/5/2023; nhân thân: Ngày 06/11/2002, Nguyễn Trường L bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, Nguyễn Trường L phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự không có án tích; bị cáo bị bắt quả tang ngày 11/01/2024, chuyển tạm giam ngày 19/01/2024; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trường L là người sử dụng trái phép chất ma túy.

Vào khoảng 19 giờ ngày 09/01/2024, L thuê xe grap đi đến khu vực ngã tư N thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua của một người đàn ông tên Q (không rõ lai lịch) 03 gói ma tuý tổng hợp (hàng đá) với giá 500.000₫ (Năm trăm nghìn đồng) với mục đích sử dụng. Sau khi mua được ma tuý, L cất giấu số ma tuý nêu trên vào túi quần bên trái phía trước L đang mặc và đi về phòng trọ số 8, nhà không số, tổ I, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Đến khoảng 19 giờ ngày 10/01/2024, tại phòng trọ của L thuộc địa chỉ nêu trên, L lấy 01 gói ma tuý ra sử dụng một phần, phần còn lại L bỏ vào túi nilon cất giấu trong túi đựng rác cạnh phòng trọ, 02 gói ma tuý còn lại L vẫn tiếp tục cất giấu trong túi quần bên trái phía trước L đang mặc.

Vào khoảng 11 giờ 15 phút ngày 11/01/2024, Công an phường H kết hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố B kiểm tra phòng trọ của L. Thấy lực lượng công an, L lấy 02 gói ma tuý trong túi quần ném vào phòng vệ sinh trong phòng trọ thì bị Công an phường H kết hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố B phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Vật chứng thu giữ:

  • - 02 gói linon bên trong có chứa chất màu trắng trong nhà vệ sinh phòng trọ của L.
  • - 01 gói nilon bên trong chứa chất màu trắng đựng trong túi nilon đựng rác cạnh phòng trọ của L
  • - 01 điện thoại di động hiệu vivo màu trắng số imel 864983060104892 của L không sử dụng liên lạc mua ma tuý.

Tại Kết luận giám định số 105/KL-KTHS ngày 17/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

  • - Mẫu tinh thể màu trắng (M1) được gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,4166 gam, loại Methamphetamine.
  • - Mẫu tinh thể màu trắng (M2) được gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,1690 gam, loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 340/CT-VKSBH ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Trường L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Trình bày của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:

  • - Về trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
  • - Về xử lý vật chứng, đề nghị:
    • + Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ sau giám định.
    • + Trả lại 01 điện thoại di động hiệu vivo màu trắng số imel 864983060104892 cho Nguyễn Trường L.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:

Vào lúc 11 giờ 15 phút ngày 11/01/2024, tại phòng trọ số H, nhà không số, tổ I, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Trường L có hành vi tàng trữ trái phép 0,5856 gam ma tuý loại Methamphetamine thì bị Công an phường H kết hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố B kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Với hành vi trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Nguyễn Trường L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về hình phạt:

  • - Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Methamphetamine là chất ma túy rất độc, gây nghiện, gây nguy hại cho cơ thể người sử dụng, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ sau này, ảnh hưởng đến kinh tế của xã hội, đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn trong xã hội. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung cho xã hội.
  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng, căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 105/KL-KTHS ngày 17/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trường L 01 điện thoại di động Vivo màu trắng số imel 864983060104892.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[7] Đối với đối tượng tên Q (chưa rõ nhân thân lai lịch) bán ma túy cho L, Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, xử lý sau.

[8] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trường L 02 (H) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 01 năm 2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 105/KL-KTHS ngày 17/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ.
  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trường L 01 điện thoại di động Vivo màu trắng số imel 864983060104892.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; (1)
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa; (2)
  • - Cơ quan điều tra Công an TP. Biên Hòa; (1)
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Biên Hòa; (1)
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Biên Hòa; (1)
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; (1)
  • - Cơ quan thi hành án hình sự; (4)
  • - Bị cáo, lưu hồ sơ, VP. (3)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Học

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 323/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 323/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trường L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger