Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 323/2024/DS-PT

Ngày: 01-8-2024

“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất;

yêu cầu tháo dỡ, di dời tài sản trên đất".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngọc Yến

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thu

Ông Trần Trọng Nhân

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Chiêu Linh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung, Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 295/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu tháo dỡ, di dời tài sản trên đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 63/2024/DS-ST ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 300/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Võ Văn M, sinh năm 1962.
  2. Địa chỉ: Số F Hương lộ B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Võ Văn M: Luật sư Nguyễn Văn G – Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn G, Đoàn Luật sư tỉnh L.

  3. Bị đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1955.
  4. Địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Trần Hữu N, sinh năm 1954.

    Địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

    (Theo Giấy uỷ quyền được Ủy ban nhân dân xã Đ chứng thực ngày 17/7/2023).

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Ông Trần Hữu N, sinh năm 1954.
    • Địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

      Người đại diện theo ủy quyền của ông N: Ông Đỗ Quang N1, sinh năm 1985.

      Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum.

      (Theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 04/3/2024 tại Văn phòng C).

    • 3.2. Bà Ôn Thị Thanh T1, sinh năm 1963.
    • Địa chỉ: Số F Hương lộ B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  6. Người làm chứng:
    • 4.1. Ông Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1972.
    • 4.2. Bà Huỳnh Thị T2, sinh năm 1957.
    • 4.3. Bà Lê Thị Thu T3, sinh năm 1984.
    • Địa chỉ: Ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An

- Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị T; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Hữu N.

- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/7/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Võ Văn M trình bày:

Năm 2005, ông M nhận chuyển nhượng thửa đất 407, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ của ông Huỳnh Văn Đ theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 25/01/2005. Ông đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 240800 ngày 31/8/2005.

Năm 2022, ông M nhận chuyển nhượng thửa 408, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ từ ông Tạ Quang L. Ông M đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ cập nhật biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 316645 ngày 24/6/2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cho ông M ngày 07/4/2022. Các thửa đất 407 và 408 của ông M giáp ranh với thửa đất 358, 357, tờ bản đồ số 19 của bà Trần Thị T.

Ông Huỳnh Văn Đ cho rằng chỉ chuyển nhượng cho ông một phần thửa (mpt) 407 là không có căn cứ vì theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giấy thỏa thuận sang nhượng đất đều thể hiện chuyển nhượng tổng diện tích của 06 thửa đất, có bao gồm trọn thửa 407. Do ở xa nên ông M không trực tiếp canh tác đất mà cho người khác thuê. Sau đó, ông không cho ai thuê đất và cho bà T canh tác trồng lúa trên mpt 407. Trong quá trình canh tác, bà T đã xây hàng rào lấn sang đất của ông. Sau khi Ủy ban nhân dân xã H1, bà T đã múc đất giáp bờ ranh ở vị trí xây hàng rào làm thay đổi hiện trạng đất. Do đó ông khởi kiện yêu cầu:

  1. Buộc bà Trần Thị T phải trả cho ông M diện tích đất lấn chiếm khoảng 500m² (ngang 10m, dài 50m) thuộc mpt 407, 408, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
  2. Buộc bà Trần Thị T chấm dứt hành vi làm thay đổi hiện trạng mpt 407, 408, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
  3. Đối với phần hiện trạng đất bà T đã múc đất làm thay đổi hiện trạng mpt 407, 408, tờ bản đồ số 19, yêu cầu bà T bồi thường số tiền tạm tính 20.000.000 đồng.
  4. Buộc bà T tháo dỡ các công trình kiến trúc đã xây dựng trái phép trên thửa 407, 408, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

Sau khi nhận được Mảnh trích đo địa chính số 66-2024 ngày 16/01/2024 của Công ty TNHH Đ1, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ ký duyệt ngày 26/01/2024 (sau đây gọi chung là M1 trích đo địa chính số 66-2024 ngày 16/01/2024) và tại phiên tòa ông M xác định yêu cầu khởi kiện như sau:

  1. Rút lại yêu cầu khởi kiện buộc bà Trần Thị T phải trả cho ông M diện tích đất 187m², thuộc khu E thửa 357 (thửa mới 395); tờ bản đồ 19 (tờ bản đồ mới 22), tại xã Đ, huyện Đ theo Mảnh trích đo địa chính số 66-2024 ngày 16/01/2024.
  2. Rút lại yêu cầu khởi kiện buộc bà Trần Thị T phải bồi thường số tiền 20.000.000 đồng do đã múc đất làm thay đổi hiện trạng mpt 407, tờ bản đồ số 19, tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
  3. Buộc bà Trần Thị T phải trả cho ông M diện tích đất 457m², thuộc khu F, thuộc thửa 407 (thửa mới 377); tờ bản đồ 19 (tờ bản đồ mới 22); diện tích 61m², thuộc khu G, thuộc thửa 407 (thửa mới 379); tờ bản đồ 19 (tờ bản đồ mới 22), tại xã Đ, huyện Đ theo Mảnh trích đo địa chính số 66-2024 ngày 16/01/2024.
  4. Buộc bà Trần Thị T chấm dứt hành vi làm thay đổi hiện trạng mpt 407, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
  5. Buộc bà Trần Thị T tháo dỡ các công trình kiến trúc đã xây dựng trái phép trên thửa 407, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

Ông M đã được Tòa án giải thích và thông báo về quyền khởi kiện bổ sung đối với ông Đ là người đã chuyển nhượng thửa đất 407 cho ông trong trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông. Ông xác định, trong vụ án này, ông chỉ khởi kiện yêu cầu bà T trả đất. Trường hợp sau này giữa ông và ông Đ phát sinh tranh chấp ông sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

Ông N, bà T biết thửa đất số 407 do ông M đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vẫn cố tình xây dựng tường rào. Do đó, việc xây dựng này là trái quy định pháp luật nên ông M không hỗ trợ cho bà T bất kì chi phí tháo dỡ, di dời nào.

Tại đơn phản tố đề ngày 06/3/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Hữu N trình bày:

Ông N và bà T là vợ chồng. Bà T là chủ sử dụng các thửa đất số 336, 358, 357, tờ bản đồ số 19, đất tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 538716, được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 07/12/2007 và thửa đất 338, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 411943, được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy ngày 07/12/2007. Tất cả những thửa đất này, vợ chồng ông nhận chuyển nhượng từ ông Huỳnh Văn K vào năm 2007. Ông K giao cho vợ chồng ông 05 đám đất, vợ chồng ông giao đủ tiền cho ông K. Sau đó, ông K làm mọi thủ tục giấy tờ sang nhượng và giao lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông. Khoảng năm 2015, năm 2016, ông cần gia hạn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền Ngân hàng; khi đó vợ chồng ông mới biết trong 05 đám đất nhận chuyển nhượng từ ông K có một đám đất thuộc thửa 407 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông M. Vợ chồng ông có đề nghị ông M thương lượng sang tên lại nhưng ông M không đồng ý; hiện nay vợ chồng ông đang sử dụng diện tích đất thuộc mpt 407. Tháng 7/2023, vợ chồng ông xây dựng tường rào để xác định ranh giới với các thửa đất của ông M, hàng rào được xây dựng trên mpt 407, do mpt 407 là vợ chồng ông nhận chuyển nhượng từ ông K nên ông xây dựng. Ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn có yêu cầu phản tố như sau:

  1. Yêu cầu Tòa án xác định diện tích đất 457m² khu F, thuộc mpt 407 (thửa mới 377), tờ bản đồ 19 (tờ bản đồ mới 22); diện tích 61m² khu G, thuộc mpt 407 (thửa mới 379), tờ bản đồ 19 (tờ bản đồ mới 22), tại xã Đ, huyện Đ theo Mảnh trích đo địa chính số 66-2024 ngày 16/01/2024 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà T và cho bà T được quyền đi đăng ký kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất này.
  2. Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 240800 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Võ Văn M ngày 31/8/2005 tại thửa đất 407, tờ bản đồ số 19, tại xã Đ, tỉnh Long An.

Bị đơn đã được Tòa án giải thích và thông báo về quyền phản tố đối với những người thừa kế của ông K (do ông K đã chết) về việc chuyển nhượng mpt 407 cho bà T trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M. Tuy nhiên, trong vụ án này, bà T chỉ có yêu cầu phản tố nêu trên. Trường hợp sau này giữa bà T và những người thừa kế của ông K phát sinh tranh chấp bà T sẽ khởi kiện thành vụ án khác. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông M về việc tháo dỡ, di dời tường rào do bà T xây dựng trên thửa đất 407, bà T không yêu cầu ông M bồi thường chi phí tháo dỡ, di dời trong vụ án này, bà T sẽ khởi kiện thành vụ án khác nếu có phát sinh tranh chấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ôn Thị Thanh T1 trình bày tại Biên bản làm việc ngày 01/3/2023; ngày 14/8/2023 và tại phiên tòa có nội dung như sau:

Bà T1 thống nhất với lời trình bày của ông M và bổ sung một số ý kiến sau. Thửa đất số 407 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của vợ chồng bà, hiện nay ông M đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc chuyển nhượng thửa 407 giữa ông M và ông Đ là hợp pháp, ông Đ giao đất và chỉ ranh giới rõ ràng. Tại thời điểm ông M nhận chuyển nhượng thửa 407 từ ông Đ, thửa 358 vẫn do ông K đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ranh giới giữa thửa 358, 357 và thửa 407 là đường bờ lớn, rộng khoảng 70 cm, cao khoảng 60 cm, đường bờ này có từ xưa đến nay và vẫn còn hiện hữu. Bà T nhận chuyện nhượng thửa 358 từ năm 2007, sau ông M 02 năm, không kiểm tra, xác định ranh giới với thửa 407 của ông M là thiếu sót của bà T. Thửa đất 407 của ông M, ông M không có nghĩa vụ phải trực tiếp canh tác, sử dụng, ông M được quyền sử dụng theo nhu cầu của mình, điều này không làm mất đi các quyền đối với thửa đất 407 của ông M. Do đó, bà đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông M và không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà T.

Ông Đỗ Quang N1 là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Hữu N trình bày:

Thửa đất số 358, 357 của bà T giáp ranh với thửa đất 407 của ông M, phần đất tranh chấp do bà T quản lý, sử dụng ổn định từ khi nhận chuyển nhượng đến nay. Ông M cho rằng phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên ông không canh tác phần đất này từ khi nhận chuyển nhượng đến nay. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người làm chứng ông Huỳnh Văn Đ trình bày:

Ông là con đẻ của ông Huỳnh Văn L1 (chết năm 1972), ông L1 và ông Huỳnh Văn K (chết năm 2021) là anh em ruột. Nguồn gốc thửa đất 407, 357, 358 là của ông nội ông, sau khi ông nội chết, ông K là người trực tiếp quản lý, sử dụng các thửa đất này. Năm 2001, ông K chia đất cho ông, chia theo đám, không biết thửa đất số mấy, tờ bản đồ nào. Sau khi được chia đất, ông làm thủ tục đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu.

Năm 2005, ông chuyển nhượng cho ông M toàn bộ diện tích đất đã được ông K chia, bao gồm mpt đất 407; trọn các thửa 436, 476, 477, 478, 470, cùng tờ bản đồ số 19, tại xã Đ, huyện Đ theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân xã Đ chứng thực ngày 25/02/2005; Phòng Nông nghiệp huyện Đ xác nhận ngày 17/3/2005; Ủy ban nhân dân huyện Đ xác nhận ngày 30/3/2005. Việc chuyển nhượng có giao đất, chỉ ranh; ranh giới giữa diện tích đất ông chuyển nhượng cho ông M và diện tích đất của bà T là đường bờ nhỏ, hiện nay bà T đã xây dựng tường rào trên đường bờ này. Ông khẳng định chỉ chuyển nhượng cho ông M mpt 407 nhưng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để trọn thửa 407. Do không để ý và không đọc lại nội dung hợp đồng nên đến nay ông mới biết là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để trọn thửa 407.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người làm chứng bà Huỳnh Thị T2 trình bày:

Bà là con đẻ của ông Huỳnh Văn K, ông K chết năm 2021; các anh chị em khi lớn lên đều đi lập nghiệp ở nơi khác; riêng bà sống cùng ông K và lớn lên sống gần nhà ông K cho đến khi ông K chết; do đó bà biết rõ mọi sự việc liên quan đến quyền sử dụng đất của ông K. Ngày 21/11/2007, ông K có chuyển nhượng cho bà T các thửa đất 336, 358, 338, 357; cùng tờ bản đồ số 19, tại xã Đ theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân xã Đ chứng thực số 1365, quyển số 1 ngày 21/11/2007. Tại thời điểm chuyển nhượng đất cho bà T, gia đình bà không biết thửa đất số mấy, tờ bản đồ nào, chuyển nhượng và chỉ ranh nguyên đám đất. Gia đình bà đã chuyển nhượng cho bà T trong đó có diện tích đất đang tranh chấp 457m² gồm: Khu F, thuộc thửa 407 (thửa mới 377), tờ bản đồ 19 (tờ bản đồ mới 22); diện tích 61m², khu G, thuộc thửa 407 (thửa mới 379), tờ bản đồ 19 (tờ bản đồ mới 22), tại xã Đ, huyện Đ theo Mảnh trích đo địa chính số 66-2024 ngày 16/01/2024 mà ông M đang khởi kiện yêu cầu bà T trả lại. Trước đây, bà là người canh tác diện tích đất đang tranh chấp; ranh giới giữa diện tích đất mà gia đình bà đã chuyển nhượng cho bà T và diện tích đất ông M đang tranh chấp là đường bờ nhỏ; đường bờ lớn và đường bờ nhỏ do bà đắp. Đường bờ lớn hiện nay vẫn còn hiện hữu, đường bờ nhỏ hiện nay bà T đã xây dựng tường rào đè lên. Lý do bà đắp đường bờ lớn là để ngăn không cho nước vào ngập ruộng.

Người làm chứng bà Lê Thị Thu T3 trình bày tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 03/5/2024 của Tòa án có nội dung như sau:

Bà và chồng là ông Võ Thành T4 có thuê đất của ông M từ năm 2008 đến năm 2009, sau khi người thuê trước chết, vợ chồng bà là người thuê tiếp theo. Ông M chỉ đất cho vợ chồng bà từ vị trí tường rào do ông N xây dựng.

Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã tiến hành hòa giải tranh chấp giữa các bên nhưng kết quả không thành nên quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 63/2024/DS-ST ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã quyết định:

Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 217, Điều 227, Điều 228, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 203, Điều 116 của Luật đất đai năm 2013.

Căn cứ Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP ngày 24 tháng 9 năm 2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Căn cứ Điều 6, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn M về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu tháo dỡ, di dời tài sản trên đất” đối với bị đơn bà Trần Thị T.
  2. Không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị T sau:
    • - Xác định diện tích đất 457m², thuộc khu F, thuộc một phần thửa 407 (thửa mới 377); tờ bản đồ 19 (tờ bản đồ mới 22); diện tích 61m², thuộc khu G, thuộc một phần thửa 407 (thửa mới 379); tờ bản đồ 19 (tờ bản đồ mới 22), tại xã Đ, huyện Đ theo Mảnh trích đo địa chính số 66-2024 ngày 16/01/2024 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà T và cho bà T được quyền đi đăng ký kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất này.
    • - Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 240800 do Uỷ ban nhân huyện Đ cấp cho ông Võ Văn M ngày 31/8/2005 tại thửa đất 407, tờ bản đồ số 19, tại xã Đ, tỉnh Long An.
  3. Đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn M sau:
    • - Buộc bà Trần Thị T phải trả cho ông M diện tích đất 187m², tại khu E, thuộc thửa 357 (thửa mới 395); tờ bản đồ 19 (tờ bản đồ mới 22), tại xã Đ, huyện Đ theo Mảnh trích đo địa chính số 66-2024 ngày 16/01/2024.
    • - Buộc bà Trần Thị T phải bồi thường số tiền 20.000.000 đồng do đã múc đất làm thay đổi hiện trạng mpt 407, tờ bản đồ số 19, tại xã Đ, huyện Đ.
  4. Buộc bà Trần Thị T phải trả cho ông Võ Văn M diện tích đất 457m² tại khu F, thuộc thửa 407 (thửa mới 377), tờ bản đồ 19 (tờ bản đồ mới 22); diện tích 61m² tại khu G, thuộc thửa 407 (thửa mới 379), tờ bản đồ 19 (tờ bản đồ mới 22), tại xã Đ, huyện Đ theo Mảnh trích đo địa chính số 66-2024 ngày 16/01/2024 của Công ty TNHH Đ2, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ ký duyệt ngày 26/01/2024.
    • 4.1. Buộc bà Trần Thị T phải chấm dứt hành vi làm thay đổi hiện trạng một phần thửa 407, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ,
    • 4.2. Buộc bà Trần Thị T phải tháo dỡ hàng rào kết cấu móng, cột, bê tông, tường xây gạch lửng cao khoảng 0,4m, lưới B40 cao khoảng 1,4m, chiều dài khoảng 59,7m do bà T xây dựng trái phép trên một phần thửa đất 407 (thửa mới 377), tờ bản đồ số 19 (tờ bản đồ mới 22), tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ.
  5. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 14/2023/QĐ-BPKCTT ngày 08/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp.
  6. Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thị T có nghĩa vụ hoàn lại ông Võ Văn M số tiền 56.800.000 đồng (Năm mươi sáu triệu, tám trăm ngàn đồng).
  7. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị T được miễn toàn bộ án phí.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền và thời hạn kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án đối với các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm,

Ngày 16/5/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-DS đối với bản án dân sự sơ thẩm số 63/2024/DS-ST ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo hướng sửa bản án sơ thẩm như đã phân tích trong quyết định kháng nghị.

Ngày 17/5/2024, bị đơn bà Trần Thị T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Hữu N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau.

Ông Trần Hữu N là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Trần Thị T, đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm vì năm 2007 vợ chồng ông nhận chuyển nhượng của ông Huỳnh Văn K 05 đám đất, ông K chỉ ranh bờ và vợ chồng ông sử dụng ổn định tới khi ông M tranh chấp không có thay đổi hiện trạng. Vợ chồng ông và ông M khi nhận chuyển nhượng đất đều không có đo đạc thực tế mà theo thửa đất, đám đất nên vợ chồng ông không thể biết một phần đất mà vợ chồng ông sử dụng nằm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông M. Ông Huỳnh Văn Đ (em ruột ông K) cũng có lời trình bày rằng: Năm 2005, ông chuyển nhượng cho ông M toàn bộ diện tích đất đã được ông K chia, bao gồm mpt đất 407, trọn các thửa 436, 476, 477, 478, 470, cùng tờ bản đồ số 19 tại xã Đ, huyện Đ. Việc chuyển nhượng có giao đất, chỉ ranh; ranh giới đất ông chuyển nhượng cho ông M và diện tích đất của bà T là đường bờ nhỏ, hiện nay bà T đã xây dựng tường rào trên đường bờ này. Ông Đ cũng khẳng định chỉ chuyển nhượng cho ông M mpt 407 theo ranh đất có sẵn từ khi ông K chia đất cho ông theo đám đất. Ông Trần Hữu N đề nghị tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Ông N thống nhất với Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-DS ngày 16/5/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Luật sư Nguyễn Văn G là Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Võ Văn M, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà T, ông N; không chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa vì năm 2005 ông Võ Văn M nhận chuyển nhượng 06 thửa đất của ông Huỳnh Văn Đ, trong đó có thửa 407 cùng tờ bản đồ số 19 tại ấp N, xã Đ, huyện Đ. Khi nhận chuyển nhượng là trọn các thửa đất, ông M được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 31/8/2005. Ông K là người chuyển nhượng các thửa đất cho bà Trần Thị T vào năm 2007, sau thời điểm ông M nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Đ. Sau khi nhận chuyển nhượng đất, ông M không trực tiếp canh tác đất nhưng cho người khác thuê đất cũng không làm mất quyền của chủ sử dụng đất. Ông M được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất vào năm 2005, trước thời điểm bà T được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất vào năm 2007; bà T sử dụng phần đất tranh chấp không có giấy tờ chứng minh và phần diện tích đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông M. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T, ông N; không chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa; giữ y bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ông Võ Văn M không phát biểu bổ sung.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và các đương sự tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của bà T, ông N và Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-DS ngày 16/5/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa được làm trong thời gian luật quy định nên đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

- Về kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa:

Theo công văn số 3688/CN.VPĐKĐĐ-HCTH ngày 24/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ, khi tiến hành thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các thửa 407, 408 cho ông M và các thửa 336, 338, 357, 358 cho bà T đều không đo đạc thực tế thửa đất, không thực hiện ký giáp ranh với các chủ sử dụng đất liền kề.

Bà T và ông N xác định từ khi nhận chuyển nhượng đất vào năm 2007 đến nay, phần đất tại khu F và khu G theo Mảnh trích đo địa chính số 66- 2024 do gia đình bà T và ông N trực tiếp canh tác trồng lúa trên đất ổn định không ai tranh chấp cho đến khi ông bà xây dựng hàng rào mới phát sinh tranh chấp với ông M. Trước đó, phần đất tại vị trí này do bà Huỳnh Thị T2 là con của ông Huỳnh Văn K (chủ đất cũ) trực tiếp canh tác đất không ai tranh chấp. Thời điểm bà T nhận chuyển nhượng đất, các bên giao đất theo chỉ ranh trọn thửa, không đo đạc.

Ông M thừa nhận phần đất tại khu F và khu G kể từ khi nhận chuyển nhượng đất đến nay ông không trực tiếp canh tác đất, ông M cho người khác thuê đất, cụ thể là bà Huỳnh Thị N2. Sau khi bà N2 mất, ông M cho vợ chồng ông Võ Thành T4 và bà Lê Thị Thu T3 thuê đất, sau đó, ông M không cho ai thuê đất và để cho bà T (là bị đơn) canh tác trồng lúa trên đất.

Ông Huỳnh Văn Đ (là chủ cũ của thửa đất 407) có lời khai và lời trình bày tại phiên tòa và trong Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 03/5/2024 xác định: Thửa đất 407 có nguồn gốc của ông nội ông Đ, sau khi ông nội ông chết, ông K (là chú ruột ông) là người trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất này, năm 2001 sau khi ông K mất, gia đình phân chia đất, ông Đ được chia đất theo đám ruộng về ông Đ đăng ký kê khai cấp giấy lần đầu. Đến năm 2005, ông Đ chuyển nhượng nhiều thửa đất, trong đó có thửa 407 cho ông M, thời điểm chuyển nhượng không đo đạc thực tế, ông Đ xác định ông giao đất cho ông M là theo chỉ ranh và ranh thực tế ông Đ giao là ranh theo bờ đất nhỏ tại vị trí bà T và ông N xây tường rào, ranh giới này có từ trước đến nay không thay đổi.

Bà Huỳnh Thị T2 là con của ông K (chủ cũ của phần đất bán cho bà T), bà T2 là người sống cùng ông K và lớn lên sống gần nhà ông K cho đến khi ông K mất, bà T2 là người trực tiếp canh tác phần đất tranh chấp xác định: Ông K giao đất cho bà T là giao theo ranh trọn thửa; đường bờ đất lớn và đường bờ đất nhỏ có từ trước đến nay không thay đổi, ranh đất giữa phần đất gia đình bà đã chuyển nhượng cho bà T với diện tích đất của ông M là đường bờ đất nhỏ, hiện bà T đã xây dựng tường rào nằm trên bờ đất nhỏ. Bà T2 xác định bờ đất lớn và bờ đất nhỏ đều là do bà Thia đắp tạo nên trong quá trình canh tác đất trồng lúa, lý do bà T2 đắp bờ đất lớn là để ngăn không cho nước vào ngập ruộng.

Bà Lê Thị Thu T3 (vợ ông Võ Thành T4 - trình bày tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 03/5/2024) xác định vợ chồng bà là người thuê đất của ông M từ năm 2008 đến năm 2009, sau khi người thuê trước chết, bà xác định ông M chỉ đất cho vợ chồng bà thuê canh tác có vị trí ranh tiếp giáp với tường rào do gia đình ông N và bà T xây dựng hiện đang tồn tại.

Từ các chứng cứ và phân tích nêu trên có cơ sở để xác định: Trước khi ông M và bà T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ranh giới đất hai bên đã được xác định, trong đó có một phần đất đang tranh chấp do gia đình bà T trực tiếp sử dụng từ khi nhận đất đến nay, trước đó do chủ sử dụng cũ là ông K và bà T2 là người trực tiếp sử dụng trước khi ông M nhận chuyển nhượng đất từ ông Đ, việc sử dụng đất của gia đình bà T là liên tục, công khai và ông Đ (chủ cũ của thửa đất chuyển nhượng cho ông M) và ông M đều biết nên không thể cho rằng gia đình bà T lấn đất. Ông M căn cứ vào việc đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để yêu cầu gia đình bà T trả đất nhưng việc cấp giấy cho ông M là cấp trọn thửa, giao đất thực tế là giao đất theo ranh, cơ quan chức năng không đo đạc thực tế, không lập biên bản ký giáp ranh với chủ sử dụng đất liền kề nên khi cấp giấy cho ông M không phát hiện gia đình bà T, gia đình ông K là người đang thực tế sử dụng đất. Ông M không cung cấp được chứng cứ chứng minh gia đình bà T lấn đất hay được ông cho mượn đất để sử dụng. Do đó, yêu cầu phản tố của bà T về việc xác định diện tích đất có vị trí tại khu F và khu G theo Mảnh trích đo địa chính số 66- 2024 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà T là có căn cứ. Do đó, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa là có cơ sở chấp nhận.

- Về kháng cáo của bà Trần Thị T, ông Trần Hữu N: Như nhận định ở trên, yêu cầu phản tố của bà T về việc xác định diện tích đất có vị trí tại khu F và khu G theo Mảnh trích đo địa chính số 66-2024 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà T là có căn cứ, nên có cơ sở chấp nhận.

Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 240800 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Võ Văn M ngày 31/8/2005 tại thửa đất 407, tờ bản đồ số 19, tại xã Đ, tỉnh Long An: Theo quy định tại Văn bản số 837/TCQLĐĐC-ĐKĐĐ ngày 11/5/2021 của T5 - Bộ T6 có nội dung “... pháp luật đất đai không có quy định hủy một phần Giấy chứng nhận đã cấp...”, các cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự cho phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa; chấp nhận một phần kháng cáo của bà T, ông N. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Trần Thị T, ông Trần Hữu N; Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa được thực hiện đúng quy định tại Điều 272, 278 và được gửi đến Tòa án trong thời hạn quy định tại Điều 273, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp:

[2.1] Thửa đất số 407, tờ bản đồ số 19 tọa lạc tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An có nguồn gốc của ông Huỳnh Văn Đ, ông Đ được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/8/1997 gồm 09 thửa đất, trong đó có thửa 407, diện tích 1454m², loại đất LM. Ngày 25/01/2005 ông Huỳnh Văn Đ lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 8129m² đất, loại Lúa màu tại các thửa 436, 476, 477, 478, 479, 407 cho ông Võ Văn M; hợp đồng chuyển nhượng được Ủy ban nhân dân xã Đ chứng thực ngày 25/02/2005. Khi chuyển nhượng đất, ông Đ và ông M thỏa thuận bán hết đất theo quyền sử dụng đất, không đo đạc. Ông Võ Văn M được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 31/8/2005.

[2.2] Liền kề với các thửa đất của ông M là các thửa đất số 336, 358, 338, 357, tờ bản đồ số 19, diện tích 4643m², loại đất lúa và đất ở (ONT) tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An có nguồn gốc của ông Huỳnh Văn K (anh ông Huỳnh Văn Đ) chuyển nhượng cho bà Trần Thị T theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/4/2007, được Ủy ban nhân dân xã Đ chứng thực cùng ngày. Bà Trần Thị T được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 07/12/2007. Khi thỏa thuận chuyển nhượng là chỉ theo đám đất, không có đo đạc thực tế.

[3] Xét kháng cáo của bà Trần Thị T và ông Trần Hữu N, thấy rằng:

[3.1] Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Việc Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2005 cho ông Võ Văn M đối với các thửa đất 436, 476, 477, 478, 479, 407 và năm 2007 cho bà Trần Thị T đối với các thửa 336, 358, 338, 357, cùng tờ bản đồ số 19, loại đất lúa và đất ở (ONT) tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đ đối với ông M; giữa ông K đối với bà T và căn cứ vào bản đồ địa chính lập vào năm 1996, kê khai tự nguyện của người sử dụng đất, không có đo đạc thực tế cắm mốc.

[3.2] Về quá trình sử dụng đất:

[3.2.1] Bà T và ông N xác định từ khi nhận chuyển nhượng đất vào năm 2007 cho đến nay, phần đất tại khu F và khu G theo Mảnh trích đo địa chính số 66- 2024 do gia đình bà T và ông N trực tiếp canh tác trồng lúa trên đất ổn định không ai tranh chấp cho đến khi ông bà xây dựng hàng rào vào năm 2023 mới phát sinh tranh chấp với ông M. Trước đó, phần đất tại vị trí này do bà Huỳnh Thị T2 là con của ông Huỳnh Văn K (chủ đất cũ) trực tiếp canh tác đất không ai tranh chấp. Thời điểm bà T nhận chuyển nhượng đất, các bên giao đất theo chỉ ranh trọn thửa, không đo đạc.

[3.2.2] Ông M thừa nhận phần đất tại khu F và khu G kể từ khi nhận chuyển nhượng đất đến nay ông không trực tiếp canh tác đất, ông M cho người khác thuê đất, cụ thể là bà Huỳnh Thị N2. Sau khi bà N2 mất, ông M cho vợ chồng ông Võ Thành T4 và bà Lê Thị Thu T3 thuê đất; sau đó, ông M không cho ai thuê đất và để cho bà T (là bị đơn) canh tác trồng lúa trên đất.

[3.2.3] Người làm chứng ông Huỳnh Văn Đ (là chủ cũ của thửa đất 407) có lời khai tại Biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 14/8/2023; ngày 19/4/2024 và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm có nội dung như sau: Thửa đất 407 có nguồn gốc của ông nội ông Đ; sau khi ông nội ông chết, ông K (là chú ruột ông) là người trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất này. Khoảng năm 2001, 2002 ông K chia đất cho ông; khi chia đất ông K chỉ từng đám, không biết thửa đất số mấy, tờ bản đồ nào. Sau khi được chia đất, ông Đ đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu. Năm 2005, ông Đ chuyển nhượng cho ông M toàn bộ diện tích đất được chia, bao gồm một phần thửa đất 407; các thửa 436, 476, 477, 478, 470 cùng tờ bản đồ số 19, tại ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Ông Đ xác nhận chỉ chuyển nhượng cho ông M một phần thửa 407, ông giao đất cho ông M có chỉ ranh giới theo đám đất, ranh giới hiện nay vẫn còn là đường bờ nhỏ phân ranh đất giữa bà T và ông M. Do ông không để ý nên không biết hợp đồng ghi trọn thửa 407 và ông M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này. Ông Đ xác định một phần thửa 407 bà T đang quản lý, sử dụng và đã xây tường rào là của ông K chuyển nhượng cho bà T, không phải đất của ông Đ chuyển nhượng cho ông M.

[3.2.4] Người làm chứng bà Huỳnh Thị T2 có lời trình bày tại Biên bản lấy lời khai của người làm chứng ngày 14/8/2023; ngày 19/4/2024 và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm có nội dung như sau: Bà T2 là con đẻ của ông Huỳnh Văn K. Các thửa đất số 336, 358, 338, 357 và một phần thửa 407 gia đình bà T đang quản lý, sử dụng là của ông K chuyển nhượng cho bà T từ năm 2007. Trước khi ông K chuyển nhượng các thửa đất này, bà T2 là người trực tiếp quản lý, sử dụng. Do trước đây chia đất là chia theo đám, chỉ đất, không biết thửa đất, tờ bản đồ nhưng khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ lại cấp trọn thửa 407 là không đúng. Ranh giới giữa các thửa đất 336, 358, 338, 357; một phần thửa 407 và một phần thửa 407 của ông M là đường bờ nhỏ, hiện vẫn tồn tại, bà T đã xây dựng tường rào nằm trên bờ đất nhỏ. Bà T2 xác định bờ đất lớn và bờ đất nhỏ đều là do bà Thia đắp tạo nên trong quá trình canh tác đất trồng lúa, lý do bà T2 đắp bờ đất lớn là để ngăn không cho nước vào ngập ruộng.

[3.2.5] Bà Lê Thị Thu T3 (vợ ông Võ Thành T4 trình bày tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 03/5/2024) của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa có nội dung như sau: Bà T3 xác định vợ chồng bà là người thuê đất của ông M từ năm 2008 đến năm 2009, sau khi người thuê trước chết. Bà xác định ông M chỉ đất cho vợ chồng bà thuê canh tác có vị trí ranh tiếp giáp với tường rào do gia đình ông N và bà T xây dựng hiện đang tồn tại.

[3.2.6] Theo công văn số 3688/CN.VPĐKĐĐ-HCTH ngày 24/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ có nội dung như sau: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các thửa đất nói trên (các thửa đất 407, 436, 476, 477, 478, 470 của ông M và các thửa đất 336, 358, 338, 357 của bà T) không đo đạc thực tế thửa đất. Do đó, không thực hiện ký giáp ranh với các chủ đất liền kề.

[3.2.7] Theo Mảnh trích đo địa chính số 66-2024, các đương sự thống nhất phần đất tranh chấp có vị trí tại khu F, diện tích đo đạc thực tế 457m² (thuộc một phần thửa mới 377, cũ 407), loại đất LUC và khu G, diện tích 61m² (thuộc một phần thửa mới 379, cũ 407), loại đất LUC. Khu F và Khu G theo ranh bản đồ địa chính thể hiện thuộc một phần thửa 407 (cũ), tờ bản đồ số 19 (cũ) do ông M là người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng thực tế gia đình bà T và ông N là người trực tiếp quản lý, sử dụng trồng lúa.

[3.2.8] Căn cứ vào Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 03/5/2024, Mảnh trích đo địa chính số 66-2024 thể hiện:

Hướng Bắc của khu F (thuộc một phần thửa cũ 407) tiếp giáp với khu C (thuộc một phần thửa cũ 358) tồn tại một bờ đất lớn rộng khoảng 70cm, cao 60 cm so với mặt ruộng. Nguyên đơn xác định đây là bờ ranh đất giữa bị đơn và nguyên đơn.

Hướng Nam của khu F (thuộc một phần thửa cũ 407) tiếp giáp với khu H (thuộc một phần thửa cũ 407) tồn tại một bờ đất nhỏ rộng khoảng 40cm, cao 30cm so với mặt ruộng, tại vị trí bờ đất này, bị đơn xây dựng hàng rào kết cấu móng, cột, bê tông, tường xây gạch lủng. Bị đơn xác định đây là bờ ranh đất giữa bị đơn và nguyên đơn.

Ngoài ra, qua xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa vào ngày 03/5/2024 đối với các khu đất thể hiện trên Mảnh trích đo địa chính số 66-2024 cho thấy:

Hướng Đông của khu F tiếp giáp với khu G (thuộc một phần thửa cũ 407) có tồn tại một bờ đất lớn tương tự như vị trí tiếp giáp giữa khu F với khu C.

Hướng B và hướng Đông của khu G tiếp giáp với khu D (thuộc một phần thửa đất cũ 357) không tồn tại ranh giới đất, hiện trạng đất đang trồng lúa bề mặt bằng phẳng.

Hướng Đông của khu H tiếp giáp với khu E (thuộc một phần thửa cũ 407) được phân ranh rõ là một bờ đất lớn có cây trồng trên bờ.

Hướng Nam của khu H có tồn tại một bờ đất nhỏ tương tự vị trí tiếp giáp giữa khu F với khu H

Tất cả các bờ ranh nêu trên, các đương sự và chủ sử dụng đất cũ đều thừa nhận và xác định đã tồn tại từ trước đến nay, trước khi ông M và bà T nhận chuyển nhượng đất đã có, hiện trạng không thay đổi.

[3.2.9] Từ những căn cứ trên, thấy rằng: Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất nêu trên đều không đo đạc thực tế, không ký giáp ranh giữa các chủ sử dụng đất liền kề; nguồn gốc đất tranh chấp đều do gia đình ông K là chủ sử dụng, sau đó chuyển nhượng cho bà T. Ông Huỳnh Văn Đ được ông K chia đất năm 2001, sau đó chuyển nhượng cho ông Võ Văn M. Ông K và ông Đ giao đất cho bà T và ông M là giao ranh theo thửa ruộng, có bờ ranh hiện hữu từ trước khi bà T và ông M nhận chuyển nhượng đất; phần đất tranh chấp từ khi nhận chuyển nhượng đến nay đều do gia đình bà T trực tiếp sử dụng, canh tác đất, có phân ranh theo bờ đất với phần đất của ông M; ông M không sử dụng phần đất tranh chấp kể từ khi nhận chuyển nhượng, nhận đất cho đến nay; khi ông M cho người khác thuê đất canh tác cũng không cho thuê phần đất tranh chấp.

[3.2.10] Ông M cho rằng sau khi cho vợ chồng ông T4 và bà T3 thuê đất, ông không cho ai thuê mà để cho gia đình bị đơn canh tác trồng lúa trên phần đất của mình là mâu thuẫn, vì đã là đất của mình nhưng vẫn cho chủ đất liền kề canh tác đất, không cho thuê đất như những người thuê trước, không thu lợi từ việc cho canh tác đất là không phù hợp với sự thật khách quan và ý chí của chủ sử dụng đất.

[3.2.11] Mặt khác, ông M cho rằng phần đất tại khu G theo Mảnh trích đo địa chính số 66-2024 là phần đất ông nhận chuyển nhượng từ ông Đ nhưng kết quả thẩm định tại chỗ cho thấy, tại vị trí này không có phân ranh giữa khu G với khu D của gia đình bà T, không thể hiện việc phá dỡ hay san lấp bờ ranh, hiện trạng phần đất này là mặt ruộng do gia đình bà T đang canh tác trồng lúa.

[3.2.12] Từ các chứng cứ và phân tích nêu trên, có cơ sở để xác định: Trước khi ông M và bà T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ranh giới đất hai bên đã được xác định, trong đó có một phần đất đang tranh chấp do gia đình bà T trực tiếp sử dụng từ khi nhận đất đến nay, trước đó do chủ sử dụng cũ là ông K và bà T2 là người trực tiếp sử dụng trước khi ông M nhận chuyển nhượng đất từ ông Đ, việc sử dụng đất của gia đình bà T là liên tục, công khai và ông Đ (chủ cũ của thửa đất chuyển nhượng cho ông M) và ông M đều biết nên không thể cho rằng gia đình bà T lấn đất. Ông M căn cứ vào việc đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để yêu cầu gia đình bà T trả đất nhưng việc cấp giấy cho ông M là cấp trọn thửa, giao đất thực tế là giao đất theo ranh, cơ quan chức năng không đo đạc thực tế, không lập biên bản ký giáp ranh với chủ sử dụng đất liền kề nên khi cấp giấy cho ông M không phát hiện gia đình bà T (trước đây là gia đình ông K) là người đang thực tế sử dụng đất.

[3.2.13] Ông M không cung cấp được chứng cứ chứng minh gia đình bà T lấn đất hay được ông cho mượn đất để sử dụng. Do đó, kháng cáo của bà T, ông N về việc xác định diện tích đất có vị trí tại khu F và khu G theo Mảnh trích đo địa chính số 66-2024 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà T là có căn cứ chấp nhận.

Theo quy định của Luật đất đai, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải phản ánh đúng vị trí, hình thể, diện tích, chủ sử dụng đất tại thời điểm xét duyệt. Tuy nhiên, Hội đồng xét duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xã Đ đã không tuân thủ đúng quy định trên, không do đạc diện tích thực tế thửa đất, không xác định người đang trực tiếp quản lý sử dụng đất mà xét duyệt dựa vào bản đồ địa chính, trong khi hiện trạng sử dụng thực tế một phần thửa đất số 407 do bà T quản lý sử dụng mà lại cấp cho ông M là không đúng đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông M buộc bà T tháo dỡ hàng rào xây dựng trái phép để trả đất mà không xác định ranh giới đất theo hiện trạng sử dụng đất thực tế để các bên kê khai, đăng ký, điều chỉnh giấy chứng nhận theo thực tế sử dụng đất là không có cơ sở, không phù hợp với quy định tại Điều 170 Luật Đất đai năm 2013, Điều 175, Điều 176 Bộ luật Dân sự năm 2015, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bà Trần Thị T. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo này của bà Trần Thị T, ông Trần Hữu N.

[3.3] Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 240800 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Võ Văn M ngày 31/8/2005 tại thửa đất 407, tờ bản đồ số 19, loại đất LUA tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An của bà Trần Thị T, thấy rằng: Theo quy định tại Văn bản số 837/TCQLĐĐC-ĐKĐĐ ngày 11/5/2021 của T5 - Bộ T6 có nội dung: “... pháp luật đất đai không có quy định hủy một phần Giấy chứng nhận đã cấp...”, các cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự cho phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án. Do đó, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của bà T.

[4] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, thấy rằng: Trong vụ án này, kháng cáo của bà Trần Thị T, ông Trần Hữu N trùng với nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa. Như đã nhận định ở phần trên, yêu cầu phản tố của bà T về việc xác định diện tích đất có vị trí tại khu F và khu G theo Mảnh trích đo địa chính số 66-2024 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà T là có căn cứ nên có cơ sở chấp nhận. Riêng đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 240800 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Võ Văn M ngày 31/8/2005 tại thửa đất số 407, như đã phân tích ở trên là không có căn cứ nên không được chấp nhận. Do đó, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa là có căn cứ chấp nhận.

[5] Lời trình bày của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Võ Văn M là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Lời trình bày của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị T và ông Trần Hữu N không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Hữu N.

Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-DS ngày 16/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 63/2024/DS-ST ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 217, Điều 227, Điều 228, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 170, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013.

Căn cứ Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP ngày 24 tháng 9 năm 2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Căn cứ Điều 6, Điều 12, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn M về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu tháo dỡ, di dời tài sản trên đất” đối với bị đơn bà Trần Thị T.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Trần Thị T, cụ thể:
    • 2.1. Xác định diện tích đất 457m² tại khu F, loại đất LUC thuộc một phần thửa 407 (cũ), thửa mới 377 (1p), tờ bản đồ số 19 (cũ), tờ bản đồ mới 22; diện tích 61m² tại khu G, loại đất LUC thuộc một phần thửa 407 (cũ), thửa mới 379 (1p), tờ bản đồ 19 (cũ), tờ bản đồ mới 22, tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An thuộc quyền sử dụng của bà Trần Thị T.
    • 2.2. Bà Trần Thị T có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được điều chỉnh lại hoặc được cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 457m² tại khu F, loại đất LUC thuộc một phần thửa 407 (cũ), thửa mới 377 (1p), tờ bản đồ số 19 (cũ), tờ bản đồ mới 22; diện tích 61m² tại khu G, loại đất LUC thuộc một phần thửa 407 (cũ), thửa mới 379 (1p), tờ bản đồ 19 (cũ), tờ bản đồ mới 22, tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
    • 2.3. Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan tài nguyên môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

    Vị trí, kích thước, tứ cận thửa đất được thể hiện trên theo Mảnh trích đo địa chính số 66-2024 do Công ty TNHH Đ2 đo ngày 16/01/2024, được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện Đ, tỉnh Long An duyệt ngày 26/01/2024.

    • 2.4. Ông Võ Văn M và bà Ôn Thị Thanh T1 có nghĩa vụ giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 240800 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Võ Văn M ngày 31/8/2005 tại thửa đất 407, loại đất LUA tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An để bà Trần Thị T điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định bản án.
    • 2.5. Trường hợp ông Võ Văn M và bà Ôn Thị Thanh T1 (bên phải thi hành án) không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Võ Văn M đối với phần diện tích đất được tuyên án tại mục 2.1 và mục 2.2 phần Quyết định của bản án này.
  3. Không chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 240800 do Ủy ban nhân huyện Đ cấp cho ông Võ Văn M ngày 31/8/2005 tại thửa đất 407, tờ bản đồ số 19, tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
  4. Đình chỉ xét xử đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn M, cụ thể như sau:
    • 4.1. Buộc bà Trần Thị T phải trả cho ông M diện tích đất 187m², tại khu E, thuộc thửa 357 (thửa mới 395); tờ bản đồ 19 (tờ bản đồ mới 22), tại xã Đ, huyện Đ theo Mảnh trích đo địa chính số 66-2024 ngày 16/01/2024.
    • 4.2. Buộc bà Trần Thị T phải bồi thường số tiền 20.000.000 đồng do đã múc đất làm thay đổi hiện trạng mpt 407, tờ bản đồ số 19, tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
  5. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 14/2023/QĐ-BPKCTT ngày 08/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp.
  6. Về chi phí tố tụng: Ông Võ Văn M phải chịu 56.800.000 đồng (Năm mươi sáu triệu, tám trăm ngàn đồng), ông M đã nộp và chi phí xong.
  7. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Văn M được miễn nộp án phí.
  8. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị T và ông Trần Hữu N không phải chịu.
  9. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  10. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP. HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Ngọc Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 323/2024/DS-PT ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu tháo dỡ, di dời tài sản trên đất

  • Số bản án: 323/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu tháo dỡ, di dời tài sản trên đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn M "Tranh chấp quyền sử dụng đất,..." Trần Thị T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger