|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 322/2024/HS-ST
Ngày: 11/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Bùi Quang Chính;
- 2/ Bà Phan Thị Mai Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Duy và bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 271/2024/TLST/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 331/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 73/2024/QĐST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/Nguyễn Công Tâm, sinh năm: 1993; tại: tỉnh Trà Vinh; Hộ khẩu thường trú: ấp R, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Công M và bà: Đoàn Thị C; vợ: Võ Thị N; có vợ 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/4/2024(có mặt).
2/Nguyễn Thành H1, sinh năm: 1999; tại: tỉnh Bến Tre; Hộ khẩu thường trú: 119/3 ấp Q, xã H, huyện T, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: H đường T, khu H, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Đ và bà: Đoàn Thị Út C1; có vợ 02 con, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ tạm giam từ ngày 01/4/2024 (có mặt).
3/Võ Minh T, sinh năm: 1977; tại: tỉnh Đồng Nai; Hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: 164 Đường B, tổ G, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ văn hoá (học vấn): không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Văn M1 và bà Nguyễn Thị M2; có vợ 01 con sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ tạm giam từ ngày 01/4/2024(có mặt).
- Người bào chữa:
Luật sư Đinh Thái H2 – Đoàn Luật sư tỉnh T bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công T1 (có mặt).
Luật sư Phạm Trọng Ê – Đoàn luật sư tỉnh B bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Thành H3 và Võ Minh T2 (có mặt).
- Bị hại:
1/ Ông Trần Ngọc D, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Địa chỉ: 1 Đường D, khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2/ Ông Đỗ Văn T3, sinh năm 1995 (vắng mặt).
Địa chỉ: 1 L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Trần Ngọc H4, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: H, khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người làm chứng: anh Huỳnh Bữu L – sinh năm 2001; anh Nguyễn Anh H5 sinh năm 2004; bà Nguyễn Thị Đ1 – sinh năm 1971
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Nguyễn Công T1, Nguyễn Thành H3 và Võ Minh T2 làm cộng tác viên với tổ đặc nhiệm thuộc cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận T (nay là thành phố T). Trong quá trình hỗ trợ lực lượng công an làm nhiệm vụ, lợi dụng lúc không có lực lượng công an, Nguyễn Công T1, Nguyễn Thành H3 và Võ Minh T2 đã thực hiện hai vụ cưỡng đoạt tài sản như sau:
1/ Vụ thứ nhất :
Khoảng 04 giờ ngày 15/02/2019, Nguyễn Công T1 điều khiển xe mô tô biển số 52X2-2048 chở Võ Minh T2, Nguyễn Thành H3 điều khiển xe mô tô biển số 51X8-0123 lưu thông trên đường P, hướng từ cầu B về chợ T7. Khi đến vòng xoay L, phường L, quận T (nay là thành phố T) thì nhóm của T1 phát hiện anh Trần Ngọc D điều khiển xe mô tô hiệu Hon da Winner (không rõ biển số) chở bạn tên T4 (chưa rõ lai lịch) lưu thông phía trước. Nhóm của T1 đuổi theo anh D thì anh D nghĩ nhóm của T1 là Công an nên sợ và tăng ga bỏ chạy qua các đoạn đường trên các phường L, H, H quận T. Khi nhóm của T1 đuổi theo anh D đến cầu B thuộc Quận A thì xe của anh D va vào cây chắn giảm tốc nên người tên T4 bị ngã xuống đường, anh D dừng xe lại, T1 điều khiển xe chở T2 chạy đến giữ anh D lại (lúc này T4 đã đi đâu không rõ) và hỏi làm gì mà chạy dữ vậy. T1 tự xưng là Công an và yêu cầu anh D ngồi lên xe mô tô của T1 chở về trụ sở công an phường H. Trên đường đi, T1 nói “chở nó về giao Công an phường” để anh D sợ, tin tưởng T1 là Công an. Sau đó, T1 không chở anh D về trụ sở Công an mà T1 chở anh D đến quán cà phê tại địa chỉ A, Quốc lộ A, khu phố A, phường H, quận T, T2 chạy xe của anh D theo sau. Khi T1 chở anh D đến quán cà phê thì H3 bị lạc đường nên mất dấu của T1 và T2, H3 đứng đợi ở cầu vượt H. Khi T1, T2 và anh D đến quán cà phê số A, Quốc lộ A, khu phố A, phường H thì T1 hỏi anh D “Mày có tiền không?”, anh D trả lời “Em không có”. Anh D nói với T1 “anh cho em gọi điện thoại cho nhỏ em để mượn tiền” thì T1 đồng ý và ra giá 3.000.000 đồng. Anh D gọi điện cho em ruột tên Trần Ngọc H4 nhờ H4 mang tiền ra đưa cho T1 để T1 tha cho anh D về. Sau khi anh D nói chuyện điện thoại với chị H4 thì T1 lấy máy điện thoại di động hiệu Mobistar của anh D để liên lạc với chị H4 và hẹn gặp chị H4 tại trước số nhà A đường K, khu phố D, phường L, quận T (nay là thành phố T) để lấy tiền. Do H3 bị lạc đường nên T1 gọi H3 đến quán cà phê nơi T2 đang giữ anh D, còn T1 đi gặp chị H4 để lấy tiền. Khi H3 chạy đến quán cà phê thì thấy T2 nên vào ngồi cùng T2 và anh D.
Khi gặp chị H4, T1 hỏi mang bao nhiêu tiền thì chị H4 trả lời mang theo 5.000.000 đồng nhưng xin lại 300.000 đồng để trả tiền taxi, còn 4.700.000 đồng đưa cho T1 thì T1 đồng ý nhận tiền. Sau khi nhận tiền của chị H4, T1 gọi điện cho T2 nói gặp rồi, anh cho nó đi đi. Anh D được T2 và H3 cho về nhà, T1 vẫn giữ lại chiếc điện thoại Mobistar của anh D và T1 chạy đến quán nước gặp T2 và H3. Sau đó, T1 chia cho T2 1.500.000 đồng, chia cho H3 500.000 đồng, T1 giữ lại 2.500.000 đồng còn 200.000 đồng trả tiền ăn uống và đổ xăng. T1 bán điện thoại của anh D trên mạng xã hội được 900.000 đồng và tiêu xài hết (BL : 87, 89, 119, 128, 130, 132-133, 139)
Tiến hành cho anh Trần Ngọc D nhận dạng, anh D nhận ra T1 là người đã chiếm đoạt điện thoại M3 và yêu cầu anh D đưa tiền thì T1 mới cho anh D về nhà vào ngày 15/02/2019 (BL 81-83).
2/ Vụ thứ 2 :
Khoảng 03 giờ ngày 07/4/2019, T1 chở Nguyễn Phương L1 trên xe mô tô Exciter biển số 52X2-2048, H3 chở T2 trên xe mô tô Exciter biển số 51X8-0123, chạy từ công ty D1, phường L, quận T về hướng S. Khi đến trước quán N1, phường L, quận T thì thấy anh Nguyễn Chế C2 điều khiển xe mô tô biển số 59D2-625.14 chở anh Nguyễn Anh H5 ngồi sau dùng chân đẩy xe mô tô biển số 93H1-024.22 do anh Đỗ Văn T3 điều khiển đi cùng một nhóm bạn. Lúc này, cả nhóm của T1 đuổi theo anh T3, T1 ép được xe của anh T3 vào lề, nhóm bạn của anh T3 bỏ chạy. T1 móc ví lấy 01 chiếc thẻ màu đỏ đưa cho anh T3 để anh T3 lo sợ, tin tưởng T1 là Công an kiểm tra. L1 xuống xe giữ anh T3 và xe mô tô lại, còn T1, H5 và T2 tiếp tục đuổi theo nhóm thanh niên đang chạy xe phía trước. Khi đến cầu R, Quận B (nay thuộc thành phố T) thì H5 và T2 bị ngã xe và bị thương, nên T1 gọi xe taxi đưa T2 và H5 đến bệnh viện Q2 để điều trị. Sau đó, T1 chạy xe quay lại chỗ anh T3 đang ở cùng với L1. T1 nói anh T3 lên xe T1 chở về phường, để L1 ngồi lên xe của anh T3 để T1 đẩy xe của anh T3 có L1 ngồi trên về bãi đất trống thuộc khu vực đường A, khu phố E, phường L, quận T nơi vắng người qua lại. T1 hỏi anh T3 có tiền không, lúc nãy anh tổ trưởng đuổi theo bị ngã xe thì anh T3 nói không có tiền. T1 lấy ví của anh T3 kiểm tra và lấy 01 giấy đăng ký xe biển số 63H1-024.22, 01 giấy phép lái xe, 01 chứng minh nhân dân tên Đỗ Văn T3, 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 và nói anh T3 “M4 09 giờ đem theo 5.000.000 đồng và gọi vào số điện thoại này để chuộc lại giấy tờ và điện thoại”, hẹn gặp trước trường Đại học N2, phường L, quận T (nay là thành phố T). T1 gỡ cục I của xe anh T3 vứt bỏ trên đường và chở L1 bỏ đi. Khi T1 hỏi anh T3 có tiền không và kiểm tra ví lấy giấy tờ của anh T3 thì L1 đứng cách xa nên không nghe thấy gì, L1 nghĩ là T1 dặn anh T3 cách khi nói chuyện với Công an (108-110, 627-629).
Sau khi anh T3 bị T1 lấy điện thoại và giấy tờ thì có kể cho anh Nguyễn Văn H6 và anh Nguyễn Chế C2 nghe việc anh T3 bị nhóm của T1 chặn lại kiểm tra, T1 yêu cầu anh T3 đưa 5.000.000 đồng và lấy điện thoại di động hiệu Samsung J7 cùng giấy chứng minh nhân dân, giấy đăng ký xe và giấy phép lái xe. Đến 09 giờ ngày hôm sau, T1 và L1 đến điểm hẹn trước trường Đại học N1 nhưng không gặp được anh T3 nên T1 đưa cho L1 giấy tờ của anh T3, còn điện thoại T1 giữ. Sau đó, khoảng 01 tuần thì L1 qua nhà gặp T2 và đưa cho T2 giấy chứng minh nhân dân, giấy phép lái xe và giấy đăng ký xe của anh T3, T2 đã giao nộp lại cho cơ quan điều tra (BL 105, 107, 111, 116, 118, 126, 128, 134, 138, 140, 144).
Ngày 09/4/2019, anh Đỗ Văn T3 đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T trình báo.
Tiến hành cho anh T3 nhận dạng, anh T3 nhận ra Nguyễn Công T1 là người đã chặn xe anh T3 và bắt anh T3 đưa 5.000.000 đồng để chuộc lại điện thoại di động hiệu Samsung J7, giấy chứng minh nhân dân, giấy phép lái xe và giấy đăng ký xe mà ngày 07/4/2019 T1 đã chiếm đoạt của anh T3. Anh T3 nhận dạng ra T1 do trong lúc T1 chở anh T3 trên xe và trong lúc T1 nói chuyện với anh T3 thì T1 có mở khẩu trang nên anh T3 nhìn rõ mặt T1 (BL 78, 79, 80).
Qua truy xét, Ngày 06/5/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an quận T mời Nguyễn Công T1, Võ Minh T2, Nguyễn Thành H3 đến làm việc. T1, H3, T2 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tiến hành cho Nguyễn Công T1 đi xác định địa điểm, T1 chỉ ra địa điểm tại bãi đất trống, khu phố E, phường L, quận T là nơi T1 cùng đồng phạm thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản của anh Đỗ Văn T3 vào ngày 07/4/2019 (BL 09). Cho anh T3 xác định địa điểm, anh T3 xác định được địa điểm bị T1 lấy điện thoại di động, giấy tờ xe, chứng minh nhân dân là tại bãi đất trống, khu phố E, phường L, quận T (nay là thành phố T).
Tiến hành cho Nguyễn Công T1, Nguyễn Thành H3, Võ Minh T2 xác định địa điểm, T1 chỉ ra địa điểm số 1109 đường K, khu phố D, phường L, quận T là nơi T1 cùng đồng phạm thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản của anh Trần Ngọc D vào ngày 15/02/2019, địa điểm số 173 Quốc lộ A, khu phố A, phường H, quận T là nơi T2, T1 và H3 giữ anh Trần Ngọc D (BL 25, 27).
Huỳnh Bửu L2 là người viết dùm bản tự khai của Võ Minh T2 xác nhận L2 có viết dùm bản tự khai cho T2 do T2 không biết chữ. Trong quá trình làm việc tại Cơ quan Công an diễn ra bình thường, không thấy ai đe dọa hay ép buộc ghi theo ý của cán bộ điều tra, lời khai của L2 có mẹ của L2 xác nhận (BL 668-670).
Ngày 14/11/2019, Nguyễn Công T1, Võ Minh T2, Nguyễn Thành H3 có đơn kêu oan, không thừa nhận có hành vi đi tuần, hành vi cưỡng đoạt tài sản vào các ngày 15/02/2019 và ngày 07/4/2019 của anh Trần Ngọc D, chị Trần Thị Ngọc H7 và anh Đỗ Văn T3. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã điều tra xác minh và đã có văn bản trả lời số 91/CQCSĐT (CSĐT-TTXH) ngày 25/12/2019.
Ngày 07/5/2021, T1, T2 và H3 thay đổi lời khai. Cả ba bị cáo khai ngày 15/02/2019, có đi tuần trên đường P thì phát hiện có 02 thanh niên lưu thông trên 01 xe mô tô có biểu hiện nghi vấn nên nhóm của T1 đuổi theo. Khi chạy đến Quốc lộ A thì xe của H3 bị hư nên bị bỏ lại phía sau, T2 và T1 tiếp tục đuổi theo 02 thanh niên 01 đoạn thì 02 thanh niên bị ngã xe. Một thanh niên bỏ chạy bộ, T1 đuổi theo 01 đoạn thì T1 quay lại, người thanh niên còn lại dựng xe lên rồi bỏ chạy luôn. Sau đó T1 và T2 quay lại 01 đoạn thì gặp H3 rồi cả 03 bị cáo ra về. Lý do các bị cáo thay đổi lời khai là do bị cán bộ điều tra buộc, ép khai và ký tên vào bản ghi lời khai theo hướng dẫn của cán bộ điều tra (BL 673-679).
Đến các ngày 8, 10 tháng 11 năm 2023, cả ba bị cáo tiếp tục thay đổi lời khai. Các bị cáo khai vào tháng 02/2019, 03 bị cáo đi tuần thì thấy 02 thanh niên lưu thông trên 01 xe mô tô nên gọi cho anh Hà Thành V là cán bộ trinh sát của Đội Cảnh sát hình sự công an quận thủ Đ2 thì anh V nói chạy theo xem sao. T1 chở T2, H3 đi một mình đuổi theo qua nhiều tuyến đường khác nhau. Khi thấy nhóm của T1 bám theo thì 02 thanh niên tăng ga bỏ chạy, lấy dao Thái Lan ném về phía T1. Khi chạy đến cầu vượt B thì 02 thanh niên trên ngã xe, 01 người chạy vào lùm cây thì T1 đuổi theo nhưng không gặp được nên quay ra, người còn lại dựng xe lên thì T1 hỏi mấy ông làm gì chạy dữ vậy, T1 gọi điện cho anh V thì anh V nói chở người và xe về C3 xử lý nên T1 và T2 đưa thanh niên cùng xe về Đội hình sự của công an quận T (nay là thành phố T), sau đó cả hai ra về thì gặp H3. Còn ngày 07/4/2019 T1, T2, H3 và L1 nhìn thấy nhóm xe trong đó có 01 xe bị hư được xe khác đẩy. Khi nhóm của T1 chạy đến thì nhóm người này chạy vượt lên, để lại chiếc xe bị hư và người điều khiển. Lúc này H3, T1 và T2, L1 dừng xe bên lề đường để Tâm gọi điện thoại cho anh V thì anh V nói cứ chạy theo sau xem nhóm thanh niên trên làm gì. H3 cùng T2 chạy theo nhóm người trên, T1 chạy phía sau nhưng không chở L1 do L1 đứng dưới đất không đi theo T1. Khi đến cầu R thì H3 và T2 bị ngã xe, T1 gọi taxi đưa H3, T2 và xe bị hư đến bệnh viên Quân dân y M cấp cứu. T1 không chặn hay kiểm tra bất cứ xe nào, không có quay lại rước ai hết (BL 1072-1079).
Tiến hành đối chất giữa T1, H3, T2 với anh Nguyễn Trọng H8, anh H8 khai trong quá trình làm việc với 03 bị cáo thì anh H8 không có ép buộc, đe dọa bắt tạm giam 03 bị cáo. Anh H8 làm việc với 03 bị cáo tại trụ sở làm việc, không tiếp xúc bên ngoài trụ sở cơ quan, làm việc đúng quy trình, ghi biên bản xong có cho bị cáo đọc lại, ký xác nhận vào bản ghi lời khai (BL 880-885).
Tiến hành đối chất giữa Đỗ Văn T3 và Nguyễn Công T1, anh T3 xác định T1 là người đã lấy điện thoại di động, lấy giấy tờ của anh T3 và buộc anh T3 đưa 5.000.000 đồng để chuộc lại điện thoại cùng giấy tờ (BL886-887).
Tiến hành đối chất giữa anh Hà Thành V và Nguyễn Công T1, anh V xác định: Năm 2017, anh V có xây dựng T1 làm cộng tác viên bí mật. Đến tháng 4/2019, anh V thấy T1 không cung cấp được thông tin gì có hiệu quả nên đã đề xuất thanh loại T1 ra khỏi cộng tác viên bí mật. Nhiệm vụ của T1 chủ yếu là khi phát hiện đối tượng nghi vấn thì báo cho Cơ quan công an có mặt để theo dõi đề xuất hướng xử lý. T1 không được phép tự ý kiểm tra đối tượng nghi vấn trừ khi đối tượng phạm tội quả tang (BL 361-362).
Xác minh tại bệnh viện Q2 có kết quả ngày 07/4/2019 có tiếp nhận Võ Minh T2 sinh năm 1976, cư trú tại phường T, quận I, (nay là thành phố T) vào cấp cứu.
Xác minh tại phường A, Quận H để tìm nhân chứng Võ Đông H9 thì không tìm thấy do thông tin nơi ở không rõ ràng (BL 1055).
Xác minh tại Ban chỉ huy Quân sự phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương có kết quả : Ban chỉ huy quân sự phường A không cung cấp thẻ LLCĐ-Ban CHQS phường A cho Nguyễn Công T1 (BL 1054). T1 khai thẻ LLCĐ-Ban CHQS phường A là do trước đây T1 làm dân quân tại phường A, D, Bình Dương thì có 01 người làm chung cấp cho T1 nhưng T1 không nhớ rõ người đó là ai, T1 không biết là thẻ giả (BL 678).
Xác minh Nguyễn Phương L1 có kết quả: Hiện nhân khẩu Nguyễn Phương L1 đã bán nhà tại địa chỉ B đường T, tổ D, khu phố E, phường T, thành phố T, hiện vắng mặt tại địa phương, không rõ đang ở đâu (BL 870).
Xác minh anh Trần Ngọc D có kết quả : tại địa chỉ nơi có hộ khẩu thường trú số E đường P, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa cả hộ gia đình đã bán nhà đi sinh sống ở nơi khác. Chị H7 khai không rõ D hiện đang ở đâu do gia đình không có liên lạc với anh D (BL 898).
-Kết luận giám định 3085/KL-KTHS ngày 19/7/2022 của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận : Không tìm thấy file âm thanh “bản ghi mới 2 ngày 11/9/2020”, không đủ điều kiện giám định.
-Kết luận giám định số 5134/KL-KTHS của Phân viên KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Không đủ cơ sở giám định tiếng nói của Nguyễn Văn H6, Huỳnh Bửu L2. Do tiếng nói của Nguyễn Văn H6, Huỳnh Bửu L2 không đảm bảo yêu cầu giám định.
-Kết luận giám định số 1975/KLGĐ-TT ngày 07/4/2021 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:
- Khóa số tám bằng kim loại gửi giám định ký hiệu số 1 (đã nêu ở mục II.1) còn sử dụng được, không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Căn cứ Khoản 6, Điều 3 của Luật quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ do Quốc hội ban hành ngày 20/6/2017 và Danh mục Công cụ hỗ trợ ban hành theo Thông tư số 21 của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ do Quốc hội ban hành ngày 18/7/2019 của Bộ trưởng Bộ C4 thì khóa số tám gửi giám định là công cụ hỗ trợ.
- Bình xịt gửi giám định ký hiệu số 2 (đã nêu ở mục II.1) là bình xịt hơi cay, không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Căn cứ điểm e, Khoản 11, Điều 3, Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ do Quốc hội ban hành ngày 20/6/2017 và Danh mục Công cụ hỗ trợ ban hành theo Thông tư số 21/2019/TT-BCA ngày 18/7/2019 của Bộ trưởng Bộ C4 thì bình xịt hơi cay gửi giám định là công cụ hỗ trợ có tính năng, tác dụng tương tự, thuộc nhóm công cụ hỗ trợ.
- Dụng cụ phóng điện gửi giám định ký hiệu số 3 (đã nêu ở mục II.1) là dùi cui điện, không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Căn cứ điểm e, Khoản 11, Điều 3, Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ do Quốc hội ban hành ngày 20/6/2017 và Danh mục Công cụ hỗ trợ ban hành theo Thông tư số 21/2019/TTBCA ngày 18/7/2019 của Bộ trưởng Bộ C4 thì dùi cui điện gửi giám định là công cụ hỗ trợ có tính năng, tác dụng tương tự, thuộc nhóm công cụ hỗ trợ.
- Cây giũ tam khúc bằng kim loại gửi giám định ký hiệu số 4 (đã nêu ở mục I.1) là dùi cui kim loại, còn sử dụng được, không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Căn cứ điểm e, Khoản II, Điều 3, Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ do Quốc hội ban hành ngày 20/6/2017 và Danh mục Công cụ hỗ trợ ban hành theo Thông tư số 21 ngày 18/7/2019 của Bộ trưởng Bộ C4 thì dùi cui kim loại gửi giám định là công cụ hỗ trợ có tính năng, tác dụng tương tự thuộc nhóm công cụ hỗ trợ.
- Thẻ LLCĐ - BAN C mang tên Nguyễn Công T1 gửi giám định ký hiệu số 5 (đã nếu ở mục II.I) là giả (BL 656).
Kết luận định giá tài sản số 824/CV-HĐĐGTTTTTHS ngày 13/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - quận T (nay là thành phố T) ngày 13/5/2019, điện thoại di động hiệu S J7 có giá trị 1.800.000 đồng (BL 18).
Kết luận định giá tài sản số 1484/CV-HĐĐGTTTTTHS ngày 02/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự - quận T (nay là thành phố T) ngày 13/5/2019, điện thoại di động hiệu Mobistar có giá trị 1.000.000 đồng (BL 30).
Vật chứng vụ án :
- 01 giấy đăng ký xe tên Nguyễn Văn H10, 01 chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe tên Đỗ Văn T3 (trả lại cho bị hại)
- - 01 thẻ lực lượng cơ động mang tên Nguyễn Công T1.
- - 01 còng số 8, 01 bình hơi cay, 01 cây roi điện, 01 cây giũ tam khúc .
- - 01 điện thoại di động hiệu S (không thu hồi được).
- - 01 điện thoại di động hiệu Mobistar (không thu hồi được).
- - 01 xe mô tô biển số 52X2-2048 (không thu hồi được)
- 01 xe mô tô biển số 51X8-0123 (không thu hồi được).
Trách nhiệm dân sự :
- Anh Trần Ngọc D, chị Trần Ngọc H7 và anh Đỗ Văn T3 không yêu cầu bồi thường do đã nhận được tiền bồi thường.
[2] Bản Cáo trạng số 273/CT-VKSTPTĐ ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố các bị cáo Nguyễn Công T1, Nguyễn Thành H3 và Võ Minh T2 về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để xử phạt các bị cáo Nguyễn Công T1 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; Nguyễn Thành H3 và Võ Minh T2 mỗi bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng đúng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa Luật sư bào chữa cho bị cáo T1 tranh luận.
Về phần thủ tục bắt đầu phiên tòa: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và anh Phan Tấn Đ3 nên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa để tiến hành triệu tập bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và anh Đ3 nhằm đối chất và làm rõ một số nội dung vụ án tại phiên tòa.
Về nội dung: hai luật sư bào chữa cho các bị cáo đều không đồng ý với nội dung bản Cáo trạng và Luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Và xác định hồ sơ vụ án vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong việc bắt giữ các bị cáo và thu thập tài liệu chứng cứ, các bị cáo bị bắt giữ trong 03 ngày vào năm 2019 không có lệnh bắt, có lời khai của anh Hà Thành V xác định các bị cáo bị bắt trong ba ngày nhưng chưa được làm rõ. Lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nhiều mâu thuẫn về thời gian xảy ra vụ án, về nội dung diễn biến sự việc, về giá trị tài sản chiếm đoạt trong vụ của anh Trần Ngọc D có nhiều vấn đề mâu thuẫn chưa được làm rõ.
Trong quá trình điều tra đối với bị cáo Võ Minh T2, bản thân T2 không biết chữ nhưng đưa anh Huỳnh Bửu L2 viết hộ, nhưng anh L2 chưa đủ 18 tuổi là vi phạm thủ tục tố tụng. Trong hồ sơ vụ án có biên bản nhận dạng nhưng tại phiên tòa các bị cáo khai không nộp hình để nhận dạng nên biên bản nhận dạng trên không có giá trị pháp lý, hơn nữa tại phiên tòa các bị cáo khai đi tuần tra vào ban đêm các bị cáo đeo khẩu trang, đội nón bảo hiểm cũng như mặc áo khoác nên các bị hại nhận dạng được là không có cơ sở. Trong đơn kêu oan và tại phiên tòa các bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội vì trong quá trình điều tra có ép cung, nhục hình và mớm cung. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo T1, T2, H3 không phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” như Viện kiểm sát đã truy tố và trả tự do ngay cho các bị cáo tại phiên tòa.
Tại phiên tòa các bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố. Các bị cáo kêu oan vì cho rằng không thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra, cán bộ điều tra cũng như điều tra viên đã tạm giữ các bị cáo 03 ngày để ép cung, dùng nhục hình và mớm cung như đọc nội dung cho các bị cáo nghe để viết theo, ký khống các biên bản trước sau đó cán bộ điều tra ghi nội dung sau, hứa hẹn ký rồi không xử lý gì cả. Việc xác định địa điểm cán bộ điều tra chỉ cho các bị cáo lên xe taxi rồi đi vòng vòng trên các tuyến đường và sau đó ký biên bản, thực tế các bị cáo không xác định địa điểm. Bản thân các bị cáo không biết bị hại cũng như các bị cáo và gia đình không bồi thường về dân sự cho các bị hại.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phần tranh luận trình bày: Việc truy tố các bị cáo về hành vi phạm tội cũng như khung hình phạt là đúng quy định pháp luật. Quá trình điều tra cho đến ngày nhận bản Cáo trạng lần đầu vào ngày 02/10/2019 các bị cáo không kêu oan hoặc khiếu nại gì. Việc truy tố các bị cáo căn cứ lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như biên bản xác định địa điểm, biên bản nhận dạng, kết luận giám định cũng như bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung. Việc các bị cáo kêu oan, cho rằng ép cung, dùng nhục hình nhưng ngoài lời khai các bị cáo ra không có chứng cứ nào khác, quá trình điều tra bổ sung không có căn cứ để kết luận cán bộ điều tra có ép cung, mớm cung và dùng nhục hình đối với các bị cáo. Trong vụ án này các bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam nhưng từ khi truy tố cho đến khi nhận bản Cáo trạng lần đầu các bị cáo không kêu oan hoặc khiếu nại gì nên không có sở chấp nhận lời kêu oan của các bị cáo nên vẫn giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng số 273/CT-VKSTPTĐ ngày 22/5/2024 truy tố hành vi phạm tội của các bị cáo như trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên. Trong quá trình chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo kêu oan và cho rằng Điều tra viên đã tạm giữ các bị cáo 03 ngày để ép cung, dùng nhục hình cũng như mớm cung, cho các bị cáo ký khống vào bản tự khai, biên bản lấy lời khai và biên bản hỏi cung để buộc các bị cáo thừa nhận thực hiện 02 vụ cưỡng đoạt tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy việc khiếu nại của các bị cáo đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lời khiếu nại tại Công văn số 91/CQ- CSĐT ngày 25/12/2019 và Quyết định giải quyết khiếu nại số 15/QĐ – VKS ngày 02/01/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình điều tra cũng như đến khi các bị cáo nhận bản cáo trạng vào ngày 02/10/2019 cũng không có ý kiến gì. Lời trình bày kêu oan của các bị cáo không có tài liệu, chứng cứ chứng minh Điều tra viên trong quá trình điều tra đã ép cung, nhục hình và mớm cung. Tại bản tường trình của Điều tra viên Nguyễn Trọng H8 xác định do trước đây T1, T2 và H3 từng là cộng tác viên bí mật của Tổ hình sự thuộc Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về trật tự xã hội cho nên quan điểm của Ban chỉ huy Q và Đội là tạo điều kiện cho các bị cáo tại ngoại trong quá trình điều tra (BL 874), tường trình của Nguyễn Mạnh Q1 (BL 269) cũng xác định các bị cáo trước đây từng là công tác viên của Đ4 đã gặp nhiều lần trong lúc đi đánh án nên việc ép cung nhục hình là không xảy ra và thực tế các bị cáo được tại ngoại suốt quá trình điều tra.
Bên cạnh đó căn cứ vào đơn trình bày, tờ trình của Huỳnh Bữu L và bà Bùi Thị Ngọc T5 ngày 10/01/2020 và ngày 11/01/2020 và biên bản lấy lời khai ngày 10/01/2020 (BL: 317; 318; 325; 326; 327) với nội dung: “Lúc 15 giờ ngày 08/01/2020, H3 đến nhờ tôi tại 232/2, Đặng Văn B, phường B, thành phố T nhờ tôi giúp việc ra làm chứng cho H3, T1, T2 trong vụ cưỡng đoạt tài sản mà T1, T2, H3 bị Công an khởi tố. H3 nói ra làm chứng nói bị Công an treo lên đánh đập nếu không nói sẽ bị bắt giam. Tôi không đồng ý nhận lời vì sự thực mấy anh công an hình sự lúc làm việc ghi lời khai T1, H3, T2 không có đánh đập, ép buộc khai nhận. Tôi chứng kiến toàn bộ sự việc và có viết bản tự khai do T2 không biết chữ và biên bản ghi lời khai của T2 do tôi là người chứng kiến. Tất cả bản tự khai là do T2 tự nguyện khai và tôi có đọc lại cho T2 nghe, tôi và T2 cùng ký vào biên bản. Đối với T1 và H3 do hai anh công an anh Đ3 và anh H11 làm việc thì anh H11 và anh Đ3 không có đánh đập, ép cung đều do T1 và H3 tự nguyện khai ra. Sau đó đến 15 giờ ngày 09/01/2020, H3 tiếp tục đến nhà tôi nhờ tôi ra làm chứng, tôi từ chối không đồng ý. Tôi thấy sự việc của H3, T1, T2 không liên quan tới tôi mà cứ đến làm phiền tôi và tôi nghi ngờ sẽ bị ảnh hưởng tới vi phạm pháp luật nên tôi viết đơn này cho Cơ quan công an biết”. Huỳnh Bữu L và bà Bùi Thị Ngọc T5 đã xác nhận lời khai và nội dung như đã viện dẫn nêu trên là đúng diễn biến thực tế vụ việc chứng kiến.
Luật sư bào chữa cho các bị cáo đề nghị hoãn phiên tòa để triệu tập bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như điều tra viên Đ3 để đối chất. Hội đồng xét xử xét thấy: Vụ án đã đưa ra xét xử nhiều lần, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt và niêm yết Giấy triệu tập hợp lệ và trong quá trình điều tra đã có lời khai và về trách nhiệm dân sự đã xử lý xong, điều tra viên Đ3 cũng đã có giải trình. Vì vậy căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, điều tra viên là đúng quy định của pháp luật.
Hai luật sư bào chữa cho các bị cáo trình bày việc quá trình điều tra đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như đã nêu tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy: Hồ sơ vụ án xử sơ thẩm lần thứ nhất đã bị cấp phúc thẩm hủy án để điều tra bổ sung và làm rõ một số tình tiết, nội dung của vụ án. Sau khi nhận hồ sơ lại Cơ quan Điều tra đã tiến hành các hoạt động tố tụng theo trình tự của Bộ luật tố tụng hình sự, và đã khắc phục các thiếu xót trong quá trình tố tụng trước đó, nhưng vẫn còn một số vi phạm tố tụng không thể khắc phục được, tuy nhiên các vi phạm tố tụng này không phải là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng đến mức sai lệch hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử xét thấy đến nay hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo hoàn toàn không thừa nhận có hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố nhưng căn cứ vào toàn bộ hồ sơ vụ án đã thu thập được và tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận các bị cáo đi theo nhóm, giữa đêm khuya đeo khẩu trang, đội nón bảo hiểm trùm kín đầu và mặt, chạy theo đuổi phía sau để truy đuổi các bị hại. Dẫn đến các bị hại lầm tưởng cán bộ đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra, trong khi các bị cáo không có trách nhiệm và thẩm quyền thực hiện truy bắt và giữ các bị hại. Việc tụ tập nhóm đông người đã tạo áp lực về mặt tinh thần cho các bị hại, đồng thời các bị cáo còn trình các giấy tờ có thẻ đỏ “01 thẻ lực lượng cơ động mang tên Nguyễn Công T1” và sử dụng các công cụ hỗ trợ như còng số 8, bình xịt hơi cay...để cho các bị hại lầm tưởng, là cán bộ cơ quan nhà nước đang thực hiện nhiệm vụ mà lo sợ đã giao tài sản của mình cho các bị cáo.
Sự việc được chứng minh tại đơn trình báo, bản tự khai, biên bản ghi lời khai của bị hại anh Đỗ Văn T3 được thể hiện các bút lục (BL:01; 107 đến 110). Bản tự khai, biên bản ghi lời khai của bị hại anh Trần Ngọc D được thể hiện các bút lục (BL: 91 đến 94). Đơn trình báo, sơ đồ hiện trường; bản tự khai và biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Ngọc H7 được thể hiện các bút lục (Bút lục 19, 21, 87,89). Lời khai của anh Nguyễn Chế C2 (BL: 111 đến 114). Lời khai của anh Nguyễn Văn H6, Võ Đông H9 (BL: 97 đến 102). Ngoài ra còn căn cứ vào Biên bản các định địa điểm của các bị cáo thể hiện các bút lục 25 và 27; Biên bản nhận dạng thể hiện các BL(BL:78;81 và 84); Kết luận định giá tài sản. Bản tự khai, biên bản ghi lời khai và biên bản hỏi cung của bị cáo T1 thể hiện ở các bụt lục (BL 119,131 đến 138); Bản tự khai, biên bản ghi lời khai và biên bản hỏi cung của bị cáo H9 thể hiện ở các bút lục 121, 127,141,143 đến 138; Bản tự khai, biên bản ghi lời khai và biên bản hỏi cung của bị cáo T2 thể hiện ở các bút lục 115,116; 123 đến 126 và 144; biên bản giao nhận Kết luận điều tra và Bản cáo trạng thể hiện bút lục:116 đến 121. Bản tự khai, biên bản lấy lời khai ngày 06/7/2021 của Nguyễn Phương L1 (BL 627; 628; 629) đã xác định về nội dung, diễn biến sự việc, từ khi phát hiện nhóm anh Đỗ Văn T3 cho đến việc lấy giấy tờ của anh T3 đã khai phù hợp các tài liệu chứng cứ khác.
Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 4 giờ ngày 15/02/2019, Nguyễn Công T1, Nguyễn Thành H3, Võ Minh T2 chạy xe mô tô lưu thông trên đường P gần cầu G thì thấy anh Trần Ngọc D đang điều khiển xe mô tô. Khi thấy T1, H3, T2, anh Dư n là Công an nên sợ bỏ chạy. T1, H3, T2 đuổi theo, T1 tự xưng là Công an, T1 yêu cầu anh D dừng xe, sau đó T1 giữ xe, điện thoạt di động hiệu Mobistar của anh D và yêu cầu anh D đưa 3.000.000 đồng nếu không sẽ xử phạt. Do anh D không đem theo tiền nên gọi điện thoại cho em ruột là chị Trần Ngọc H7 đến đưa cho T1 4.700.000 đồng, khi nhận được tiền T1 trả xe cho anh D và chị H7 đi về. Sau khi có tiền T1 chia cho H3 500.000 đồng, chia cho T2 1.500.000 đồng, T1 giữ 2.500.000 đồng còn 200.000 đồng để ăn uống và đổ xăng, T1 bán điện thoạt di động hiệu Mobistar của anh D cho một người (không rõ lai lịch) trên mạng xã hội được 900.000 đồng, T1 tiêu xài hết.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ thì giữa các bị cáo và bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan hoàn toàn không có mâu thuẫn và không quen biết trước đó, sở dĩ có sự chênh lệnh trong số tiền chiếm đoạt do các bên trình bày là theo thỏa thuận của bị cáo T1 khi gặp anh D và chị H7 nên không có sự mâu thuẫn trong số tiền bị cáo T1 và đồng bọn đã chiếm đoạt tiền của anh D.
Ngoài ra tại phiên tòa bị cáo T1 khai nhận sau khi chặn được anh D, bị cáo T1 là người chở anh D trên xe của anh D và T2 chạy xe một mình, đưa anh D đi, bị cáo T1 khai chở anh D về Công an quận và bàn giao cho đội hình sự nhưng thực tế anh D hoàn toàn không đến Công an quận như bị cáo trình bày, mà anh D bị đưa về quán cà phê giao cho T2 và H3 canh giữ. Còn chị H7 gặp bị cáo T1 theo địa điểm do bị cáo T1 yêu cầu là tại trước số nhà S đường K, khu phố D, phường L, quận T (nay là thành phố T) đúng với biên bản xác minh địa điểm, do bị cáo T1 chỉ dẫn. Về nhận dạng chị H7 đã mô tả cụ thể vóc dáng bị cáo và xác định bản thân không nhận dạng được do bị cáo đeo khẩu trang và đội nón bảo hiểm đúng như bị cáo T1 và các bị cáo khác xác định các bị cáo đi theo nhóm, đeo khẩu trang và nón bảo hiểm kín đầu và mặt.
Bằng thủ đoạn tương tự khoảng 03 giờ ngày 07/4/2019 T1, H3, T2 và L1 (không rõ lai lịch) chở nhau đi tuần tra theo như lời trình bày của các bị cáo. Khi đến khu vực trước trường đại học N1 thuộc phường L, thành phố T T1 thấy anh Nguyễn Chế C2 điều khiển xe mô tô Vario biển số: 59D2-625.14 chở anh Nguyễn Anh H5 ngồi sau nghi vấn đua xe nên T1 kêu cả nhóm đuổi theo giữ anh T3 lại. T1 tự xưng là Công an yêu cầu anh T3 đưa giấy tờ kiểm tra và yêu cầu anh T3 đưa tiền nếu không sẽ xử phạt, do anh T3 không đem theo tiền nên T1 giữ giấy chứng minh nhân dân và và giấy phép lái xe và 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 của anh T3 hẹn 09 giờ ngày 08 tháng 4 năm 2019 anh T3 đưa 5.000.000 đồng sẽ trả lại. T1 giữ điện thoại di động của anh T3, đưa cho L1 giữ giấy tờ của anh T3. Ngày 09/4/2019 anh Đỗ Văn T3 đến Công an thành phố T trình báo.
Sự việc ngày 07/4/2019 có sự tham gia của Nguyễn Phương L1 và bản thân L1 đã có trình bày tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai ngày 06/7/2021 (BL 627; 628; 629), xác định về nội dung, diễn biến vụ việc như đã nêu trên, chỉ riêng phần chiếc điện thoại thì L1 không biết. Theo bị cáo T2 khai tại phiên tòa thì L1 là công tác viên của Công an Q3 nên T2 rủ H5 đi tuần bên quận T do tình hình địa bàn phường L phức tạp và có nhiều vụ án xảy ra, vì vậy L1 đồng ý đi cùng. Giữa L1 và T2 có sự quen biết trước đó, hai bên không có mâu thuẫn, vì vậy lời khai của L1 là chứng cứ xác thực và phù hợp diễn biến vụ án.
Ngoài ra lời khai của Nguyễn Anh H5 (BL 105,106), Nguyễn Chế C2 (BL 113, 114) xác định đúng thời gian, địa điểm và diễn biến sự việc xảy ra như trình bày của anh T3, các bị cáo tự xưng là công an và đưa bóp có 1 thẻ màu đỏ, và yêu cầu đưa giấy tờ để kiểm tra, anh H5 có mặt từ ban đầu cho đến khi anh T3 quay trở lại, phát hiện chiếc xe anh T3 bị mất chìa khóa và cục I...
Các biên bản ghi lời khai, tự khai của bị cáo T2, T1, H5 từ bút lục 123 đến bút lục 144 đều thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng của Viện kiểm sát, tuy nhiên sau này các bị cáo thay đổi lời khai và hoàn toàn không thừa nhận hành vi phạm tội, quá trình ghi lời khai có vi phạm thủ tục tố tụng đối với bị cáo T2 do T2 không biết chữ. Như đã nhận định nêu trên các bị cáo không bị móm cung, nhục hình mà buộc phải khai sự việc không có thật, hơn nữa các bị cáo còn ghi nhận lời khai của mình là đúng sự thật.
Ngoài lời khai của bị hại, của các bị cáo còn có tài liệu chứng cứ phù hợp khác như sự việc rượt đuổi của các bị cáo dẫn đến bị cáo T2 bị té xe và hậu quả là bị cáo T2 phải nhập viện để điều trị tại bệnh viện Q2, Bệnh viện đã xác định ngày 07/4/2019 có tiếp nhận Võ Minh T2 sinh năm 1976, cư trú tại phường T, quận I nay là thành phố T vào cấp cứu.
Tại phiên tòa bị cáo T2 khai L1 có đưa cho bị cáo một bịch nylon màu đen bị cáo không biết bên trong là gì. Tuy nhiên theo biên bản thu giữ vật chứng các giấy tờ của bị hại Đỗ Văn T3 là do bị cáo T2 giao nộp tại nhà bị cáo T2. Các giấy tờ thu giữ đúng như L1 trình bày.
Ngoài ra tại phiên tòa các bị cáo cho rằng chưa gặp bị hại, chưa đối chất, lời khai này của các bị cáo không đúng, từ bút lục 880 đến bút lục 889 thể hiện các biên bản đối chất giữa các bị cáo, bị hại và Điều tra viên Nguyễn Trọng H8, vì vậy có cơ sở xác định các bị cáo khai báo gian dối.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 16/9/2020 các bị cáo T1, H5, T2 khai nhận các công cụ hỗ trợ là của cán bộ công an H12 đưa cho các bị cáo, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm không ai món cung, hay ép các bị cáo khai nhận. Nhưng tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo nói hoàn toàn không biết các công cụ hỗ trợ này. Cơ quan Điều tra đã ghi lời khai anh Hà Thành V, anh V xác định không cung cấp bất cứ công cụ hỗ trợ nào cho Nguyễn Công T1. Có thể thấy, các bị cáo trước sau tự bản thân khai nhưng có sự bất nhất, gian dối cố tình gây khó khăn cho cơ quan điều tra.
Theo lời khai của T2 trong hồ sơ thì mỗi lần T1 giữ các đối tượng thường hay đưa thẻ đỏ có tên Nguyễn Công T1 ra để làm việc. Cơ quan điều tra xác minh tại Ban chỉ huy Quân sự phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương có kết quả: Ban chỉ huy quân sự phường A không cung cấp thẻ LLCĐ-Ban CHQS phường A cho Nguyễn Công T1 (BL 1054). T1 khai thẻ LLCĐ-Ban CHQS phường A là do trước đây T1 làm dân quân tại phường A, D, Bình Dương thì có 01 người làm chung cấp cho T1 nhưng T1 không nhớ rõ người đó là ai, T1 không biết là thẻ giả (BL 678).
Các bị cáo cho rằng không tự xưng là công an, không trình thẻ “đỏ” để chứng minh các bị cáo có quyền yêu cầu người dân dừng xe và trình giấy tờ, các bị cáo hoàn toàn không có thẩm quyền được rượt đuổi người dân giữa đêm khuya vắng, trong khi họ không phạm tội quả tang. Đêm khuya các bị cáo còn đeo khẩu trang và đội nón bảo hiểm mặc áo khoác kín người. Hành vi và thủ đoạn của các bị cáo đã tác động mạnh đến người dân, khiến người dân lo lắng, sợ hãi, buộc phải thực hiện theo yêu cầu của các bị cáo. Các bị cáo cho rằng người dân chống trả lại các bị cáo nhưng không có tài liệu chứng cứ chứng minh và từ khi xảy ra vụ án cho đến khi kết thúc điều tra, xét xử vào năm 2020 hoàn toàn không có bất kỳ lời khai nào về việc người dân chống trả khi bị rượt đuổi, đó chỉ là lời khai gian dối của các bị cáo nhằm quanh co chối tội.
Tại bản án phúc thẩm số 465/2020/HS-PT ngày 16/9/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có lưu ý đối với 02 file ghi âm và 02 bản giải trình đề ngày 10/9/2020, theo kết luận giám định số 5166/C09B ngày 18/11/2019 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh đã giám định, các đoạn ghi âm có liên quan đến bị cáo Nguyễn Công T1 đưa số tiền 50.000.000 đồng “để không bị tạm giam” đối với vụ Cưỡng đoạt tài sản do các bị cáo thực hiện do điều tra viên Nguyễn Trọng H8 đang điều tra. Theo nhận định ở cả hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm liên quan đến bị cáo Nguyễn Trọng H8 đều khẳng định bị cáo Nguyễn Công T1 là người chủ động đề xuất và đưa tiền cho H8, do đó số tiền này cũng bị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, bản án số 271/2024/HS-PT ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đang có hiệu lực thi hành.
Từ các nhận định trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luật hành vi nêu trên của Nguyễn Công T1, Nguyễn Thành H3, Võ Minh T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017.
Do đó đề nghị của người bào chữa cho các bị cáo về việc tuyên các bị cáo vô tội và trả tự do cho các bị cáo tại phiên tòa là không có căn cứ để chấp nhận.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ vụ lợi, các bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội. Càng nguy hiểm hơn bản thân các bị cáo được xác định là Cộng tác viên với tổ hình sự đặc nhiệm Công an thành phố T nhưng đã lợi dụng sự am hiểu pháp luật, biết được đặc thù tình hình tội phạm cũng như tâm lý của người vi phạm mà trong khoảng thời gian ngắn đã thực hiện 02 cưỡng đoạt tài sản đã thể hiện sự liều lĩnh và xem thường pháp luật. Xét vai trò các bị cáo trong vụ án là đồng phạm nhưng mang tình chất giản đơn, trong đó bị cáo T1 giữ vai trò cầm đầu và trực tiếp thực hiện tội phạm, bị cáo T2 và H3 tham gia với vài trò giúp sức.
Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn, bị cáo T1 và T2 có thành tích, tích cực trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tại phiên tòa các bị cáo khai bản thân các bị cáo và gia đình không bồi thường về trách nhiệm dân sự. Tuy nhiên căn cứ lời khai của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng như áp dụng nguyên tắc có lợi cho các bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là phù hợp pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này bản thân các bị cáo thực hiện 02 vụ “Cưỡng đoạt tài sản” nên các bị cáo phạm tội thuộc tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với tên Nguyễn Phương L1 giao cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra tiếp tục xác minh làm rõ khi có cơ sở sẽ xử lý sau.
Đối với lời khai của bà Võ Thị T6 ngày 24/12/2020 (BL 620, 601) xác định ngày 11/6/2020 có hai thanh niên đi xe máy đến uống nước thì ông H6 chạy xe ôm có đến ngồi chung bàn, lúc đó một người thanh niên ngồi tự viết trong một tờ giấy rồi người thanh niên có đọc nội dung bà không biết. Sau đó hai thanh niên này kêu bà ký tên vào tờ giấy làm chứng, tờ giấy này do ông H6 ký tên. Bà Nguyễn Thị Đ1 khai (Bl 662, 663) xác định biên bản làm việc ngày 28/4/2019 của Công an hình sự làm việc bà trình bày và đọc biên bản đúng như lời bà Đ1 đã trình bày nên bà ký tên vào biên bản, còn sự việc bà trình bày là biên bản công an đưa ký khống không có nội dung bà Đ1 xác định không có nói và cũng không có người nào đến nói bà viết đơn từ gì cả.
Bản tường trình, biên bản ghi lời khai, của Huỳnh Bữu L và bà Bùi Thị Ngọc T5 từ bút lúc 666 đến 671 có nội dung xác định ngày 13/01/2020 T1, H3, T2 lại đến nhà dụ dỗ anh L viết thêm một bản tường trình theo gợi ý của T1, H3, T2 mà không đúng sự thật...Anh L xác định việc anh L viêt tường trình dùm T2 theo đúng lời khai của T2 và đã đọc cho T2 nghe và xác định không ai đánh đập T1, H3, T2 trong quá trình làm việc và lấy lời khai. Bà T5 xác định H3 là người gọi điện cho bà để xin cho L ra làm chứng nhưng bà không chấp nhận.
Hội đồng xét xử nhận thấy quá trình tại ngoại điều tra các bị cáo có sự tác động đến người làm chứng trong vụ án, dẫn đến cung cấp một số tài liệu không đúng với lời khai của người làm chứng như đã viện dẫn nêu trên. Do đó đề nghị Cơ quan điều tra làm rõ hành vi xúi giục người làm chứng khai báo gian dối, làm sai lệch hồ sơ vụ án, để xử lý các bị cáo theo quy định pháp luật.
Đối với hành vi T1 tự xưng là Công an và yêu cầu anh D ngồi lên xe mô tô của T1 chở về trụ sở công an phường H. Trên đường đi, T1 nói “chở nó về giao Công an phường” để anh D sợ, tin tưởng T1 là Công an. Sau đó, T1 không chở anh D về trụ sở Công an mà T1 chở anh D đến quán cà phê tại địa chỉ A, Quốc lộ A, khu phố A, phường H, quận T (nay là thành phố T) (vụ xảy ra ngày 15/02/2019) đến vụ việc xảy ra ngày 07/4/2019, bị cáo T1 nói anh T3 lên xe T1 chở về phường, để L1 ngồi lên xe của anh T3 để T1 đẩy xe của anh T3 có L1 ngồi trên về bãi đất trống thuộc khu vực đường A, khu phố E, phường L, quận T nơi vắng người qua lại. Về tình tiết này, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã trả hồ sơ điều tra bổ sung theo quyết định số: 209/2024/HSST – QĐ Thủ Đức, ngày 21 tháng 5 năm 2024 để yêu cầu xác minh làm rõ có hay không các bị cáo phạm tội bắt, giữ người trái pháp luật. Sau đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức chuyển hoàn hồ sơ và ban hành cáo trạng số 273/CT-VKSTPTĐ ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố các bị cáo Nguyễn Công T1, Nguyễn Thành H3 và Võ Minh T2 về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, do đó trong giới hạn xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức chỉ xét xử đối với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố đã truy tố.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khai nhận đã nhận bồi thường về dân sự và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
* Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra đã trả lại 01 giấy đăng ký xe tên Nguyễn Văn H10, 01 chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe tên Đỗ Văn T3 là đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử ghi nhận.
Riêng 01 thẻ lực lượng cơ động mang tên Nguyễn Công T1 tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.
Đối với 01 còng số 8; 01 bình hơi cay; 01 cây roi điện và 01 cây dũa tam khúc, căn cứ Kết luận giám định số 1975/KLGĐ-TT ngày 07/4/2021 của Phòng K Công an Thành phố H xác định thuộc nhóm công cụ hỗ trợ, vì vậy tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7; 01 điện thoại di động hiệu Mobistar; 01 xe mô tô biển số 52X2-2048 và 01 xe mô tô biển số 51X8-0123 không thu hồi được.
Ngoài ra bị cáo Nguyễn Công T1 cho rằng, khi bị bắt giữ ngày 05/6/2019 Công an đã thu ví tiền, tiền và xe của bị cáo nhưng bị cáo không có tài liệu chứng cứ chứng minh và Cơ quan Điều tra cũng không thu giữ tài sản gì của các bị cáo ngoài các vật chứng nêu trên. Trường hợp bị cáo T1 có tài liệu chứng cứ chứng minh bị thu giữ tài sản bất hợp pháp bị cáo có quyền kiện đòi người thu giữ tài sản của bị cáo bằng vụ án khác.
[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Công T1, Nguyễn Thành H3 và Võ Minh T2 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Áp dụng Điều 38; khoản 1 Điều 170; điểm h khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành H3 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2024.
Xử phạt bị cáo Võ Minh T2 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2024.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 còng số 8; 01 bình hơi cay; 01 cây roi điện và 01 cây dũa tam khúc. Giao cho B1 chỉ huy quân sự thành phố T xử lý các vật chứng này.
Tiếp tục lưu trữ kèm hồ sơ vụ án 01 thẻ lực lượng cơ động mang tên Nguyễn Công T1.
(Theo Phiếu nhập kho số NK24/124C ngày 29/01/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức và Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, chứng cứ ngày 07/5/2024 tại Ban chỉ huy Quân sự thành phố T ).
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Buộc các bị cáo Nguyễn Công T1, Nguyễn Thành H3 và Võ Minh T2 mỗi cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Thị Thu Thảo |
Bản án số 322/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 322/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Công T và Đồng bọn
