|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 322/2024/HS-PT Ngày: 08 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Thị Hòa Hiệp |
| Các Thẩm phán: | Ông Ngô Đức Thọ |
| Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hà Thủy Tiên, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa trực tuyến xét xử công khai vụ án hình sự xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 180/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 318/2024/QĐXXPT-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Trần M. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2024/HS-ST ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
Phiên tòa được tiến hành tại 02 điểm cầu, điểm cầu trung tâm là Phòng xử án của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; điểm cầu thành phần là phòng xử của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
Tại điểm cầu trung tâm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Thị Hòa Hiệp |
| Các Thẩm phán: | Ông Ngô Đức Thọ |
| Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hà Thủy Tiên, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên. - Kiểm sát viên.
- Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo: Ông Đoàn Trọng N – Luật sư của Văn phòng luật sư Đoàn Trọng N thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Tại điểm cầu thành phần gồm có:
- Bị cáo kháng cáo:
Trần M (tự Trần Văn M1), sinh năm 1973 tại Bạc Liêu. Nơi đăng ký thường trú: ấp C, xã P, huyện G, tỉnh Bạc Liêu (nay là Khóm C, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu); nơi ở: ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 00/12 (biết đọc, biết viết); dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần B và bà Nguyễn Thị Q; có vợ và 04 con; tiền án, tiền sự; không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 22/3/2023 cho đến nay, (có mặt).
Trong vụ án còn có bị hại không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Xuất phát từ mâu thuẫn trong lúc đánh bài dẫn đến đánh nhau giữa ông Mai Văn L và một số đối tượng khác, đồng thời sau khi nghe ông Nguyễn Văn K kể lại sự việc ông Nguyễn Thành T2 bị ông Mai Văn L chém. Cho nên vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 10 tháng 02 năm 2002 bị cáo cùng với ông Nguyễn Văn P, ông Nguyễn Văn K, ông Lương H đến nhà của ông Mai Văn T3 thuộc ấp C, xã L, huyện G, tỉnh Bạc Liêu (nay là huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu).
Tại nhà ông Mai Văn L, bị cáo cùng những người đi chung kêu ông L ra nói chuyện nhưng ông L trốn trong nhà nên hai bên cự cãi qua lại.
Lúc này ông Mai Văn T3 (là cha ruột của ông L) cầm một cây sắt từ trong nhà đi ra đánh về phía bị cáo nhưng được ông K dùng tay đỡ, giữa ông T3 và ông K giằng co với nhau. Thấy vậy, bị cáo cầm đoạn cây gỗ trên tay xông đến đánh hai cái vào đầu ông T3, làm ông T3 bị ngất ngã xuống dưới ao nước. Bị cáo nghĩ ông T3 đã chết nên bỏ đi về nhà.
Tại giấy chứng nhận thương tích số 96/CN, ngày 20 tháng 02 năm 2002 của Bệnh viện Đ chứng nhận chuẩn đoán ông Mai Văn T3 như sau: máu tụ ngoài màng cứng + bể lún sọ đỉnh chẩm (T); phẫu thuật mở nắp sọ, lấy 60g máu tụ.
Tại Bản kết luận giám định Pháp y số 64/GĐ-PY, ngày 02 tháng 4 năm 2002 của Tổ chức giám định Pháp y – Pháp y tâm thần thuộc Sở Y tế tỉnh B kết luận đối với ông Mai Văn T3 như sau:
- - Liệt nửa người bên phải tỷ lệ 47% tạm thời;
- - Một sẹo mổ hình chữ “C” vùng thái dương đỉnh bên trái để lấy máu tụ ngoài màng cứng tỷ lệ 10% vĩnh viễn;
- - Tỷ lệ thương tích chung theo phương pháp cộng lùi 52%.
Tại Bản cáo trạng số 49/CT-VKS-P1 ngày 17 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo Trần M về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2024/HS-ST ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu quyết định:
Căn cứ: Điểm n khoản 1 Điều 93; Điều 18; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Tuyên xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần M phạm tội “Giết người”.
- Xử phạt bị cáo Trần M 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 22/3/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 23/01/2024, bị cáo Trần M có đơn kháng cáo yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Trần M giữ nguyên kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xét xử xét xử bị cáo về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999 là đúng người đúng tội. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được những tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho kháng cáo mình nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: không tranh luận về phần tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Trong quá trình điều tra xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại theo yêu
cầu của gia đình, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, mới phạm tội lần đầu. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự 2015 tuyên phạt bị cáo 12 năm tù. Tuy nhiên bị cáo vẫn muốn giảm nhẹ hình phạt dù đây là hình phạt mức đầu khung, nhưng so với những tình tiết giảm nhẹ trong hồ sơ và thực tế bị hại vẫn chưa mất nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 10/02/2002, tại nhà của ông Mai Văn T3 thuộc ấp C, xã L, huyện G, tỉnh Bạc Liêu (nay là huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu) bị cáo M đã có hành vi cầm đoạn cây gỗ trên tay xông đến đánh hai cái vào đầu ông T3, làm ông T3 bị ngất ngã xuống dưới ao nước. Theo kết luận giám định pháp y thì tỉ lệ thương tích của ông T3 là 52%.
Bị cáo cho rằng không có ý thức tước đi mạng sống của ông T3 nhưng hành vi bị cáo dùng khúc cây là hung khí nguy hiểm, đánh 02 cái vào đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể làm ông T3 ngã xuống ao, bị cáo không kéo bị hại lên mà tưởng ông T3 chết nên bỏ về, thể hiện ý thức tước đi mạng sống của bị hại, việc ông T3 không chết là nằm ngoài ý thức của bị cáo.
Do đó, hành vi của bị cáo đã bị Toà án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Giết người” theo quy định tại các điểm n khoản 1 Điều 93 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn, bị bắt theo lệnh truy nã; Tòa án cấp sơ thẩm cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường toàn bộ số tiền 30.000.000₫ mà đại diện của bị hại yêu cầu tại giai đoạn điều tra và được đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, tại phiên toà sơ thẩm bị cáo cũng đồng ý bồi thường thêm 10.000.000 đồng theo yêu cầu của gia đình bị hại, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên đã áp dụng điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 và khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu, mức án Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt cho bị cáo là phù hợp.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không trình bày được tình tiết mới để Hội đồng xét xử xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí:
Do Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo nên bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Căn cứ Điểm n khoản 1 Điều 93; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999, Khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Trần M 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/3/2023.
- Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần M theo quyết định của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hòa Hiệp |
Bản án số 322/2024/HS-PT ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (giết người)
- Số bản án: 322/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Căn cứ Điểm n khoản 1 Điều 93; điểm b, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999, Khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015. 1/ Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Minh, giữ nguyên bản án sơ thẩm. 2/ Xử phạt bị cáo Trần Minh 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/3/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Minh theo quyết định của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án. 3/ Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. 4/ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
