Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 322/2024/DS-PT

Ngày 21-8-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Hoàng

Các Thẩm phán: Ông Dương Hùng Quang

Ông Ninh Quang Thế

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 188/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024 về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 123/2024/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Ê, sinh năm 1953. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Tố N, sinh năm: 1995 - Luật sư Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).

- Bị đơn:

  1. Bà Ngô Thị L, sinh năm 1967. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).
  2. Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1957. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn T1. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  2. Chị Nguyễn Thị N1. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Người kháng cáo: Bà Trương Thị Ê là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Trương Thị Ê trình bày: Phần đất diện tích 30.308m² có nguồn gốc của cụ Trần Thị T2 (mẹ bà) cho và nhận chuyển nhượng của cụ Đoàn Thị C, đến năm 2015 bà được cấp quyền sử dụng.

Tại đơn khởi kiện ngày 03/7/2023, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Ngô Thị L trả lại phần đất giáp lộ Đ đã lấn chiếm có diện tích khoảng 60m² (ngang 03m, dài 20m), và phần đất giáp với sông kinh S đã lấn chiếm có diện tích khoảng 20m² (ngang 01m, dài 20m) cùng tọa lạc ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Buộc Ông Nguyễn Trung T3 trả lại phần đất giáp lộ Đ đã lấn chiếm có diện tích khoảng 60m² (ngang 1,5m, dài 40m), và phần đất giáp với sông kinh S đã lấn chiếm có diện tích khoảng 15m² (ngang 01m, dài 15m) cùng tọa lạc ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

Ngày 28/9/2023, bà Ê có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện đối với ông T3 do giữa bà và ông T3 đã thống nhất ranh đất.

Nay bà yêu cầu bà L trả lại phần đất tranh chấp diện tích 273,3m² tọa lạc ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau có tứ cận: Hướng Đông giáp đất bà Ngô Thị L, hướng Tây giáp đất bà Trương Thị Ê, hướng Nam giáp lộ bê tông, hướng Bắc giáp lộ Đ.

Bị đơn bà Ngô Thị L trình bày: Phần đất bà đang sử dụng có nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ cụ Trần Thị T2 và cụ Đoàn Thị C chuyển nhượng cho ông Bảy B, ông Bảy B chuyển nhượng cho ông Tư T4, ông Tư T4 chuyển nhượng lại cho bà, đến năm 2015 bà được cấp quyền sử dụng (cấp cùng thời điểm với bà Ê). Trước đây, bà cùng bà Ê nhờ ông Út H cặm trụ đá làm ranh. Lúc bà xây dựng nhà, bà Ê không có ngăn cản, địa phương không có mời làm việc. Bà không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu khởi kiện của bà Ê vì bà không có lấn đất bà Ê.

Từ nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số: 123/2024/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Dầm Dơi đã quyết định:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Ê về việc yêu cầu bà Ngô Thị L trả lại phần đất tranh chấp diện tích 273,3m² tọa lạc ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau có tứ cận: Hướng Đông giáp đất bà Ngô Thị L, hướng Tây giáp đất bà Trương Thị Ê, hướng Nam giáp lộ bê tông, hướng Bắc giáp lộ Đ.
  2. Đình chỉ xét xử yêu cầu của bà Trương Thị Ê về việc yêu cầu ông Nguyễn Thanh T trả lại phần đất tranh chấp diện tích khoảng 75m² tọa lạc ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên lãi suất do chậm thi hành, chi phí tố tụng án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024 nguyên đơn là bà Trương Thị Ê có đơn kháng cáo yêu cầu sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 123/2024/DS-ST ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Ngô Thị L trả lại phần đất có diện tích 273,3 m² tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Nguyên đơn bà Trương Thị Ê vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích của nguyên đơn bà Nguyễn Tố N đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để xem xét thẩm định tại chổ và đo đạc lại phần đất tranh chấp.

Bị đơn bà Ngô Thị L không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và đề nghị giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 123/2024/DS-ST ngày 17/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trương Thị Ê, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 123/2024/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Dầm Dơi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Trương Thị Ê, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Tại đơn kháng cáo cũng như tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn bà Trương Thị Ê yêu cầu sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 123/2024/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Dầm Dơi theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Ê là: Buộc bà Ngô Thị L trả lại phần đất có diện tích 273,3 m² tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy nội dung kháng cáo của nguyên đơn bà Trương Thị Ê là không có cơ sở chấp nhận bởi lẽ:

[2.1] Phần đất bà Ê có diện tích 28.706,2m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo kết quả đo đạc có diện tích 28.777,1m² không bao gồm phần đất tranh chấp là đã nhiều hơn so với diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất bà L có diện tích 12.943,4m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo kết quả đo đạc có diện tích 12.010,6m² không bao gồm phần đất tranh chấp, nếu cộng thêm phần đất tranh chấp 273,3m² thì có tổng diện tích 12.283,9m², ít hơn so với diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo sơ đồ bồi thường tuyến lộ Đông Tây thể hiện phần đất bà Ê có chiều ngang 18,5m nhưng theo kết quả đo đạc có chiều ngang 20,46m không bao gồm phần đất tranh chấp, như vậy phần đất theo đo đạc dư 1,96m so với sơ đồ bồi thường. Theo sơ đồ bồi thường tuyến lộ Đông Tây thể hiện phần đất bà L có chiều ngang 10,9m nhưng theo kết quả đo đạc có chiều ngang 9,14m cộng thêm phần đất tranh chấp ngang 1,76m là 10,9m, như vậy phần đất theo đo đạc bằng với sơ đồ bồi thường.

Trên phần đất tranh chấp, bà L đã xây dựng một căn nhà kiên cố nhưng bà Ê không có ý kiến phản đối. Bà Ê cho rằng khi bà L xây dựng nhà có phát sinh tranh chấp nhưng thực tế bà Ê không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Trong khi đó, bà L xác định khi bà xây dựng nhà thì bà Ê không có ý kiến phản đối hay tranh chấp gì.

[2.2] Tại Biên bản không tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 03/8/2023 và biên bản hòa giải ngày 15/8/2023 thể hiện: Bà Ê không xác định được chính xác phần đất của bà do đó không xác định được phần đất tranh chấp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Ê cũng không đưa ra được thêm tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh phần phần đất tranh chấp nằm trong quyền sử dụng đất của bà.

[2.3] Đối với yêu cầu đo đạc thẩm định lại của bà Ê thấy rằng:

Phần đất tranh chấp đã được thẩm định và đo đạc theo yêu cầu của bà Ê vào ngày 28/9/2023. Sau khi có kết quả đo đạc bà Ê cũng không có ý kiến gì về kết quả đo đạc trên. Tại đơn kháng cáo bà Ê cũng không có kháng cáo yêu cầu đo đạc lại. Mặc khác, bà Ê cũng không chứng minh được kết quả đo đạc là không khách quan hay không chính xác nên Hội đồng xét xử không chấp nhận việc tạm ngừng phiên tòa để đo đạc, thẩm định lại theo yêu cầu bà Ê và ý kiến tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Ê.

[3] Từ những phân tích trên, xét thấy bản án sơ thẩm tuyên xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Ê về việc yêu cầu bà Ngô Thị L trả lại phần đất tranh chấp là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Trương Thị Ê. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 123/2024/DS-ST ngày 17/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bà Trương Thị Ê không phải chịu do là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí và đã được xét miễn nộp theo quy định.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 312 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Trương Thị Ê.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 123/2024/DS-ST ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Ê về việc yêu cầu bà Ngô Thị L trả lại phần đất tranh chấp diện tích 273,3m² tọa lạc ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau có tứ cận: Hướng Đông giáp đất bà Ngô Thị L, hướng Tây giáp đất bà Trương Thị Ê, hướng Nam giáp lộ bê tông, hướng Bắc giáp lộ Đ.
  2. Đình chỉ xét xử yêu cầu của bà Trương Thị Ê về việc yêu cầu ông Nguyễn Thanh T trả lại phần đất tranh chấp diện tích khoảng 75m² tọa lạc ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
  3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bà Trương Thị Ê phải chịu 22.631.000 đồng (Hai mươi hai triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn đồng), bà Ê đã nộp và đối chiếu xong.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm: Bà Trương Thị Ê không phải chịu do là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí và đã được xét miễn nộp theo quy định.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi;
  • - Chi cục THADS huyện Đầm Dơi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Châu Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 322/2024/DS-PT ngày 21/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 322/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger