Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 322/2024/HS-ST

Ngày: 08 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Châu
Thẩm phán: Ông Phan Thanh Nguyễn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tùng
2. Bà Lê Thị Xuân Lang
3. Bà Võ Thị Nam

- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Lê Trọng Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Lệ Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 448/2024/TLST-HS ngày 13/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3295/2024/QĐXXST-HS ngày 19/6/2024 đối với bị cáo:

Nhan Thành L; giới tính: Nam; sinh năm 1991; tại Thành phố H; nơi thường trú: khu phố A, phường T, Quận L, Thành phố H; nơi ở: ấp D, xã Đ, huyện H, Thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; con ông Nhan M và bà Dương Thị Thanh T2; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 26/5/2023; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nhan Thành L: Luật sư Nguyễn Trung Chánh - Công ty Luật TNHH Chánh Thiện, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1984.

Địa chỉ: ấp D, xã Đ, huyện H, Thành phố H; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhan Thành L sinh sống tại chung cư mi ni số ấp D, xã Đ, huyện H, ông Nguyễn Thanh T là chỗ quen biết với bà Nguyễn Thị B trước đây là chủ khu đất của chung cư mini và Nhan Thành L. Vào ngày 15/5/2023, Nhan Thành L đậu xe ô tô tải trước chung cư, thì bà Nguyễn Thị B không đồng ý, bức xúc vì ở trong chung cư nhưng không được đậu xe nên giữa Nhan Thành L và bà Nguyễn Thị B xảy ra mâu thuẫn. Bà Nguyễn Thị B đã đến quán cà phê của ông Nguyễn Thanh T tại số ấp D, xã Đ, huyện H để nhờ Nguyễn Thanh T nói chuyện hòa giải với Nhan Thành L. Sau đó, Nguyễn Thanh T gọi điện thoại cho Nhan Thành L đến nói chuyện, Nhan Thành L đến gặp bà Nguyễn Thị B xin lỗi, Nhan Thành L cũng đồng ý không đậu xe trước chung cư.

Ngày 17/5/2023, Nhan Thành L thấy một xe ô tô đậu trước chung cư nên bực tức, cho tới sáng ngày 18/5/2023 vẫn thấy xe ô tô này đậu lại nên đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi đã uống bia, Nhan Thành L lấy hũ chao tạt vào xe và hỏi mọi người lý do chiếc xe được đậu ở đây, ông Kiều Văn Q là bảo vệ khu chung cư cho biết bà Nguyễn Thị B đồng ý cho đậu. Nhan Thành L yêu cầu ông Kiều Văn Q gọi cho bà Nguyễn Thị B đến nói chuyện nhưng bà Nguyễn Thị B không đến, Nhan Thành L gọi điện thoại cho ông Nguyễn Thanh T nhưng không bắt máy. Sau đó, ông Nguyễn Thanh T gọi lại cho Nhan Thành L, hai bên thách thức nhau rồi tắt máy.

Nhan Thành L biết sẽ xảy ra đánh nhau nên về căn hộ chung cư lấy sáu vỏ chai thủy tinh bên trong có đựng xăng; một cây súng ngắn bằng kim loại màu đen, cán màu nâu, bên trong ổ đạn có sáu viên đạn cao su; một cây súng bằng kim loại dài khoảng 12,5cm, cán dài 8,5cm, một cây dao bấm dài 12cm, lưỡi dài 5,5cm bỏ trong túi xách. Nhan Thành L đem túi xách để ngay bàn ghế đá trước cổng chung cư và ngồi chờ. Mấy phút sau, ông Nguyễn Thanh T trong tình trạng đã uống rượu say cùng với một thanh niên (chưa rõ lai lịch) đi bộ đến cổng chung cư. Lúc này, có 02 người thanh niên (không rõ lai lịch) cũng đi đến cổng chung cư, ông Nguyễn Thanh T tiến đến dùng tay chân đánh nhau với 02 người thanh niên thì Nhan Thành L vào can ngăn và nói với ông Nguyễn Thanh T 02 người thanh niên này không liên quan, có gì giải quyết với Nhan Thành L.

Bực tức do bị đánh nên ông Nguyễn Thanh T đi vào nhà ông Kiều Văn Q lấy một cây gậy bóng chày quay lại cổng chung cư. Thấy vậy, Nhan Thành L liền lấy một chai thủy tinh đựng xăng cầm tay trái, tay phải Nhan Thành L lấy cây súng bắn đạn cao su rồi chạy ra, Nhan Thành L ném chai thủy tinh đựng xăng xuống đất trước chân ông Nguyễn Thanh T nhằm hù dọa làm chai thủy tinh vỡ nhiều mảnh; Nhan Thành L cầm súng chỉ vào người Nguyễn Thanh T, thì Nguyễn Thanh T lao đến thách thức và giằng co với Nhan Thành L. Tức giận, Nhan Thành L đưa súng sát vào vùng mắt trái của ông Nguyễn Thanh T rồi bắn một phát làm ông Nguyễn Thanh T chảy máu vùng mặt, té ngã xuống đường bất tỉnh. Sau đó, ông Nguyễn Thanh T được gia đình đưa đến Bệnh viện Quân y 175 cấp cứu và điều trị.

Riêng Nhan Thành L đón xe ôm bỏ trốn, khi đi đến ngã tư cầu vượt B, thành phố T thì vứt bỏ cây súng tại hẻm bên hông Công ty A địa chỉ Quốc lộ B, phường H,

thành phố T. Nhan Thành L tiếp tục đi đến khu vực thuộc tỉnh L và vào cửa hàng kinh doanh điện thoại không rõ địa chỉ, rồi gọi cho Võ Phú T1 là hàng xóm với Nhan Thành L nhờ Võ Phú T1 chuyển 10.000.000 đồng qua tài khoản của chủ cửa hàng kinh doanh điện thoại, sau khi nhận được tiền, Nhan Thành L tiếp tục đón xe đi rồi điện thoại cho Hà Thị L1 là bạn gái và muốn gặp Hà Thị L1 lần cuối trước khi đi đầu thú. Đến sáng ngày 23/5/2023, Nhan Thành L và Hà Thị L1 gặp nhau rồi cùng đón xe đi tỉnh L để về quê của Hà Thị L1 tại L. Khi cả hai đến Bến xe L thì bị Công an tỉnh Lào Cai phát hiện bắt giữ giao lại cho Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo thẩm quyền.

Tại kết luận giám định số 3619/KLTTCT-C09B ngày 29/5/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận giám định thương tích của bị hại Nguyễn Thanh T:

Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế, xác định tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích như sau:

  1. Kết quả chính:
    • Tổn thương mắt trái, vết thương mi mắt, gãy xương trần- sàn- thành trong ổ mắt, hiện đã múc nội nhãn;
    • Máu tụ dưới màng cứng đỉnh trái;
    • Dập não xuất huyết trán trái: d#13x15cm;
    • Gãy thành xoang sàng, vách ngăn mũi, xương trần - sàn - thành trong ổ mắt trái, thành xoang trán trái;
    • Vết thương niêm mạc môi trên trái.
  2. Kết luận: Tổn thương mắt trái, vết thương mi mắt, gãy xương trần - sàn - thành trong ổ mắt, hiện đã múc nội nhãn: 51%;
    • Máu tụ dưới màng cứng đỉnh trái: 11%;
    • Dập não xuất huyết trán trái: d#13x15cm: 21%;
    • Gãy thành xoang trán trái: 07%;
    • Gãy thành xoang sàng,vách ngăn mũi: 09%;
    • Vết thương niêm mạc môi trên trái: 01%.

Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thanh T tại thời điểm giám định là: 71%.

  1. Kết luận khác: Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28.8.2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế không hướng dẫn về cố tật;

Tổn thương mắt trái, máu tụ dưới màng cứng đỉnh trái, dập xuất huyết não, gãy xương trần - sàn - thành trong ổ mắt trái, thành xoang trán trái phù hợp do đạn bắn gây ra;

Vết thương niêm mạc môi trên trái, gãy thành xoang sàng, vách ngăn mũi phù hợp do vật tày tác động gây ra;

Tổn thương gây nguy hiểm đến tính mạng.

Tại bản Kết luận giám định số 5606/KL-KTHS ngày 29/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận về súng thu giữ như sau:

  1. Đối tượng gửi giám định ký hiệu từ số 1 đến số 6 không phải vũ khí quân dụng;
  2. Đối tượng gửi giám định ký hiệu số 1 (khẩu súng bị can Nhan Thành L sử dụng bắn anh Nguyễn Thanh T) là loại súng chế lại, số súng nguyên thủy 20TH0049, sử dụng loại đạn cao su cỡ 9mm x 22mm, súng còn sử dụng được, không xác định được nguồn gốc, xuất xứ, là công cụ hỗ trợ có tính năng, tác dụng tương tự;
  3. Đối tượng gửi giám định ký hiệu số 2 là loại súng chế lại, không có số súng, sử dụng loại đạn thể thao cỡ 5,6mm x 15,6mm, súng còn sử dụng được, không xác định được nguồn gốc, xuất xứ, là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí thể thao;
  4. Đối tượng gửi giám định ký hiệu số 3 là loại súng chế lại, không có số súng, súng thiếu bộ phận, không sử dụng được, không có khả năng gây sát thương, không xác định được nguồn gốc, xuất xứ;
  5. Đối tượng gửi giám định ký hiệu số 4 là loại súng sử dụng lò xo nén bắn đạn bi cỡ 6mm, không có số súng, còn sử dụng được, không xác định được nguồn gốc, xuất xứ, thuộc nhóm đồ chơi nguy hiểm bị cấm;
  6. Đối tượng gửi giám định ký hiệu số 5 là súng bật lửa, không có số súng, hoạt động bình thường, không xác định được nguồn gốc, xuất xứ, thuộc nhóm đồ chơi nguy hiểm bị cấm;
  7. Đối tượng gửi giám định ký hiệu số 6 là súng bật lửa, không có số súng, hoạt động bình thường, không xác định được nguồn gốc, xuất xứ, thuộc nhóm đồ chơi nguy hiểm bị cấm;
  8. Đối tượng gửi giám định ký hiệu số 7 là đạn cao su, cỡ 9mm x 22mm thuộc nhóm công cụ hỗ trợ, sử dụng được cho khẩu súng ngắn ký hiệu số 1, một số loại súng ngắn thuộc nhóm công cụ hỗ trợ như : RG88, RG70, SĐN-E112, EKOL, RETAY G19C... và súng tự chế có cỡ nòng và buồng chứa đạn phù hợp với loại đạn này;
  9. Đối tượng gửi giám định ký hiệu số 8 là vỏ đạn của loại đạn thuộc nhóm công cụ hỗ trợ cỡ 9mm x 22mm, sử dụng được cho khẩu súng ngắn ký hiệu số 1, một số loại súng ngắn thuộc nhóm công cụ hỗ trợ như : RG88, RG70, SĐN-E112, EKOL, RETAY G19C... và súng tự chế có cỡ nòng và buồng chứa đạn phù hợp với loại đạn này;
  10. Đối tượng gửi giám định ký hiệu số 9 là đầu đạn của loại đạn cao su, cỡ 9mm x 22mm;
  11. Đối tượng gửi giám định ký hiệu số 10 là vỏ đạn của loại đạn thể thao, cỡ 5,6mm x 15,6mm;
  12. Đối tượng gửi giám định ký hiệu số 11, số 12, số 13 là bộ phận buồng chứa đạn của súng, không xác định được nguồn gốc, xuất xứ;
  13. Không xác định được đối tượng gửi giám định ký hiệu số 14 là bộ phận gì;
  14. Không đủ cơ sở kết luận đối tượng gửi đến giám định ký hiệu số 8, số 9 có được bắn ra từ khẩu súng ngắn ký hiệu số 1 gửi giám định hay không.

Về dân sự: Ông Nguyễn Thanh T yêu cầu bị cáo Nhan Thành L bồi thường số tiền 500.000.000 đồng, gia đình đã khắc phục được số tiền 7.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 339/CT-VKS-P2 ngày 06/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nhan Thành L về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nhan Thành L từ 12 năm tù đến 13 năm tù về tội “Giết người”. Buộc bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền còn lại cho bị hại. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Luật sư đồng ý về tội danh và điều luật như Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đồng ý các tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát đã áp dụng cho bị cáo. Về động cơ, mục đích của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, do khi bị hại có lời thách thức và trong lúc xảy ra giằng co, đã xảy ra việc bị cáo bóp cò súng, bị cáo không muốn bắn vào đâu trên cơ thể của bị hại và cũng không muốn gây thương tích cho bị hại. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo đã sẵn sàng ý định ra đầu thú, phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt và khi bị bắt thì bị cáo cũng mong muốn gặp gia đình bị hại để bồi thường một phần thiệt hại nhưng không có điều kiện. Về mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở, ngoài ra về các tổn thất mà bị hại có hóa đơn thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận cho bị hại. Do đó, căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thì mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có phần nghiêm khắc. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét căn cứ các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 57 của Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo mức án thấp hơn so với mức án Viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo đồng ý nội dung bào chữa của Luật sư, không bào chữa bổ sung và không tranh luận; bị hại không tranh luận.

Kiểm sát viên đối đáp: Bị cáo mới chỉ bồi thường số tiền 7.000.000 đồng là số tiền rất nhỏ so với số tiền thiệt hại bị cáo phải bồi thường nên không áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đầu thú là bị cáo phải đến cơ quan chức năng nhưng bị cáo chưa đến cơ quan chức năng để đầu thú thì đã bị bắt giữ nên không có căn cứ áp dụng cho bị cáo tình tiết này. Về mức hình phạt, Viện kiểm sát đã căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, phạm tội chưa đạt đối với bị cáo nên đã đề nghị mức án 12 năm tù đến 13 năm tù đối với bị cáo Nhan Thành L như nội dung luận tội.

Luật sư và Kiểm sát viên bảo lưu ý kiến đã trình bày, không tranh luận bổ sung.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục

quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nhan Thành L không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị cáo Nhan Thành L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo Nhan Thành L tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của những người làm chứng, bản kết luận giám định pháp y về thương tích, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 18/5/2023, tại trước chung cư mini ấp D, xã Đ, huyện H, chỉ vì tức giận việc không được đậu xe trước chung cư nên giữa Nhan Thành L và ông Nguyễn Thanh T xảy ra mâu thuẫn thách thức đánh nhau. Nhan Thành L chuẩn bị sẵn súng, chai thủy tinh đựng xăng, một con dao bấm dài 12 cm để đánh nhau với ông Nguyễn Thanh T, Nhan Thành L cầm súng chĩa thẳng bắn vào mắt trái anh Nguyễn Thanh T gây thương tích 71%, thương tích nguy hiểm đến tính mạng (Theo Kết luận giám định số 3619/KLTTCT-C09B ngày 29/5/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại TP. Hồ Chí Minh).

Ngoài ra, bị cáo Nhan Thành L còn có hành vi tàng trữ, sử dụng súng thuộc nhóm công cụ hỗ trợ, đồ chơi nguy hiểm bị cấm và đạn cao su, đạn thể thao không có giấy phép theo quy định. Tuy nhiên, kết quả xác minh xác định bị cáo chưa bị xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự về hành vi tàng trữ, sử dụng công cụ hỗ trợ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn gửi về địa phương đề nghị xử phạt hành chính đối với bị cáo về hành vi “Sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép” được quy định tại điểm b, d khoản 3 Điều 11 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính về vi phạm quy định về quản lý sử dụng công cụ hỗ trợ và đồ chơi nguy hiểm bị cấm là có căn cứ.

Đối với Hà Thị L1 sống chung với Nhan Thành L như vợ chồng, sau khi biết Nhan Thành L dùng súng gây thương tích, Hà Thị L1 có khuyên Nhan Thành L ra đầu thú và ngày 19/5/2023, Nhan Thành L đã viết sẵn đơn đầu thú nộp tại cơ quan điều tra Công an tỉnh Lào Cai. Hà Thị L1 chỉ nghe nói ông Nguyễn Thanh T bị thương ở mắt. Do đó, chưa đủ cơ sở xử lý Hà Thị L1 về hành vi “Che giấu tội phạm“ hoặc “Không tố giác tội phạm”.

Đối với Võ Phú T1 là bạn với Nhan Thành L, Nhan Thành L có gọi điện thoại nhờ Võ Phú T1 chuyển tiền cho Nhan Thành L mượn 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, Võ Phú T1 không biết Nhan Thành L đang bỏ trốn và nghĩ Nhan Thành L mượn tiền để sử dụng cá nhân hoặc hỗ trợ điều trị vết thương cho ông Nguyễn Thanh T nên Võ Phú T1 đã chuyển tiền cho Nhan Thành L. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh không xử lý Võ Phú T1 về hành vi “Che giấu tội phạm” hoặc “Không tố giác tội phạm” là có cơ sở.

[3] Hành vi của bị cáo Nhan Thành L là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Giữa bị cáo và bị hại có mối quan hệ quen biết chơi với nhau, chỉ vì mâu thuẫn phát sinh từ việc nhỏ nhặt ứng xử trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, sau khi đã uống rượu bia, bị cáo không tự kềm chế bản thân, đã dùng dùng súng dí gần sát mắt trái bắn một phát trúng vào mắt trái ông Nguyễn Thanh T nguy hiểm tính

mạng của bị hại, bị hại không chết là ngoài ý muốn của bị cáo do được đưa cấp cứu kịp thời.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Giết người” với tình tiết định khung có tính chất côn đồ theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử thấy rằng: Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nhan Thành L về tội “Giết người” là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra cho bị hại, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có;

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, sau khi phạm tội đã bồi thường một phần trách nhiệm dân sự cho gia đình bị hại; phạm tội chưa đạt nên áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57 của Bộ luật Hình sự.

[5] Trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường các chi phí như thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm 100.000.000 đồng, tổn thất tinh thần 500.000.000 triệu, thu nhập thực tế bị mất 13 tháng x 30.000.000 đồng/tháng = 400.000.000 đồng; tổng cộng 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Tuy nhiên, căn cứ các tài liệu là các hóa đơn thuốc, tiền viện phí cơ quan điều tra thu thập và bị hại nộp cho Tòa án trước khi xét xử gồm: Tiền thuốc + viện phí..., tổng cộng: 38.785.626 đồng; Hội đồng xét xử xem xét các khoản bồi thường theo quy định của pháp luật gồm: Thu nhập bị mất: 15.000.000 đồng/tháng x 3 tháng = 45.000.000 đồng; thu nhập bị giảm sút: 8.000.000 đồng/tháng x 6 tháng = 48.000.000 đồng; tổn thất tinh thần: 234.000.000 đồng; tổng cộng; 365.785.626 đồng - 7.000.000 đồng (gia đình bị cáo đã nộp vào tài khoản của Cơ quan điều tra) = 358.785.626 đồng.

Đối với số tiền chênh lệch về yêu cầu bồi thường của bị hại không có đủ tài liệu chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, Hội đồng xét xử tách ra, dành cho bị hại khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác nếu có yêu cầu và có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự.

Những phân tích nêu trên cũng là quan điểm của Hội đồng xét xử về ý kiến tranh luận đối đáp của Luật sư bào chữa, bị cáo và Kiểm sát viên.

[6] Xử lý vật chứng:

  • 01 cây kim loại màu đen dạng hình tròn, trên thân cây có chữ BAT, dài khoảng 70cm, nhỏ nhất dài khoảng 3cm, lớn nhất dài khoảng 5cm; một số mảnh vỡ thủy tinh kích thước khoảng (4x2)cm; 01 giỏ xách màu nâu bên trong có: 05 chai thủy tinh bên trong có chứa chất lỏng bên trên có vải cao khoảng 23cm có dòng chữ Bia Việt đường kính đáy 06cm có đường kính miệng chai khoảng 03cm; 01 cây dao bấm dài khoảng 12cm lưỡi dao 5,5cm, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
  • 01 cây súng màu đen, cán súng màu xanh có chữ ZP-5 bên trong hộp tiếp đạn có 02 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng; 01 cây súng màu trắng có chữ “Sky Marshal” trên nòng súng; 01 cây súng màu đen, cán súng màu nâu đen, có chữ “PENG SHENG” trên nòng súng, trong hộp tiếp đạn có 02 viên đạn bi màu vàng; 01 cây súng màu đen có chữ “MADE IN CHINA” trên nòng súng; 01 cây súng bằng kim

loại màu đen, cán màu nâu, số súng 20TH0049 bên trong ổ đạn còn 04 viên còn nguyên chưa sử dụng; 02 vỏ đạn; 05 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng dài khoảng 04cm; 06 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng dài khoảng 2,4cm; 01 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng dài khoảng 06cm; 01 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng dài khoảng 1,5cm; 10 vỏ đạn bằng nhựa màu vàng dài khoảng 04cm; 02 đầu đạn cao su màu đen; 01 vật có hình dạng bằng cây súng kim loại chiều dài đường kính khoảng 12,5cm, cán dài khoảng 8,5cm, giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo quy định tại Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017, sửa đổi, bổ sung năm 2019.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nhan Thành L: 17 (mười bảy) năm tù về tội “Giết người”.

Thời hạn tù tính từ ngày 26/5/2023.

Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 591 của Bộ luật Dân sự;

Buộc bị cáo Nhan Thành L bồi thường cho ông Nguyễn Thanh T số tiền 365.785.626 đồng (ba trăm sáu mươi lăm triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn sáu trăm hai mươi sáu đồng). Ghi nhận bị cáo Nhan Thành L đã bồi thường số tiền 7.000.000 đồng (theo Giấy nộp tiền ngày 30/01/2024 vào tài khoản số 3949.0.9059775.00000 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh mở tại Kho bạc Nhà nước Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh). Bị cáo còn phải bồi thường cho ông Nhan Thành L số tiền 358.785.626 đồng (ba trăm năm mươi tám triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn sáu trăm hai mươi sáu đồng).

Dành quyền khởi kiện cho ông Nguyễn Thanh T đối với số tiền còn lại bằng vụ kiện dân sự khác nếu có yêu cầu và có đủ tài liệu, chứng cứ theo quy định của pháp luật dân sự.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành các khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kim loại màu đen dạng hình tròn, trên thân cây có chữ BAT, dài khoảng 70cm, nhỏ nhất dài khoảng 3cm, lớn nhất dài khoảng 5cm; một số mảnh vỡ thủy tinh kích thước khoảng (4x2)cm; 01 giỏ xách màu nâu bên trong có: 05 chai thủy tinh bên trong có chứa chất lỏng bên trên có vải cao khoảng 23cm có dòng chữ Bia Việt đường kính đáy 06cm có đường kính miệng chai khoảng 03cm; 01 cây dao bấm dài khoảng 12cm lưỡi dao 5,5cm;
  • Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo quy định tại Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017, sửa đổi, bổ sung năm 2019: 01 cây súng màu đen, cán súng màu xanh có chữ ZP-5

bên trong hộp tiếp đạn có 02 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng; 01 cây súng màu trắng có chữ “Sky Marshal” trên nòng súng; 01 cây súng màu đen, cán súng màu nâu đen, có chữ “PENG SHENG” trên nòng súng, trong hộp tiếp đạn có 02 viên đạn bi màu vàng; 01 cây súng màu đen có chữ “MADE IN CHINA” trên nòng súng; 01 cây súng bằng kim loại màu đen, cán màu nâu, số súng 20TH0049 bên trong ổ đạn còn 04 viên còn nguyên chưa sử dụng; 02 vỏ đạn; 05 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng dài khoảng 04cm; 06 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng dài khoảng 2,4cm; 01 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng dài khoảng 06cm; 01 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng dài khoảng 1,5cm; 10 vỏ đạn bằng nhựa màu vàng dài khoảng 04cm; 02 đầu đạn cao su màu đen; 01 vật có hình dạng bằng cây súng kim loại chiều dài đường kính khoảng 12,5cm, cán dài khoảng 8,5cm.

(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/414 ngày 26/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.)

Bị cáo Nhan Thành L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 17.939.281 đồng (mười bảy triệu chín trăm ba mươi chín nghìn hai trăm tám mốt đồng) án phí dân sự sơ thẩm;

Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:
  • - TAND tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM; (3)
  • - Phòng PV06 - Công an TP.HCM; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Người tham gia tố tụng; (2)
  • - Trại giam; (1)
  • - Cục THA Dân sự TP.HCM; (1)
  • - THA Hình sự; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - Lưu, Tòa Hình sự, hồ sơ (23) (9)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 322/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội giết người

  • Số bản án: 322/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nhan Thành L phạm tội "Giết người"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger