|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 322/2024/DS- ST Ngày: 27-9-2024 V/v tranh chấp lối đi chung |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Ngô Hồng Lan Thảo;
Ông Nguyễn Văn Hoàn.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh, Kiểm sát viên.
Vào các ngày 25 và 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 197/2024/TLST-DS ngày 12/4/2024 về việc “Tranh chấp lối đi chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 481/2024/QĐXXST-DS ngày 30/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1965; địa chỉ: Số B, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Cao Văn V, Luật sư thuộc Văn phòng L2, Đoàn Luật sư tỉnh B. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Văn M, sinh năm 1960; địa chỉ: Số E (số cũ B), khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Minh P, sinh năm 1985; địa chỉ: Số E (số cũ B), khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; là người đại diện theo uỷ quyền (văn bản uỷ quyền ngày 02/7/2024). Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Trần Văn S, sinh năm 1962; địa chỉ: Số B khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
+ Bà Trần Thị H1, sinh năm 1967; địa chỉ: F, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.
+ Bà Trần Thị T, sinh năm 1969; địa chỉ: Số B, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
+ Bà Trần Thị Ánh T1, sinh năm 1960; địa chỉ: Số E (số cũ B), khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên toà, nguyên đơn ông Trần Văn H trình bày:
Cha mẹ ông là ông Trần Văn T2 (chết năm 2021) và bà Võ Thị T3 (chết năm 2021) chung sống với nhau có được 05 người con gồm: Trần Văn M, Trần Văn S, Trần Văn H, Trần Thị H1 và Trần Thị Tuyết. Trong thời gian chung sống, cha mẹ ông được ông bà để lại cho các thửa đất sau:
Phần đất có diện tích 2.566m², thuộc thửa đất 354 và 355, tờ bản đồ số: 7, tọa lạc tại khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Phần đất có diện tích 1.566m², thuộc thửa 357, tờ bản đồ số: 07, tọa lạc tại khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Phần đất có diện tích 5.484m², thuộc thửa đất số: 324, 358, tờ bản đồ số: 7, tọa lạc tại khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương và thửa đất số 415, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Vào năm 1995, cha mẹ ông đã lập bản phác thảo di chúc phân chia đất cho các con. Đây là bản phác thảo ông tìm được trong tủ sau khi cha mẹ chết, ông không rõ viết thời điểm nào, ai trực tiếp viết, tuy nhiên ông cho rằng đó là di chúc của cha mẹ để lại. Đồng thời, cha mẹ ông đã ủy quyền cho ông Trần Văn M đứng ra đăng ký kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 354 và 355 có diện tích 2.566m², còn các thửa đất còn lại thì ông T2 trực tiếp đăng ký kê khai xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đến ngày 26/8/1996, ông M được UBND huyện T (nay là thành phố D) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 2.566m², còn cha của ông được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 5.484m². Đối với diện tích đất 1.566m² thì ông T2 được UBND huyện D cấp Giấy chứng nhận QSDĐ vào ngày 24/6/2003. Đến năm 2003, ông T2 tiến hành tách thửa tặng cho đất cho những người con khác chưa có đất và ông H được UBND huyện T (nay là thành phố D) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: Y009704, số vào sổ cấp GCN: 5415 QSDĐ/CN.TĐH với diện tích 1.386m², thuộc thửa đất số: 357d và 358d; tờ bản đồ số: 07 ngày 01/10/2003. Tại thời điểm tặng cho đất cho ông M, do các thửa đất của ông cùng các anh em là ông Trần Văn S (thửa 357c, 358c), bà Trần Thị T1 (thửa 357a, 358a) và bà Trần Thị H1 (thửa 357b, 358b) nằm phía bên trong, không có lối đi nào khác nên cha ông đã cắt đất chừa 01 con đường đi chung có chiều rộng 5m, chiều dài ra đến giáp thửa đất số 356 của một chủ đất khác. Để các con tiếp tục có đường đi ra đến đường ĐT743, ông T2 chừa thêm đất
làm đường đi chung có diện tích 148m² (chiều rộng 2m, chiều dài 74m) đi qua thửa đất số 354 và 355. Tuy nhiên, khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì con đường này vẫn nằm trong Giấy chứng nhận của ông M. Việc tặng cho đất cho các con và chừa đường đi chung được cha ông thể hiện trong bản vẽ phác thảo di chúc nói trên. Vừa qua giữa các anh em có chút hiểu lầm với nhau nên đã phát sinh mâu thuẫn, khi đó ông M đã thông báo đường đi chung thuộc thửa đất 354 và 355 đã được UBND có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông nên ông có quyền khóa cổng rào đầu đường (đoạn vào nhà ông M) không cho ông H và người em là Trần Thị H1 đi vào khu đất. Ngày 21/12/2023, Ủy ban nhân dân phường T mời hai bên lên hòa giải nhưng kết quả hòa giải không thành.
Theo đơn khởi kiện, ông H yêu cầu Toà án giải quyết những vấn đề sau:
- Công nhận quyền sử dụng đất có diện tích theo kết quả đo đạc thực tế là 150,7 m² tọa lạc tại khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương là lối đi chung của ông Trần Văn H, ông Trần Văn M, ông Trần Văn S, bà Trần Thị T1, bà Trần Thị H1.
- Buộc ông Trần Văn M phải tháo dỡ cổng sắt chắn ngang đường đi chung để ông được sử dụng đường đi vào khu đất.
Sau khi Toà án thụ lý và tiến hành đo đạc, xác định trong diện tích đất 150.7m² nói trên có một phần đường đá diện tích 76 m² (vị trí từ đường ĐT743A vào đến trước cổng sắt nhà ông M) là đường đi chung được nhiều hộ dân sử dụng chung, người đại diện hợp pháp của ông M đã có ý kiến xác định vẫn thống nhất để mọi người cùng đi, không ngăn cản và không tranh chấp, do đó ông H xác định lại yêu cầu khởi kiện theo đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện như sau:
- Công nhận quyền sử dụng đất có diện tích theo kết quả đo đạc thực tế là 74,7 m² tọa lạc tại khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (phần C trên Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý ngày 20/9/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố D) là lối đi chung của ông Trần Văn H, ông Trần Văn M, ông Trần Văn S, bà Trần Thị T1, bà Trần Thị H1.
- Buộc ông Trần Văn M phải tháo dỡ cổng sắt chắn ngang đường đi chung và các tài sản khác của ông Trần Văn M gắn liền trên lối đi chung để ông được sử dụng đường đi vào khu đất.
Trường hợp Toà án xác định quyền sử dụng đất tranh chấp không phải lối đi chung thì ông yêu cầu xem xét buộc ông Trần Văn M mở lối đi này cho ông và các anh chị em cùng sử dụng để vào lối đi ông T2 đã tự chừa phía trong để đi vào thửa đất của các anh chị em. Ông đồng ý chịu các chi phí phát sinh.
- Tại bản tự khai ngày 13/5/2024, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên toà, bị đơn ông Trần Văn M và người đại diện hợp pháp là ông Trần Minh P thống nhất trình bày:
Ông Trần Văn M là chủ sử dụng của quyền sử dụng đất thuộc thửa 354, 355, tờ bản đồ số 7, ấp Đ (nay là khu phố T), phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Quyền sử dụng đất này có nguồn gốc: thửa 354 (phía trong) do ông bà khai phá,
cùng chung nguồn gốc như thửa 357 (hiện đứng tên ông Trần Văn H, Trần Thị H1, Trần Thị T1, Trần Văn S). Thửa 355 (phía ngoài, có 01 phần giáp đường) có nguồn gốc do cha của ông M là ông Trần Văn T2 lúc còn sống đổi đất của ông Võ Văn K (cậu của ông M), theo đó ông T2 đổi cho ông K 01 thửa đất khác để lấy thửa đất này. Sau đó ông M được lập thủ tục và được UBND huyện T (nay là UBND thành phố D) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2436/QSDD/TĐH. Trước khi đổi đất cho ông K thì gia đình ông T2 cùng các con đã canh tác tại thửa đất số 354, 357, chủ yếu trồng đậu, trồng khoai chứ không sinh sống ở đây. Do thời điểm xa xưa đất còn rộng, luông tuồng, chưa có tường rào như hiện nay nên sử dụng lối đi băng qua các thửa đất khác để vào khu đất này chứ không có lối đi nào cụ thể. Khoảng năm 1980 ông M lấy vợ, có gia đình riêng, ông T2 cho ông M một phần đất để canh tác, đất kế đất của ông K. Tuy nhiên sau đó đến khoảng 1983 thì được ông T2 thoả thuận với ông K để đổi phần đất kế ông K này cho ông K để lấy phần đất thuộc thửa 355 hiện nay, mục đích để hai bên thuận tiện sử dụng.
Đối với thửa đất số 355 có một phần tiếp giáp đường ĐT743 (từ đường ĐT743 đến trước cổng sắt nhà ông M hiện nay) bề ngang gần 2m, hiện trạng giống lối đi có nguồn gốc: Ông không biết rõ hình thành từ thời gian trước hay sau khi ông K đổi đất cho ông T2, tuy nhiên thời điểm sau khi đổi đất đã có phần lối đi này. Theo ông nghe kể lại lối đi này hình thành do trước đó phần lối đi này và phần đất phía trước nhà đều là đất của ông K, sau khi ông K hiến đất cho nhà nước và nhà nước cấp đất cho người khác (phần giáp đường ĐT743A) thì bắt buộc phải chừa một lối đi để vào đất của ông K và những nhà phía sau. Do ông T2 có xe bò đi ra đi lại lối mòn này nên dần hình thành xe bò như hiện nay. Nay ông xác định đối với phần lối đi này (từ đường ĐT743A vào trước cổng sắt nhà ông M), trên Mảnh trích lục địa chính ngày 21/6/2024 thể hiện diện tích 76.0 m² hiện trạng đường đá mặc dù nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông M được cấp nhưng là lối đi chung của tất cả mọi người (bao gồm cả ông H) và các hộ dân kế bên, ông M cam kết không ngăn cản bất cứ ai đi trên lối đi này cũng không yêu cầu gì đối với lối đi này. Trường hợp sau này nhà nước có thu hồi làm đường đi thì nhà nước cứ thực hiện theo đúng quy định, ông M không có ý kiến gì.
Đối với phần đất ông H tranh chấp xác định lối đi chung ở phía trong (từ cổng sắt vào phía trong) thì ông M xác định đây không phải là lối đi chung. Trước đây cha của ông M (ông T2) đã xây tường bít hai hướng phía sau khu đất (thửa 354, 355, 357), trong đó thửa 354, 357 phía sau (phía Bắc) giáp Nghĩa địa Triều Châu, phía Đông giáp Công ty T7, đều có tường xây của ông T2 xây). Thời điểm tách thửa đối với thửa đất số 357 cho các con thì nhà nước bắt buộc phải chừa lối đi cho các thửa đất này, ông T2 dự tính chừa lối đi 2m nhưng nhà nước không đồng ý nên trên giấy tờ mới thể hiện chừa lối đi 5m, nhưng chỉ chừa trong phạm vi thửa 357 để làm thủ tục tách thửa chứ thực tế không nối với bất cứ lối đi nào bên ngoài. Các cây cối trong thửa 357 chủ yếu đều do ông T2 trồng, canh tác, phía thửa đất 354, 355 ông T2 cho ông M thì ông M về đây sinh sống, canh tác và làm nhà ở đây, các anh em của ông M không canh tác, không sống trong các khu đất này. Sau khi ông T2 chết (năm 2020) thì sau đó bà T1 về phần đất được ông T2 cho để dựng nhà ở cho đến nay. Như vậy ông M xác định đối với phần đất tranh
chấp phía ngoài (đường đá từ đường ĐT743 đến trước cổng sắt nhà ông M) là lối đi chung của mọi người, không ngăn cản hay tranh chấp với ai. Đối với phần đất tranh chấp phía trong (từ cổng sắt vào nhà ông M) là đất của ông M, ông M có toàn quyền quyết định. Trước đây ông bà (ông T2) có ý định xây bít xung quanh khu đất và cho đất các con trong khu, bao gồm cả khu thổ mộ phía sau (kế đất ông H hiện nay) để các anh chị em sử dụng quây quần với nhau nên nếu ông H, những anh em còn lại của ông M sử dụng lối đi qua nhà ông M để vào đất của mình và khu thổ mộ phía sau thì ông M không ngăn cản, vẫn đồng ý cho sử dụng bình thường. Tuy nhiên lối này chỉ sử dụng nội bộ, không cho người ngoài sử dụng để đúng với ý định của ông bà, do đó nếu các anh chị em chuyển nhượng đất, cho người khác sinh sống trên đất của các anh chị em thì ông M không đồng ý cho sử dụng lối đi tạm này.
Ngoài ra, nếu trường hợp xét thấy bắt buộc phải mở lối đi vào đất của ông H thì ý kiến của ông M như sau: ngoài phần đất có tranh chấp này ra thì ông H còn một lối đi có thể mở thuận tiện hơn để mở vào lối đi chung 5m mà ông T2 đã chừa, từ đó đi vào đất ông H, cụ thể có thể mở qua đất của ông Võ Văn L (thửa 356) đi thẳng từ đường ĐT743 vào nối thẳng với lối đi tự mở 5m của ông T2 đã mở sẵn cho các thửa đất (trong đó có đất ông H). Đối với thửa đất của ông M không đấu nối thẳng với lối đi tự mở này, đồng thời phần sân của ông M có bề rộng nhỏ, nếu bỏ một phần làm lối đi cho ông H và những người phía sau thì sẽ hẹp phần sân, không hợp lý. Tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của bị đơn xác định: Trường hợp Toà án mở lối đi qua đất của ông M thì ông M chỉ yêu cầu ông Trần Văn H, bà Trần Thị H1 bồi thường giá trị đất và tài sản gắn liền, tuy nhiên không nhận bằng tiền mà yêu cầu được nhận một phần đất khác tại vị trí nhà thờ nguyên đơn đang ở do đây là đất của cha mẹ để lại chưa chia. Ông M tự nguyện không yêu cầu ông Trần Văn S, bà Trần Thị T1 bồi thường giá trị phần của ông S, bà T1.
Những tài sản gắn liền trên đất của ông M do ông M xây dựng không liên quan đến ai khác.
Ngoài ra, ông H đưa ra bản phác thảo di chúc và cho rằng được thực hiện năm 1995, tuy nhiên không có căn cứ đồng thời bản phác thảo này chỉ có tên cha và mẹ (ông Trần Văn T2, bà Võ Thị T3) nhưng không có chữ ký, lăn tay, không có chứng thực, không có ai làm chứng nên không thể xác định đây là văn bản do cha mẹ lập ra. Ngoài ra năm 1995 ông T2, bà T3 chưa được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại trị trí đất mà ông H ghi trong đơn khởi kiện, năm 1996 thì thửa đất số 355, tờ bản đồ số 7 hiện ông M đang ở đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông M đứng tên nên cha mẹ không có quyền lập di chúc chừa lại lối đi chung nếu không có sự đồng ý của ông M. Xung quanh thửa đất số 355 ông M đã xây tường rào bao quanh và có cổng sắt từ rất lâu, cha mẹ và các em của ông từ trước đến nay muốn vào đất của mình để canh tác đều phải đi qua cổng sắt này. Do đó ông M không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H.
- Theo Biên bản lấy lời khai ngày 03/7/2024, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn S, bà Trần Thị T1 trình bày:
Ông bà và ông M, ông H, bà H1 là anh chị em ruột. Ông bà ngoại của ông bà là ông Võ Văn T4 và bà Nguyễn Thị T5 có khai phá nhiều thửa đất ở khu phố T, phường T hiện nay. Trong đó có 02 phần đất giáp ranh quyền sử dụng đất đang tranh chấp lối đi chung trong vụ án này bao gồm: Quyền sử dụng đất thuộc thửa 357, tờ bản đồ số 07 và quyền sử dụng đất thuộc thửa 354, 355, tờ bản đồ số 07. Sau khi ông bà ngoại chết thì để lại cho cha mẹ là ông Trần Văn T2 (chết năm 2020) và bà Võ Thị T3 (chết năm 2020) quản lý, sử dụng. Khoảng năm 1996 cha mẹ ông bà làm thủ tục tách thửa tặng cho các con như sau: Đối với thửa đất số 357 tách làm 02 sổ cho Trần Văn H, Trần Văn S. Thửa đất số 354, 355 cho con là Trần Văn M. Các anh em đã làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến khoảng năm 2003 ông T2 làm thủ tục để lấy lại thửa đất cấp cho Trần Văn S (không rõ có lấy lại thửa đất cấp cho Trần Văn H hay không), hình thức là con cho lại cho cha. Sau đó năm 2003 cha được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 357, tổng diện tích 1.566 m². Sau khi lấy lại đất, ông T2 làm thủ tục tặng cho lại các con Trần Văn H, Trần Văn S, Trần Thị T1, Trần Thị H1, mỗi người một phần của thửa đất số 357 (chia làm 4 phần cho 04 anh chị em) và 04 anh em sử dụng cho đến nay. Khi làm thủ tục tách thửa thì ông T2 có chừa đường đi trong phạm vi thửa đất này để 04 anh em đều có đường đi. Đối với thửa đất 354, 355, tờ bản đồ số 7 sau khi được cha tặng cho thì ông M quản lý, sử dụng cho đến nay. Hai phần đất trên giáp ranh nhau, trước đây cha mẹ chỉ sử dụng để trồng trọt, canh tác. Khoảng năm 1984 ông Trần Văn M về đây xây nhà ở cho đến nay, cuối năm 2020 Trần Thị T1 về cất nhà trên phần đất được cha cho.
Đối với lối đi hiện tại đang tranh chấp hình thành từ thời xa xưa ông bà ngoại sử dụng để đi vào đất canh tác, trồng trọt, là lối mòn, sau đó cha mẹ sử dụng và đến nay các anh chị em cùng sử dụng. Hiện bà T1 sử dụng lối đi này vào nhà, các anh chị em còn lại sử dụng để đi vào thăm mồ mả ông bà ở phía sau. Ông M xây nhà thì đã làm cổng, xây hàng rào chắn ngang lối đi này ra đường DT743, mục đích để đảm bảo an ninh, lúc này cha mẹ còn sống. Không có ai ngăn cản các anh chị em trong gia đình sử dụng lối đi này vào nhà, đất.
Nay ông H khởi kiện yêu cầu công nhận lối đi chung, yêu cầu tháo dỡ cổng sắt của ông M xây dựng từ trước đến nay thì ý kiến của ông bà như sau: Ông bà xác định đây là lối đi chung của các anh chị em, tuy nhiên việc yêu cầu tách riêng lối đi này ra và yêu cầu tháo dỡ cổng sắt thì không đồng ý, lý do lối đi này vẫn nằm trong sổ đất của ông M và cổng sắt nhằm đảm bảo an ninh của nhà ông M, bà T1. Lối đi này nhưng chỉ sử dụng trong gia đình, không cho người ngoài sử dụng. Ông M vẫn để cho các anh chị em đi bằng lối này vào đất, không ngăn cản nên ông bà xác định không tranh chấp gì, ông H yêu cầu mở lối đi thì Toà án xem xét theo quy định, ông bà không có nghĩa vụ thanh toán chi phí gì đối với phần lối đi sẽ mở vì ông bà không tranh chấp với ai. Ngoài ra ông bà không tranh chấp phần
hiện trạng đường đá từ đường ĐT 743 vào đến cổng ngoài cổng sắt nhà ông M do đó là đường đi chung của mọi người từ trước đến nay.
Ông bà không biết và không xác nhận tờ di chúc của ông H cung cấp làm là của cha mẹ để lại.
Tại bản tự khai ngày 06/5/2024, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H1 trình bày: Thống nhất nguồn gốc đất của các anh chị em đều do cha mẹ cho như trên. Nay do anh em trong gia đình có bất đồng nên xảy ra chuyện anh cả (ông M) không cho đi trên lối đi vào đất của cha mẹ cho. Trước năm 2020 khi cha mẹ còn sống thì vẫn đi bình thường, sau khi cha mẹ mất mới tranh cãi nên không thuận thảo.
Nay bà thống nhất yêu cầu của ông H về việc công nhận phần đất tranh chấp là lối đi chung của các anh chị em như trình bày trên. Trường hợp Toà án không chấp nhận yêu cầu của ông H về việc công nhận đây là lối đi chung thì bà cũng đề nghị Toà án mở lối đi từ cổng sắt nhà ông M đến giáp với phần lối đi chung 5m trên sổ của bà, ông S, bà T1, ông H. Bà đồng ý chịu các chi phí phát sinh. Đối với lối đi mở qua đất ông L như ông P trình bày bà thấy không hợp lý do trước đến nay mọi người đã có phần lối đi từ đường ĐT743 vào như hiện trạng.
Bà không tranh chấp phần hiện trạng đường đá từ đường ĐT 743 vào đến ngoài cổng sắt nhà ông M do đó là đường đi chung của mọi người từ trước đến nay.
- Theo lời khai trong quá trình tố tụng, bà Trần Thị Ánh T1 trình bày: Bà là vợ của Trần Văn M. Quyền sử dụng đất tranh chấp do cha mẹ ông M cho riêng cá nhân ông M, tài sản gắn liền với đất do ông M xây dựng, do đó ông M có toàn quyền quyết định, bà không có quyền lợi gì liên quan. Nay bà bận công việc nên không thể tham gia tố tụng tại Toà án, đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt, bà thống nhất với ý kiến của ông Trần Văn M, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định.
- Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ: Tại quyền sử dụng đất ông H xác định tranh chấp có các tài sản gắn liền: 01 phần đường bê tông diện tích 53,48m², 01 phần mái che tôn diện tích 21,39 m², 01 cổng sắt kéo phía trước diện tích 5,73 m², 01 cửa sắt phía sau diện tích 4,6 m², 02 trụ bê tông đỡ mái che tôn.
- Căn cứ hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lời khai của các đương sự xác định nguồn gốc, quá trình hình thành các thửa đất của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Trần Văn M, ông Trần Văn H, ông Trần Văn S, bà Trần Thị H1, bà Trần Thị T1 là các anh chị em ruột, có cha mẹ là ông Trần Văn T2 (chết năm 2020) và bà Võ Thị T3 (chết năm 2020). Quyền sử dụng đất cấp cho nguyên đơn ông Trần Văn H (số thửa theo GCN 357d, 358d), bị đơn ông Trần Văn M (số thửa theo GCN 354, 355), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn S (số thửa theo GCN 357c, 358c, 367b), bà Trần Thị H1 (số thửa theo GCN 357b, 358b, 367a), bà Trần Thị T1 (số thửa theo GCN 357a, 358a) đều có nguồn gốc do ông, bà ngoại của ông H, ông M, ông S, bà H1, bà T1 là ông Võ Văn T6 (chết năm 1940) và bà Nguyễn Thị T5 (chết năm 1979) để lại. Trong đó thửa đất số 355 trước đây là một
trong các thửa đất được chia cho ông Võ Văn K (cậu ruột), các thửa đất còn lại là một trong những thửa đất được chia cho bà Võ Thị T3 (mẹ ruột) và ông Trần Văn T2 (cha ruột).
+ Đối với thửa đất số 354, 355: Sau khi được cha mẹ chia đất thì ông Võ Văn K đổi thửa đất số 355 cho ông Trần Văn T2 sử dụng, ông T2 uỷ quyền cho con là Trần Văn M sử dụng thửa đất số 354, 355. Tháng 11/1995 ông Trần Văn M làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện nguồn gốc đất cha cho con. Ngày 26/8/1996 UBND huyện T (nay là thành phố D Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2436QSDDĐ/TĐH, ngày 26/8/1996, tổng diện tích 2.566m² cho hộ ông bà Trần Văn M.
+ Đối với các thửa đất đứng tên ông Trần Văn H, ông Trần Văn S, bà Trần Thị H1, bà Trần Thị T1:
- Thửa đất số 357 (diện tích 1.566 m²): Tháng 7/1996 ông Trần Văn S làm đơn kê khai đất, nguồn gốc đất do ông bà ngoại để lại cho ông T2 và bà T3, ông T2 và bà T3 uỷ quyền cho con là Trần Văn S. Hộ ông Trần Văn S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/8/1996 đối với thửa đất số 357, 414. Tháng 3/2003 hộ ông S tách cho ông Trần Văn T2 thửa 357, diện tích 1.566 m² và tháng 6/2003 ông Trần Văn T2 được UBND huyện (nay là thành phố) Dĩ An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thửa đất số 358 (diện tích 5.484 m²): Hộ ông bà Trần Văn T2 được UBND huyện T (nay là thành phố D) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2719 QSDĐ/TĐH ngày 26/8/1996. Tháng 8/2003 ông T2 cho 04 người con là Trần Thị T1 (thửa 358a, diện tích 283m²), Trần Thị H1 (thửa 358b, diện tích 177m²), Trần Văn S (thửa 358c, diện tích 475m²), Trần Văn H (thửa 358d, diện tích 816m²).
Thửa đất số 367: Hộ ông Trần Văn T2 được UBND huyện D (nay là thành phố D) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4013 QSDĐ/TĐH ngày 28/01/2002. Ngày 21/8/2003 đăng ký biến động cho con Trần Thị H1 diện tích 202 m², Trần Văn S diện tích 393 m².
- Tháng 7/2003, ông Trần Văn T2 đăng ký biến động đất đai, cho các con Trần Văn H, Trần Văn S, Trần Thị T1, Trần Thị H1 một phần các thửa đất số 357, 358, 367 nói trên và được UBND huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể:
+ Bà Trần Thị T1 được quyền sử dụng thửa đất số 357a, 358a, diện tích 459 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện D cấp ngày 01/10/2003.
+ Bà Trần Thị H1 được quyền sử dụng thửa đất số 357b, 358b, 367a diện tích 482 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện D cấp ngày 01/10/2003.
+ Ông Trần Văn S được quyền sử dụng thửa đất số 357c, 358c, 367b diện tích 1.103 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện D cấp ngày 01/10/2003.
+ Ông Trần Văn H được quyền sử dụng thửa đất số 357d, 358d diện tích 1.386 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện D cấp ngày 01/10/2003.
Cùng với đó, ông Trần Văn T2 lập Tờ cam kết ngày 20/8/2003 về việc chừa đường đi chung (5m) cho 04 người con là bà T1, bà H1, ông S, ông H trong phạm vi thửa đất số 357 nói trên.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tại phiên toà: Về nguồn gốc đất là của cụ Trần Văn T2 và cụ Võ Thị T3 cho các con. Trong đó có thửa đất 354 và 355, trước đây do các thửa đất này được được cụ T2 làm rẫy trồng cây hàng năm như khoai mì và đậu phộng và do đất bị bao bọc bởi nghĩa địa Triều C và các bất động sản khác nên cụ T2 đã mở đường đi nội bộ có chiều dài từ đường ĐT743 vào đất khu đất của gia đình, đi ngang qua trước nhà đất của bị đơn. Khoảng năm 1995, cụ T2 đã đổi đất cho ông Võ Văn K để thuận tiện cho việc canh tác sử dụng và khi ông M lập gia đình thì cụ T2 đã ủy quyền lại thửa đất 354 và 555 cho ông M để cất nhà ở và canh tác sử dụng. Trong quá trình sử dụng đất thì ông M làm hàng rào, cổng sắt và đổ đất đá san lấp đường đi chung tạo nên phần sân hiện nay của gia đình ông M.
Căn cứ vào các biên bản làm việc tại Tòa án thì lời trình bày của các đương sự cũng thể hiện việc trước đây cụ T2 có bỏ đất để làm đường đi chung các con sử dụng để đi ra đường lớn. Lời trình bày của các đương sự là chứng cứ để chứng minh phần đường đi chung đang tranh chấp là do cụ T2 mở ra trước đây trên đất của cụ để các con thuận tiện đi vào khu đất của ông. Việc tặng cho đất cho các con và chừa đường đi chung được thể hiện trong bản vẽ phác thảo di chúc vào và các con căn cứ vào bản di chúc phát thảo sử dụng đất và đường đi ổn định từ đó đến khi tranh chấp.
Mặt khác, tại thời điểm năm 2003 thì cụ T2 tiến hành tặng cho đất cho các con, 04 thửa đất nằm phía bên trong, bị bao bọc bởi nghĩa địa và các bất động sản khác nên cơ quan có thẩm quyền xét thấy những người sử dụng đất đã có lối đi ra đường đi chính nên mới yêu cầu chừa đường đi có chiều rộng 5m để lập thủ tục tách thửa cho 04 người con. Vì vậy, nếu các thửa đất không có lối đi ra đường chính thì việc tách thửa các thửa đất trên là không thể thực hiện.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có ý kiến trường hợp Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì đề nghị chấp nhận yêu cầu mở lối đi có diện tích 74,7m², tọa lạc tại khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương để anh em ông H có lối đi sử dụng theo quy định tại điều 254 BLDS năm 2015.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành và tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung vụ án: xét thấy không có căn cứ xác định phần đất tranh chấp là lối đi chung, có căn cứ buộc
bị đơn mở lối đi cho nguyên đơn, những người liên quan do các thửa đất này bị vây bọc, không có lối đi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Ánh T1 có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà T1.
[2] Về nội dung:
[2.1] Quá trình tố tụng và tại phiên toà, người đại diện hợp pháp của bị đơn thừa nhận quyền sử dụng đất diện tích 76 m², hiện trạng đường đá (vị trí thực tế từ đường ĐT 743A vào tới trước cổng sắt nhà ông Trần Văn M) thuộc thửa đất số 355, tờ bản đồ số 7, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2436, ngày 26/8/1996 do UBND huyện T (nay là thành phố D) cấp cho ông Trần Văn M hiện đang được nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và một số hộ dân kế bên sử dụng làm lối đi vào đất, là lối đi chung của mọi người, bị đơn cam kết không ngăn cản. Do đó, nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác định không tranh chấp về lối đi tại vị trí đất này. Đây là quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự theo Điều 5 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên ghi nhận. Như vậy xác định phần đất nguyên đơn tranh chấp yêu cầu Toà án giải quyết trong vụ án là quyền sử dụng đất thuộc phần A1 (Sơ đồ bản vẽ kèm theo), thuộc một phần thửa 354, 355, tờ bản đồ số 7, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, diện tích 74,7 m², loại đất: CLN.
[2.2] Căn cứ hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lời trình bày của các đương sự đều thống nhất: Các quyền sử dụng đất của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có nguồn gốc do ông bà ngoại của nguyên đơn là ông Võ Văn T6 và bà Nguyễn Thị T5 để lại cho các con (trong đó có ông Trần Văn T2, bà Võ Thị T3) sử dụng. Sau đó ông T2, bà T3 lập các thủ tục cho các con, hiện ông M, ông H, ông S, bà H1, bà T1 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[2.3] Nguyên đơn xác định quyền sử dụng đất tranh chấp là lối đi chung của các anh chị em do cha mẹ chừa ra cho các anh chị em cùng đi trong quá trình tách thửa, tặng cho các con. Chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là Tờ di chúc, trong đó có sơ đồ thể hiện vị trí các thửa đất ông M, ông H, ông S, bà H1, bà T1 đứng tên. Đồng thời có thể hiện “Đường xe” từ đường lộ vào tới cuối khu đất (hết đất ông H). Xét Tờ di chúc do nguyên đơn nộp không rõ ngày tháng, không có người ký tên và ghi họ tên, không ghi nội dung, không thể hiện mục đích lập Tờ di chúc. Bản thân nguyên đơn ông Trần Văn H chỉ suy đoán chứ không xác định được các thông tin này, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thừa nhận đây là văn bản do cha mẹ để lại. Do đó không có căn cứ xác định đây là Tờ di chúc do ông T2, bà Tân lập, thể hiện ý chí của ông T2, bà T3 về việc chừa lối đi chung cho các con từ đường lộ (đường ĐT74A) vào.
[2.4] Hiện trạng khu đất có gia đình ông Trần Văn M sinh sống tại thửa đất số 354, 355 (từ khoảng năm 1985), ngoài ra bà T1 dựng nhà và sinh sống từ sau
khi cha mẹ chết (năm 2020), đối với các thửa đất còn lại chỉ sử dụng để trồng trọt, canh tác, ông H, ông S, bà H1 sinh sống ở nơi khác, không ở trên đất. Các đương sự thừa nhận tại vị trí đầu phần đất tranh chấp có cổng sắt ông M xây dựng từ lâu, trong phần đất ông M được cấp giấy chứng nhận, mục đích để đảm bảo an ninh trong quá trình sinh sống ở đây. Từ khi cha mẹ còn sống thì các thành viên trong gia đình muốn vào đất của mình để canh tác và vào phần đất thổ mộ gia đình đều mở cổng sắt nhà ông M để thông qua phần đất tranh chấp đi ra phía sau. Thời điểm ông M dựng cổng thì cha mẹ là ông T2, bà T3 và các anh chị em đều không ngăn cản. Đồng thời theo hồ sơ lưu trữ thể hiện ngày 26/8/1996 UBND huyện T (nay là thành phố D) đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2436 QSDĐ/TĐH cho hộ ông bà Trần Văn M, trong đó bao gồm toàn bộ phần đất này. Ông T2 làm thủ tục tách thửa thành 04 thửa đất cho ông H, ông S, bà T1, bà H1 và tự chừa đường đi chung 5m trong các thửa đất này vào năm 2003, sau thời điểm ông M được cấp giấy chứng nhận. Đồng thời các đương sự thống nhất khai việc ông T2 chừa đường đi chung 5m trong thửa 357 cho 4 anh, chị em là để đảm bảo về mặt thủ tục tách thửa đất theo yêu cầu của cơ quan nhà nước, thực tế lối đi này không đấu nối trực tiếp với đường đi nào phía ngoài thửa 357. Như vậy, việc nguyên đơn cho rằng thửa đất của nguyên đơn và ông S, bà T1, bà H1 có lối đi chung với thửa đất của bị đơn là không phù hợp. Không có căn cứ xác định ông Trần Văn T2 chừa đường đi từ cổng sắt nhà ông M vào tới lối đi chung của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như nguyên đơn trình bày. Việc nguyên đơn và ông S, bà H1, bà T1 từ trước đến nay sử dụng lối đi này để đi ra phía sau là đi nhờ qua đất của ông M, không phải là lối đi chung của các anh, chị em trong gia đình.
[2.5] Căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và lời khai của các đương sự xác định hiện trạng khu đất của gia đình nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có tường xây do ông T2, ông M xây, là một khu khép kín. Từ đường ĐT743A (hướng Nam) vào qua phần đường đá, qua cổng nhà ông M tiếp giáp phần tranh chấp và nhà đất của ông M phía trước và bên trái (hướng Bắc và hướng Tây), bên phải phần đất tranh chấp (hướng Đông) giáp các thửa đất của ông H, ông S, bà H1, bà T1. Nhìn tổng thể tại hướng Bắc của khu đất gia đình (vị trí cuối đường đi chung 5m, đất ông M, đất ông H) tiếp giáp Nghĩa địa Triều Châu, hướng Đông từ đường ĐT 743A vào lần lượt tiếp giáp đất ông Võ Văn L, đất Công ty T7, khu thổ mộ gia đình. Như vậy đất của nguyên đơn, ông S, bà H1, bà T1 không có lối đi nào nối từ đường đi chung 5m để ra đường công cộng, đây là các thửa đất bị vây bọc bởi các bất động sản xung quanh. Qúa trình tố tụng, ông H, bà H1 có ý kiến về việc trường hợp Tòa án không chấp nhận phần đất tranh chấp là lối đi chung thì yêu cầu mở lối đi qua cho thửa đất của ông H, bà H1. Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“Điều 254. Quyền về lối đi qua
1. Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền
yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.
Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.
Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
Qúa trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày bị đơn không ngăn cản các anh, chị em của bị đơn sử dụng lối đi tạm hiện nay để vào khu đất, tuy nhiên bất cứ ai chuyển nhượng đất trong khu vực cho người khác, cho người khác ở trên đất thì sẽ không cho phép người ngoài đi trên lối đi tạm này. Đồng thời thực tế hiện nay do ông H, bà H1 và ông M, ông S, bà T1 đã có phát sinh mâu thuẫn, việc đi lại vào khu đất của mỗi người, vào khu thổ mộ gia đình phía sau không thuận lợi. Do đó, căn cứ quy định trên, việc ông H, bà H1 yêu cầu xem xét mở lối đi là phù hợp để đảm bảo các chủ sử dụng đất được thực hiện đầy đủ các quyền của người sử dụng đất.
[2.6] Xem xét về vị trí lối đi được mở và các chủ sử dụng đất được hưởng quyền sau khi mở: Xét thấy lối đi nguyên đơn đề nghị mở (Phần Al trong sơ đồ bản vẽ kèm theo) là phù hợp, bởi lẽ: lối đi này có vị trí một đầu (bên phải) tiếp giáp đầu đường đi chung 5m thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H, ông S, bà T1, bà H1, phần bên kia nối liền với phần đường đá có sẵn (Phần A, các đương sự thừa nhận là lối đi chung của mọi người, không tranh chấp) để đi ra đường ĐT743A. Các thửa đất của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có nguồn gốc cha mẹ để lại, đây cũng là lối đi tạm được cha mẹ, anh chị em sử dụng từ xa xưa để vào canh tác đất của mình. Các tài sản gắn liền trên phần đất tranh chấp của ông M gồm cổng sắt, mái tôn...không phải là những công trình kiên cố, có thể tháo dỡ, di dời, không ảnh hưởng đến các công trình kiên cố còn lại của gia đình ông M. Ý kiến của người đại diện hợp pháp của bị đơn về việc trường hợp xem xét mở lối đi cho nguyên đơn thì đề nghị Tòa án có thể mở qua đất của ông Võ Văn L ở hướng N, tiếp giáp đường ĐT743A và nối thẳng với lối đi tự mở này. Tuy nhiên xét thấy qua thẩm định hiện trạng đất tranh chấp và khu đất xung quanh thể hiện đất ông Nguyễn Văn L1 từ đường ĐT743A vào có vị trí kế bên phần đường đá, phân định ranh bằng tường cao kiên cố, đồng thời từ đường ĐT743A vào tới vị trí giao với đường đi chung 5m và nhà đất bà T1 thì ông L1 đã xây dựng nhà cho thuê, chỉ có một phần đất trống. Trường hợp mở lối đi qua đất ông L1 sẽ ảnh hưởng đến một phần diện tích đất lớn của ông L1, ảnh hưởng đến các tài sản gắn liền trên đất ông L1 đã xây dựng và gây thiệt hại số tiền đền bù nhiều hơn đối với các chủ sử dụng đất được mở lối đi, từ trước đến nay các đương sự cũng không sử dụng lối đi này. Mặc dù không có căn cứ xác định phần đất tranh chấp là lối đi chung, tuy nhiên đây là lối đi phù hợp nhất xét về lịch sử sử dụng đất, hiện trạng thực tế, cần phải mở làm lối đi cho các thửa đất có liên quan. Do đó Tòa án quyết định mở lối đi
qua đất bị đơn có diện tích 74,7 m², loại đất: CLN, thuộc một phần thửa 354, 355, tờ bản đồ số 7 (Phần A1 trên sơ đồ bản vẽ kèm theo).
Về các chủ sử dụng đất được hưởng quyền sau khi mở lối đi: Lối đi được mở nối phần đường đi chung 5m thể hiện trong giấy chứng nhận của ông H, ông S, bà H1, bà T1 ra tới đường đá có sẵn. Đồng thời lối đi này tiếp giáp với các thửa đất số 354, 355 của bị đơn ông M. Mặc dù ông S, bà T1 cho rằng không có điều kiện, không có yêu cầu mở lối đi, tuy nhiên xét thấy đây là lối đi duy nhất từ các thửa đất của ông bà để ra đường công cộng, ông bà cũng là người sẽ được hưởng quyền lối đi sau khi mở. Đối với ông M từ trước đến nay cũng sử dụng lối đi này để ra đường công cộng, mặc dù phía trước thửa đất của ông M có lối đi tuy nhiên đây là lối đi của hộ dân kế bên tự chừa để vào đất, bị đơn thừa nhận từ trước đến nay không đi đường này. Do đó xác định khi Tòa án mở lối đi thì các chủ sử dụng đất sau được hưởng quyền: ông H, ông S, bà H1, bà T1, ông M.
[2.7] Về nghĩa vụ bồi thường:
[2.7.1] Quyền sử dụng đất thuộc thửa 354, 355 được UBND huyện T (nay là thành phố D) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2436QSDĐ/TĐH, ngày 26/8/1996 cho hộ ông bà Trần Văn M. Tuy nhiên như nhận định trên, nguồn gốc quyền sử dụng đất do ông bà để lại cho ông T2, bà T3, sau đó ông T2, bà T3 để lại cho ông M đứng ra kê khai cấp giấy chứng nhận, nguồn gốc “cha cho con”. Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các con ông M là Trần Minh P, Trần Thị Tuyết S1 dưới 18 tuổi, tại phiên toà ông P thừa nhận ông và bà S1 không có đóng góp gì đối với đất này. Vợ ông M là bà Trần Thị Ánh T1 thừa nhận đây là tài sản của ông M được cha mẹ cho riêng. Các thửa đất của ông H, ông S, bà H1, bà T1 được UBND huyện (nay là thành phố) Dĩ An cấp cho cá nhân ông H, ông S, bà H1, bà T1, các đương sự thống nhất đây là tài sản riêng của cha mẹ cho con. Do đó xác định các quyền sử dụng đất có liên quan của ông M, ông H, ông S, bà H1, bà T1 thuộc quyền sử dụng riêng của các cá nhân, ông M, ông H, ông S, bà H1, bà T1 có các quyền và nghĩa vụ của chủ sử dụng đất khi mở lối đi theo quy định.
[2.7.2] Đối với các tài sản gắn liền trên đất do ông M xây dựng, cải tạo, không có công sức đóng góp của ai khác. Do đó xác định tài sản này thuộc quyền sở hữu của ông Trần Văn M.
[2.7.3] Về giá trị các tài sản tranh chấp: Quyền sử dụng đất được sử dụng mở lối đi là phần A1 (Sơ đồ bản vẽ kèm theo), thuộc một phần thửa 354, 355, tờ bản đồ số 7, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, diện tích 74,7m², loại đất: CLN, theo kết quả định giá xác định có giá thị trường là: 25.000.000 đồng/m², thành tiền: 1.867.500.000 đồng. Các tài sản trên đất: Đường bê tông, diện tích 53,48 m², trị giá: 4.604.628 đồng; cổng sắt phía trước chi phí di dời: 859.500 đồng; cửa sắt phía sau chi phí di dời: 690.000 đồng; mái che tôn, trụ đỡ, trị giá: 5.392.800 đồng. Tổng giá trị các tài sản gắn liền trên đất: 11.546.928 đồng. Tổng giá trị đất và tài sản gắn liền: 1.879.046.928 đồng.
[2.7.4] Như vậy, khi mở lối đi, những người được hưởng quyền là ông H, ông M, ông S, bà H1, bà T1 phải chịu một phần chi phí, cụ thể như sau: 1.879.046.928 đồng/5 = 375.809.385 đồng. Đối với ý kiến của đại diện bị đơn về việc không nhận giá trị, yêu cầu được nhận một phần đất khác mà nguyên đơn đang sử dụng do đây là đất cha mẹ để lại chưa chia là không phù hợp do phần đất bị đơn đề cập không liên quan đến tranh chấp trong vụ án, trường hợp có tranh chấp về thừa kế có thể khởi kiện trong vụ án khác. Hội đồng xét xử buộc những người được hưởng quyền lối đi phải đền bù bằng giá trị như trên theo quy định của pháp luật. Do ông Trần Văn M tự nguyện không yêu cầu ông S, bà T1 bồi thường chi phí cho việc mở lối đi nên cần buộc ông Trần Văn H, bà Trần Thị H1 mỗi người có trách nhiệm thanh toán cho ông Trần Văn M số tiền 375.809.385 đồng. Ông H, ông S, bà H1, bà T1, ông M có quyền sử dụng đối với phần đường bê tông tại vị trí mở lối đi. Đối với cổng sắt, mái che tôn, trụ đỡ mái che xét thấy cần thiết buộc di dời để đảm bảo việc sử dụng lối đi, do đó buộc ông Trần Văn M có trách nhiệm di dời các tài sản gắn liền trên đất này.
[2.8] Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc công nhận lối đi chung, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc mở lối đi qua bất động sản liền kề. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là phù hợp.
[2.9] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tại phiên toà là có căn cứ chấp nhận một phần như nhận định ở trên.
[3] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Tổng cộng 6.500.000 đồng, ông Trần Văn H tự nguyện chịu, được khấu trừ toàn bộ vào tiền tạm ứng chi phí ông H đã nộp tại Toà án.
[4] Về án phí: Ông Trần Văn M là người cao tuổi, được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Ông Trần Văn H phải chịu án phí đối với yêu cầu không được Tòa án chấp nhận; Ông Trần Văn H và bà Trần Thị H1 phải chịu án phí trên số tiền phải thanh toán cho ông Trần Văn M.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 147, các Điều 5, 157, 165, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 245, 248, 254, 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn H đối với bị đơn ông Trần Văn M về việc tranh chấp lối đi chung.
Ông Trần Văn H, bà Trần Thị H1 mỗi người có trách nhiệm thanh toán cho ông Trần Văn M số tiền 375.809.385 đồng.
Buộc ông Trần Văn M tháo dỡ, di dời toàn bộ các tài sản gắn liền với đất gồm: 01 phần mái che tôn diện tích 21,39 m², 01 cổng sắt kéo phía trước diện tích 5,73 m², 01 cửa sắt phía sau diện tích 4,6 m², 02 trụ bê tông đỡ mái che tôn.
Án phí dân sự sơ thẩm:
4.1. Ông Trần Văn M được miễn án phí.
4.2. Ông Trần Văn H phải chịu 19.090.469 án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0004511 ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Ông Trần Văn H còn phải nộp 18.790.469 đồng.
4.3. Bà Trần Thị H1 phải chịu 18.790.469 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 6.500.000 đồng, ông Trần Văn H tự nguyện chịu, được khấu trừ toàn bộ vào tiền tạm ứng chi phí ông H đã nộp tại Toà án.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Buộc ông Trần Văn M phải mở đường đi chung có diện tích 74,7m² (ký hiệu A1 trên bản vẽ kèm theo), thuộc một phần thửa 354, 355, tờ bản đồ số 7, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương cho các thửa đất số 357a, 358a (theo VN-2000: thửa đất số 2105) của bà Trần Thị T1; thửa đất số 357b, 358b, 367a (theo VN-2000: thửa đất số 2104) của bà Trần Thị H1, thửa đất số 357c, 358c, 367b (theo VN-2000: thửa đất số 2103) của ông Trần Văn S, thửa đất số 357d, 358d (theo VN-2000: thửa đất số 2102) của ông Trần Văn H, thửa đất số 354, 355 (theo VN-2000: thửa đất số 355, 356) của ông Trần Văn M.
Kiến nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố D, tỉnh Bình Dương điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 2436QSDĐ/TĐH, do UBND huyện T (nay là thành phố D) cấp ngày 26/8/1996 cho ông Trần Văn M sau khi trừ phần diện tích 74,7m² (đất CLN) làm đường đi theo nội dung quyết định trên của bản án.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành số tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương |
Bản án số 322/2024/DS- ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp lối đi chung
- Số bản án: 322/2024/DS- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp lối đi chung
