Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 322/2024/DS-PT

Ngày: 17-4-2024

V/v tranh chấp lối đi chung, đòi tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tú Oanh

Các Thẩm phán: 1. Bà Nguyễn Thị Thu

2. Bà Nguyễn Thị Kim Cương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố H xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2024/TLPT-DS ngày 10/01/2024 về việc “Tranh chấp lối đi chung; đòi tài sản”

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 198/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận F, Thành phố H bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 931/2024/QĐ-PT ngày 26/2/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 2950/2024/QĐ- PT ngày 19/3/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lương Thị Kim H, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số A, đường L, Phường A, Quận F, Thành phố H (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Võ Thị L, sinh năm 1958 là Luật sư Văn phòng L1 – Đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ: Số D, đường L, Phường E, Quận A, Thành phố H (có mặt).

Bị đơn: Bà Phan Thị Ánh N, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số A, đường L, Phường A, Quận F, Thành phố H (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Lê Thị Minh N1, sinh năm 1975 là Luật sư Công ty L2 – Đoàn Luật sư Thành phố H. Địa chỉ: Số A, đường N, Phường B, quận B, Thành phố H (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Phan Thị Thu K, sinh năm 1963. Địa chỉ: Số A, đường L, Phường A, Quận F, Thành phố H (có mặt).

2. Bà Hồ Thị Diễm H1, sinh năm 1961. Địa chỉ: Số A, đường L, Phường A, Quận F, Thành phố H (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bà H1: Bà Lương Thị Kim H, sinh năm 1981. Địa chỉ: A, đường L, Phường A, Quận F, Thành phố H (theo giấy ủy quyền số công chứng 00276, quyền số 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/01/2023 của Phòng C lập) (có mặt).

Người kháng cáo: Bà Lương Thị Kim H, bà Hồ Thị Diễm H1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện ngày 15/11/2022, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Lương Thị Kim H trình bày:

Nguyên trước đây, ông bà ngoại của bà H là ông Hồ Văn S và bà Phan Thị H2 có để lại cho các con cháu lô đất tại địa chỉ số A đường L, Phường A, Quận F và năm 2003 được tách thửa theo các Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở gồm: nhà số A chủ sở hữu là bà Phan Thị Thu K, 127/1D chủ sở hữu là bà Phan Thị Ánh N, 1 do bà Hồ Thị Diễm H1 là chủ sở hữu và nhà A L, Phường A, Quận F, thuộc thửa đất số 402; Tờ bản đồ số: 43 (BĐĐC) P10Q6; diện tích 53,1m² căn cứ theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 1040/2003 do Ủy ban nhân dân Quận F cấp ngày 16/7/2003, cập nhật sang tên bà Lương Thị Kim H ngày 28/10/2013 (được tặng cho từ bà H1).

Lối đi chung của 04 hộ dân có chiều ngang 2,1m, tuy nhiên phần lối đi chung thể hiện là đường đi ra Lý Chiêu H3, từ trước tới nay tất cả 04 hộ dân chỉ có 01 cổng duy nhất đi ra đường L (cổng sắt này do 04 nhà cùng góp tiền để làm).

Năm 2009, sau khi xây dựng xong nhà A L, Phường A, Quận F, bà H có tự cải tạo bức tường cũ thành cửa sắt kéo, đi ra Đường số E, Phường A, Quận F, bà H luôn khoá phần cửa sắt này lại để đảm bảo an ninh, an toàn cho 04 hộ.

Nhưng thời gian gần đây bà N, bà K yêu cầu bà H phải mở lối đi chung và yêu cầu được đi ra Đường số 53 cho tiện, bà H không đồng ý vì từ trước tới nay không tồn tại lối đi này, cả 04 hộ gia đình vẫn đi ra đường L.

Hơn nữa, việc mở lối đi chung ra Đường số E là sẽ làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn về người và tài sản của 04 hộ dân vì bất kỳ ai cũng có thể đi qua lối này, lúc đó trở thành lối đi công cộng (thay vì lối đi nội bộ).

Các bên đã nhiều lần thương lượng hòa giải tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận F vào các ngày 01/8/2022; 24/8/2022; 16/9/2022, nhưng hoà giải không thành.

Cách đây vài ngày bà N đã phá dỡ chiếc cổng sắt đi ra đường L (là tài sản chung của 04 hộ dân) gây thiệt hại về tài sản cho bà H.

Nay bà Lương Thị Kim H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

  • Công nhận cửa sắt đi ra Đường số E là tài sản riêng của nguyên đơn.
  • Buộc bà N chấm dứt hành vi đe dọa, xâm phạm tài sản của bà H trên lối đi chung (cửa sắt đi ra Đường số E)
  • Buộc bà N chấm dứt hành vi yêu cầu mở lối đi chung đi ra Đường số E (vì từ trước đến nay không tồn tại lối đi chung ra Đường số E).
  • Buộc bà N bồi thường thiệt hại cho bà H 2.000.000 đồng, do bà N vứt bỏ cổng sắt đi ra đường L là tài sản chung của 04 hộ trên lối đi chung.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà H xin rút một phần yêu cầu khởi kiện gồm:

  • Công nhận cửa sắt đi ra Đường số E là tài sản riêng của nguyên đơn.
  • Buộc bà N chấm dứt hành vi đe dọa xâm phạm tài sản của bà H trên lối đi chung (cửa sắt đi ra Đường số E)
  • Buộc bà N bồi thường thiệt hại cho bà H 2.000.000 (hai triệu) đồng do bà N vứt bỏ cổng sắt đi ra đường L là tài sản chung của 04 hộ trên lối đi chung.

Bị đơn là bà Phan Thị Ánh N trình bày:

Bà Phan Thị Ánh N không đồng ý với toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì:

  • Cửa sắt trên lối đi chung hướng ra Đường số E không phải là tài sản riêng của bà H mà do bà Hồ Thị Diễm H1 (mẹ của bà H) xây dựng từ khi bà H1 xây nhà 127/1F năm 2013 đến nay nhằm mục đích giữ an toàn cho 04 hộ dân thuộc khu nhà số A L, Phường A, Quận F. Hiện trạng trước năm 2013 là đường cùng, lúc đó Đường số E bên cạnh nhà bà H chưa được hình thành, phía bên đó là một khu nhà của các hộ dân khác. Vì vậy, để giữ an ninh cho khu nhà 127/1 L, tránh người lạ bên ngoài đi vào nên khi đó bà H1 (là chị thứ 2 của bà N) đã lắp đặt cánh cửa sắt mà bây giờ là cánh cửa chắn lối ra Đường số E. Bà Phan Thị Thu K (là chị thứ 3 của bà N) đã lắp đặt cánh cửa sắt phía bên cạnh nhà bà K, chính là cánh cửa sắt trên lối đi ra đường L mà bà N và bà K đã tháo dỡ.
  • Bà Nguyệt chưa từng thực hiện hành vi đe dọa xâm phạm tài sản của bà H. Từ ngày phát sinh tranh chấp, bà N chưa từng mở lời nói chuyện với bà H và bà H1.
  • Bà Nguyệt không đồng ý việc bà H yêu cầu bà N chấm dứt hành vi yêu cầu mở lối đi chung ra Đường số E, vì lối đi chung là của chung, không phải của riêng ai. Do đó không ai được ngăn cản hay dùng bất kỳ hình thức nào để ngăn cản quyền được sử dụng lối đi chung của người khác.

Bà N2 vẫn giữ nguyên các yêu cầu phản tố bao gồm:

  • Buộc bà Lương Thị Kim H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Diễm H1 phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trái phép trên lối đi chung hướng ra Đường số E.
  • Buộc bà Lương Thị Kim H, bà Hồ Thị Diễm H1 chấm dứt hành vi chửi bới, ngăn cản mọi người trong khu nhà 127/1 Lý Chiêu H3 sử dụng lối đi chung hướng ra Đường số E.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Phan Thị Thu K trình bày: Thống nhất với ý kiến bị đơn, đề nghị bà Lương Thị Kim H, bà Hồ Thị Diễm H1 phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trái phép trên lối đi chung hướng ra Đường số E và chấm dứt hành vi chửi bới, ngăn cản mọi người trong khu nhà 127/1 Lý Chiêu H3 sử dụng lối đi chung hướng ra Đường số E.

2/ Bà Hồ Thị Diễm H1 có bà H là đại diện trình bày: Thống nhất với toàn bộ ý kiến của nguyên đơn.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 198/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận F, Thành phố H quyết định:

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị Kim H về việc:

Buộc bà Phan Thị Ánh N chấm dứt hành vi yêu cầu mở lối đi chung đi ra Đ, Phường A, Quận F, Thành phố H.

2. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị Kim H về việc:

Công nhận cửa sắt đi ra Đường số E là tài sản riêng của bà Lương Thị Kim H; Buộc bà N chấm dứt hành vi đe dọa xâm phạm tài sản của bà Lương Thị Kim H trên lối đi chung (cửa sắt đi ra Đường số E); Buộc bà Phan Thị Ánh N bồi thường thiệt hại cho bà Lương Thị Kim H 2.000.000 đồng, do bà Phan Thị Ánh N vứt bỏ cổng sắt đi ra đường L là tài sản chung của 04 hộ trên lối đi chung.

3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Phan Thị Ánh N về việc:

Buộc nguyên đơn bà Lương Thị Kim H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Diễm H1 phải tháo dỡ phần cửa sắt có chiều ngang là 2,1m đang bịt kín lối đi chung từ hẻm cụt 1 L, Phường A, Quận F, Thành phố H hướng ra Đường số E, Phường A, Quận F, Thành phố H.

4. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu phản tố của bà Phan Thị Ánh N

Buộc bà Lương Thị Kim H, bà Hồ Thị Diễm H1 chấm dứt hành vi chửi bới, ngăn cản mọi người trong khu nhà 1 L, Phường A, Quận F, Thành phố H sử dụng lối đi chung hướng ra Đường số E, Phường A, Quận F, Thành phố H

Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nguyên đơn bà Lương Thị Kim H phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số: 0012737 ngày 22/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận F. Bà H đã nộp đủ án phí.

Bà Lương Thị Kim H được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012738 ngày 22/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận F

Bà Phan Thị Ánh N không phải chịu án phí, được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0012920 ngày 12/01/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận F

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành của đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 12/10/2023, nguyên đơn bà Lương Thị Kim H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Diễm H1 kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bác yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút yêu cầu phản tố; người kháng cáo không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
  • Nguyên đơn Bà Lương Thị Kim H và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bà H yêu cầu hủy án sơ thẩm vì cho rằng lối đi chung ra Đường số E từ trước tới nay không tồn tại và cả 04 hộ dân vẫn đi ra đường L, việc mở lối đi chung ra Đường số E sẽ làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn về người và tài sản của 04 hộ vì bất kỳ ai cũng có thể đi qua lối này, lúc đó trở thành lối đi công cộng (thay vì lối đi nội bộ).
  • Bị đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Diễm H1 có đại diện là bà Lương Thị Kim H thống nhất với bà H.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm Phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đều chấp hành và tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 198/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận F, Thành phố H

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà Lương Thị Kim H, bà Hồ Thị Diễm H1 làm đúng hình thức, trong hạn luật định, bà H đã đóng tạm ứng án phí phúc thẩm, bà H1 được miễn tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo được công nhận về mặt hình thức.

[2] Về nội dung kháng cáo:

Xét nội dung đơn kháng cáo của bà H, bà H1 với lý do kháng cáo đưa ra là lối đi chung ra Đường số E từ trước tới nay không tồn tại và cả 04 hộ dân vẫn đi ra đường L, việc mở lối đi chung ra Đường số E sẽ làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn về người và tài sản của 04 hộ vì bất kỳ ai cũng có thể đi qua lối này, lúc đó trở thành lối đi công cộng (thay vì lối đi nội bộ). Vì vậy, đề nghị hủy án sơ thẩm

Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở đã cấp cho 04 hộ dân ở địa chỉ A, 127/1D, 127/1E và A L, Phường A, Quận F cho thấy phần lối đi chung được sử dụng bởi các hộ nên trên đã được ghi nhận trên giấy chứng nhận, vị trí cửa sắt chận ngang trên lối đi chung ra Đường số E nằm hoàn toàn trên lối đi chung, vị trí này không nằm trên phần đất được cấp giấy chứng nhận cho bất cứ hộ nào nêu trên, nên phần đất có cửa sắt không thuộc quyền sử dụng riêng của bất cứ hộ nào. Việc bà H tự ý sử dụng cửa sắt để cản trở việc sử dụng lối đi chung ra đường là xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bà N, nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà N buộc bà H và bà H1 tháo dỡ cửa sắt bịt kín lối đi ra Đường E, bác yêu cầu khởi kiện của bà H là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H, bà H1 kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình; ngoài ra, các lý do kháng cáo của bà H, bà H1 nêu trên là không có căn cứ và việc xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm là có cơ sở, áp dụng đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử giữ nguyên án sơ thẩm.

[6] Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của bà H, bà H1 không được chấp nhận và bản án sơ thẩm được giữ nguyên nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên bà H1 là người cao tuổi nên được miễn tạm ứng án phí phúc thẩm và miễn án phí phúc thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết nêu trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các điều 26, 35, 39, 144, 147, 244, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 22, 23 và 170 Luật Đất đai năm 2013; Luật Thi hành án dân sự; Luật Phí và Lệ phí năm 2015; Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Căn cứ Quy định về lộ giới và quản lý đường hẻm trong các khu dân cư hiện hữu thuộc địa bàn thành phố ban hành kèm theo Quyết định số: 88/2007/QĐ-UBND ngày 04/7/2007 của Ủy ban nhân dân Thành phố H.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Lương Thị Kim H, bà bà Hồ Thị Diễm H1

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 198/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận F, Thành phố H.

2. Tuyên xử:

2.1. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị Kim H về việc: Buộc bà Phan Thị Ánh N chấm dứt hành vi yêu cầu mở lối đi chung đi ra Đ, Phường A, Quận F, Thành phố H.

2.2. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị Kim H về việc: Công nhận cửa sắt đi ra Đường số E là tài sản riêng của bà Lương Thị Kim H; Buộc bà N chấm dứt hành vi đe dọa xâm phạm tài sản của bà Lương Thị Kim H trên lối đi chung (cửa sắt đi ra Đường số E); Buộc bà Phan Thị Ánh N bồi thường thiệt hại cho bà Lương Thị Kim H 2.000.000 đồng, do bà Phan Thị Ánh N vứt bỏ cổng sắt đi ra đường L là tài sản chung của 04 hộ trên lối đi chung.

2.3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Phan Thị Ánh N về việc: Buộc nguyên đơn bà Lương Thị Kim H và người có quyền nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Diễm H1 phải tháo dỡ phần cửa sắt có chiều ngang là 2,1m đang bịt kín lối đi chung từ hẻm cụt 1 L, Phường A, Quận F, Thành phố H hướng ra Đường số E, Phường A, Quận F, Thành phố H

2.4. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu phản tố của bà Phan Thị Ánh N về việc: Buộc bà Lương Thị Kim H, bà Hồ Thị Diễm H1 chấm dứt hành vi chửi bới, ngăn cản mọi người trong khu nhà 1 L, Phường A, Quận F, Thành phố H sử dụng lối đi chung hướng ra Đường số E, Phường A, Quận F, Thành phố H

Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2.5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, nguyên đơn bà Lương Thị Kim H phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2021/0012737 ngày 22/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận F. Bà H đã nộp đủ án phí.

Bà Lương Thị Kim H được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2021/0012738 ngày 22/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận F

Bà Phan Thị Ánh N không phải chịu án phí, được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: AA/2021/0012920 ngày 12/01/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận F.

3. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Hồ Thị Diễm H1 được miễn án phí dân sự phúc thẩm. Bà Lương Thị Kim H chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số: AA/2023/0038430 ngày 13/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố H, bà H đã nộp đủ án phí.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại TP. H;
  • - VKSND Cấp cao tại TP. H;
  • - VKSND TP. H;
  • - TAND Quận F;
  • - Chi cục THADS Quận F;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Tú Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 322/2024/DS-PT ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H về tranh chấp lối đi chung, đòi tài sản

  • Số bản án: 322/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp lối đi chung, đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 198/2023/DS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân Quận F, Thành phố H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger