Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 323/2024/HS-PT

Ngày: 18 - 7 - 2024

 


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

-

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thế Phương

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Quang

Ông Trần Phương Đông.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Tài - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Sương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 169/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo Phạm Phi H, Nguyễn Duy K, Dư Văn T, Dương Văn H1; do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Phạm Phi H, sinh năm 1978 tại tỉnh Đồng Tháp. Nơi đăng ký HKTT: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Hồng T1, sinh năm 1950 và bà Phan Thị H2, sinh năm 1952. Bị cáo có vợ tên Trần Thị Ngọc T2, sinh năm 1980 và có 1 con sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/07/2023 đến ngày 8/08/2023 được hủy bỏ tạm giữ và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Nguyễn Duy K, sinh năm 1983 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nơi đăng ký HKTT: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chỗ ở hiện nay: Ấp Đ, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Duy C, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1956; Bị cáo có vợ là Mai Thị T3, sinh năm 1985 và có 02 con (lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2016); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/07/2023 đến ngày 8/08/2023 được hủy bỏ tạm giữ và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

1

3. Dư Văn T, sinh năm 1991 tại tỉnh Cà Mau. Nơi đăng ký HKTT: Khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dư Văn Á, sinh năm 1958 và bà Ngô Thị Đ, sinh năm 1958; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị M, sinh năm 1995 chưa có con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 12/8/2021, bị UBND huyện T, tỉnh Cà Mau xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/07/2023 đến ngày 8/08/2023 được hủy bỏ tạm giữ và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (bị cáo có mặt).

4. Dương Văn H1, sinh năm 1965 tại tỉnh Sóc Trăng. Nơi đăng ký HKTT: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Chỗ ở hiện nay: Ấp Đ, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn Y (chết) và bà Lưu Thị H4 (chết); bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị K1, sinh năm 1969, có 03 con (lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1994); tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/07/2023 đến ngày 8/08/2023 được hủy bỏ tạm giữ và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Ngoài ra, vụ án còn có các bị cáo khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên không có triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Ngày 30/7/2023 tại bãi đất trống thuộc ấp Đ, xã P, huyện N, Phạm Phi H đứng ra làm trọng tài, bắt cặp cho các con bạc đánh bạc với hình thức đá gà thắng thua bằng tiền để H thu tiền xâu từ 180.000 đồng đến 200.000 đồng/trận.

Cách thức đánh bạc như sau: Trọng tài cáp gà và cho hai bên cân gà, cách thức cáp gà là dựa vào sự chênh lệch số cân nặng và tùy vào dòng gà tre hay gà lông mà có cách chấp khác nhau. Đối với gà lông trọng tài phân theo 5, 10, 15 nghĩa là gà nào có số ký nặng hơn 500 gram thì theo tỉ lệ 1:9 nghĩa là đá 1.000.000 đồng thì ăn được 90.000 đồng; gà nào có số ký nặng hơn 1000 gram thì ăn theo tỉ lệ 1:8 nghĩa là đá 1.000.000 đồng thì ăn được 800.000 đồng; gà nào có số ký nặng hơn 1500 gram thì chấp bạc 3 phân; tỷ lệ 1:7 nghĩa là nếu đá 1.000.000 đồng thì ăn được 700.000 đồng; gà nào có số cân nặng bằng nhau thì đá đồng tiền nghĩa là đá 1.000.000 đồng thì ăn được 1.000.000 đồng.

Trận thứ nhất: H bắt cặp và làm trọng tài trận đá gà giữa gà màu xanh, nặng 2,9 kg của nhóm Nguyễn Duy K (gà của K) với gà màu V-Khét, nặng 2,9 kg của nhóm Phan Trọng T4 (gà của T4) cá cược đá xổ mỗi bên là 3.000.000 đồng. Trong đó:

Nhóm góp tiền đặt cược đá xổ theo gà của K gồm: K góp 1.500.000 đồng, Dương Văn T5 góp 500.000 đồng, Dương Văn H1 góp 500.000 đồng, Phạm Phi H góp 500.000 đồng.

Nhóm góp tiền đặt cược đá xổ theo gà của T4 gồm: T4 góp 1500.000 đồng, Nguyễn Văn C1 góp 1.000.000 đồng, Trần Văn D góp 500.000 đồng.

2

H điều khiển cho hai nhóm thả gà vào đá với nhau. Kết quả, gà của nhóm K thắng. H thu 3.000.000 đồng của nhóm T4, sau đó thu xâu 180.000 đồng còn lại giao cho nhóm K 1.500.000 đồng, T5 440.000 đồng, H1 440.000 đồng, H 440.000 đồng.

Trận thứ hai: H bắt cặp và là trọng tài trận đá gà giữa gà Q-Đen, nặng 2,5 kg của H với gà Điều-Đỏ, nặng 2,5 kg của Nguyễn An T6 cá cược đá xổ mỗi bên là 3.000.000 đồng. Trong đó:

- Nhóm góp tiền đặt cược đá xổ theo gà của H gồm: Thử góp 500.000 đồng, H1 góp 500.000 đồng, K góp 500.000 đồng, 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) góp 1.500.000 đồng.

- Nhóm góp tiền đặt cược đá xổ theo gà của T6 gồm: T6 góp 500.000 đồng, Phạm Đăng H5 góp 500.000 đồng, Hồ Hoàng T7 góp 1.000.000 đồng, Võ Thanh T8 góp 1.000.000 đồng.

Khoảng 13 giờ cùng ngày, H điều khiển cho hai nhóm thả gà vào đá với nhau. Kết quả, gà của nhóm H thắng. Trong lúc 02 bên chuẩn bị giao nhận tiền thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ H, H6 (K), H1, H5, T7, T9, C1, T4, D, T5. Riêng T6, T8 chạy thoát, cùng ngày T6, T8 ra đầu thú.

*Vật chứng sử dụng vào việc phạm tội, thu giữ:

  • 01 (một) cân đồng hồ loại cân 05 kg;
  • 06 cuộn băng keo tại chiếu bạc;
  • 02 cặp cựa sắt;
  • 04 con gà điều (sau đó đã chết và bị tiêu hủy).

- Tiền dùng vào việc đánh bạc thu giữ:

  • + 1.000.000 trên người Phạm Phi H và 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen có gắn sim (không rõ số) sử dụng vào việc đánh bạc.
  • + 500.000 đồng trên người Nguyễn Văn C1.
  • + 1.500.000 đồng trên người Nguyễn Duy K.
  • + 500.000 đồng trên người Trần Văn D.
  • + 500.000 đồng do Nguyễn An T6 giao nộp.
  • + 1.000.000 đồng do Võ Thanh T8 giao nộp.

2. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, đã quyết định như sau:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Phi H, Nguyễn Duy K, Dư Văn T, Dương Văn H1 phạm tội “ Đánh bạc ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt Phạm Phi H 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 30/07/2023 đến ngày 08/08/2023.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy K 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 30/07/2023 đến ngày 08/08/2023.

3

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm i „s khoản 1 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Dư Văn T. 06 (sáu) tháng tù . Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 30/07/2023 đến ngày 08/08/2023.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Dương Văn H1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 30/07/2023 đến ngày 08/08/2023.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Kháng cáo:

Ngày 29/02/2024, các bị cáo Phạm Phi H, Nguyễn Duy K, Dư Văn T, Dương Văn H1 kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc áp dụng hình phạt tiền. Lý do: Các bị cáo nêu trong đơn là phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; ăn năn, hồi cải, không có tiền án, tiền sự; gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

4. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được làm rõ tại phiên tòa phúc thẩm, cho thấy cấp sơ thẩm giải quyết là có cơ sở. Các bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc áp dụng hình phạt tiền. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo cung cấp đơn xác nhận đúng như nội dung các bị cáo nêu trong đơn, các bị cáo có nơi ở ổn định, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, không có tiền án nên có cơ sở chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, chuyển chỉ áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Kháng cáo của các bị cáo Phạm Phi H, Nguyễn Duy K, Dư Văn T, Dương Văn H1 trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Các bị cáo H, Thử H7 có mặt tại phiên toà, bị cáo K có đơn xin xét xử vắng mặt.

[2] Về tội danh:

Căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là đúng quy định.

[3] Về căn cứ quyết định hình phạt và kháng cáo:

3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

4

Cấp sơ thẩm các bị cáo đều có tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tại cấp sơ thẩm: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Tại cấp phúc thẩm: Các bị cáo cung cấp đơn xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú; bị cáo H là lao động làm thuê thu nhập không ổn định, bị cáo còn phải chăm sóc vợ đang điều trị bệnh ung thư; bị cáo Nguyễn Duy K đang làm công nhân, vợ đã bỏ đi bị cáo đang trực tiếp nuôi 02 con nhỏ; bị cáo Dư Văn T đang làm công nhân, vợ chồng phải nuôi 03 con còn nhỏ; bị cáo Dương Văn H1 là lao động làm thuê thu nhập không ổn định, lớn tuổi và đang bị đau thần kinh toạ. Đây tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên áp dụng cho các bị cáo.

3.3. Về kháng cáo và hình phạt:

Các bị cáo Phạm Phi H, Nguyễn Duy K, Dư Văn T, Dương Văn H1: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; nhân thân không có tiền án. Số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc trong vụ án không lớn; cùng với tình tiết giảm nhẹ mới các bị cáo nộp tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, xét thấy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 35 của Bộ luật hình sự, xử phạt tiền các bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục đối với các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

[6] Xét quan điểm của đại diện của Viện kiểm sát: Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm c, đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Phi H, Nguyễn Duy K, Dư Văn T, Dương Văn H1. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2024/HS-ST ngày 29-02-2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch về hình phạt đối với các bị cáo do có tình tiết mới.

1. Về tội danh và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 và Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

5

Tuyên bố các bị cáo Phạm Phi H, Nguyễn Duy K, Dư Văn T, Dương Văn H1 phạm tội “Đánh bạc”, xử phạt:

  • Bị cáo Phạm Phi H số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
  • Bị cáo Nguyễn Duy K số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
  • Bị cáo Dư Văn T số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).
  • Bị cáo Dương Văn H1 số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Phạm Phi H, Nguyễn Duy K, Dư Văn T, Dương Văn H1 không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch (2);
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Nhơn Trạch;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Nhơn Trạch;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng, Tòa hình sự, Thẩm phán (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thế Phương

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 323/2024/HS-PT ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 323/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo kháng cáo xin chuyển hình phạt vì phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger