|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 322 /2024/DS-PT Ngày 13 - 6 - 2024 V/v tranh chấp “Quyền sử dụng đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Bình.
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Ánh Phương.
Bà Nguyễn Ái Đoan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trúc Hương – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 179/2024/TLPT-DS ngày 02/4/2024 về việc tranh chấp “Quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 96/2023/DS-ST ngày 04/12/2023 của Toà án nhân dân thị xã CL, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 223/2024/QĐ-PT ngày 09/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- 1. Anh Lưu Thanh N, sinh năm 1985.
- Địa chỉ: số A, N, Phường H, thành phố MT, tỉnh Tiền Giang.
- 2. Chị Lưu Kim N1, sinh năm 1984.
- Địa chỉ: số D, B, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn anh Lưu Thanh N, chị Lưu Kim N1: Ông Lưu Thành L, sinh năm 1962 (có mặt) (Theo văn bản ủy quyền ngày 28/3/2022 và 29/3/2022).
Địa chỉ: ấp Q, xã NQ, thị xã CL, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1969.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị đơn bà Vũ Thị H: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1967 (có mặt).
Cùng địa chỉ: ấp M, xã ML, huyện CL, tỉnh Tiền Giang.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Vũ Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo bản án sơ thẩm, ông Lưu Thành L – đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Lưu Thanh N và chị Lưu Kim N1 trình bày:
Ông là cha ruột của anh Lưu Thanh N và chị Lưu Kim N1. Ông đã làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho con ông là anh Lưu Thanh N diện tích 2.000m² thuộc thửa đất số 251, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp Q, xã NQ, thị xã CL, tỉnh Tiền Giang và chị Lưu Kim N1 diện tích 290,7m² thuộc thửa đất số 373, tờ bản đồ số 10 và diện tích 1.000m² thuộc thửa đất số 251, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp Q, xã NQ, thị xã CL, tỉnh Tiền Giang. Ông đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Vũ Thị H diện tích 141,0m² thuộc thửa đất số 374, tờ bản đồ số 10 và diện tích 4.555,2m² thuộc thửa đất số 67, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp Q, xã NQ, thị xã CL, tỉnh Tiền Giang giáp đất ông đã tặng cho con ông là anh Lưu Thanh N và chị Lưu Kim N1.
Theo sơ đồ cấp quyền sử dụng đất giữa đất ông đã tặng cho anh N, chị N1 và đất ông chuyển nhượng cho bà H là đường thẳng. Trong quá trình sử dụng đất bà Vũ Thị H tự làm hàng rào trụ xi măng lấn chiếm đất của con ông là anh Lưu Thanh N và chị Lưu Kim N1. Ông đã báo chính quyền địa phương là Ủy ban nhân dân xã NQ, thị xã CL, tỉnh Tiền Giang hòa giải nhưng bà H vẫn tự ý tiếp tục làm hàng rào trụ xi măng lấn chiếm không chịu trả đất, địa phương hòa giải không thành nên con ông làm đơn khởi kiện tại Tòa án. Khi Tòa án hòa giải, bà H và ông đều trình bày thống nhất đo đạc diện tích đất 02 bên, nếu bên nào lấn chiếm bao nhiêu thì trả lại diện tích đất lấn bấy nhiêu.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà H không đồng ý di dời hàng rào trả đất đã lấn chiếm. Ông đại diện theo ủy quyền của con ông là anh Lưu Thanh N và chị Lưu Kim N1 vẫn giữ ý kiến như trong đơn khởi kiện và bản tự khai yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Vũ Thị H di dời hàng rào trụ xi măng trả lại ông Lưu Thanh N và Lưu Kim N1 phần đất bà Vũ Thị H làm hàng rào lấn chiếm. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông yêu cầu bà H trả phần đất lấn chiếm của anh Lưu Thanh N diện tích đất 126,4m² ký hiệu T-7 và phần đất lấn chiếm đất của chị Lưu Kim N1 diện tích đất 97,3m² ký hiệu T-8, diện tích đất 60,7m² ký hiệu T-9 theo sơ đồ đo đạc thực tế ngày 05/9/2022 tại ấp Q, xã NQ, thị xã CL, tỉnh Tiền Giang.
* Bị đơn bà Vũ Thị H trình bày:
Bà có diện tích đất 4.555,2m² thuộc thửa số 67,tờ bản đồ số 10 và diện tích đất 141,0m² thuộc thửa đất số 374, tờ bản đồ số 10, nguồn gốc đất trước đây do bà nhận chuyển nhượng của ông Lưu Thành L tọa lạc tại ấp Q, xã NQ, thị xã CL, tỉnh Tiền Giang, bà đứng tên quyền sử dụng đất. Tại phiên hòa giải, bà và nguyên đơn anh Lưu Thanh N và chị Lưu Kim N1 ủy quyền ông Lưu Thành L có trình bày đồng ý đo đạc diện tích của 02 bên, nếu bên nào lấn chiếm bao nhiêu thì trả lại diện tích đất bấy nhiêu. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà không đồng ý trả đất theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Lưu Thanh N và chị Lưu Kim N1 vì bà không có lấn chiếm.
* Bản án dân sự sơ thẩm số 96/2023/DS-ST ngày 04/12/2023 của Toà án nhân dân thị xã CL, tỉnh Tiền Giang, đã căn cứ vào các Điều 100, 166 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lưu Thanh N và chị Lưu Kim N1.
- Buộc bà Vũ Thị H có nghĩa vụ di dời hàng rào trụ xi măng trả lại phần đất lấn chiếm cho anh Lưu Thanh N diện tích đất 126,4m² ký hiệu T-7 và trả lại phần đất lấn chiếm cho chị Lưu Kim N1 diện tích đất 97,3m² ký hiệu T-8, diện tích đất 60,7m² ký hiệu T- 9. Theo sơ đồ đo đạc ngày 05/9/2022, đất tọa lạc ấp Q, xã NQ, thị xã CL, tỉnh Tiền Giang, thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật. (Có sơ đồ kèm theo)
- Ghi nhận anh Lưu Thanh N và chị Lưu Kim N1 tự nguyện hỗ trợ chi phi di dời hàng rào trụ xi măng cho bà Vũ Thị H số tiền là 1.500.000 đồng, thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của đương sự.
* Ngày 06/12/2023 bị đơn bà Vũ Thị H có đơn kháng cáo yêu cầu: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Ông Nguyễn Văn D - đại diện theo ủy quyền của bà Vũ Thị H xác định: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Ông Lưu Thành L - đại diện theo ủy quyền của anh Lưu Thanh N và chị Lưu Kim N1 xác định: Không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bà H, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu:
- Về tố tụng: Kể từ ngày thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng tuân thủ đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Bản án sơ thẩm số 96/2023/DS-ST ngày 04/12/2023 của Toà án nhân dân thị xã CL, tỉnh Tiền Giang xét xử là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Bà Vũ Thị H kháng cáo nhưng không có cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới nên không được chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên và những quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét xác định mối quan hệ tranh chấp, thẩm quyền và áp dụng pháp luật trong việc giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật dân sự và tố tụng dân sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Vũ Thị H, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Qua xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc thực tế diện tích của các đương sự như sau:
[2.1]. Đất của anh Lưu Thanh N được cấp quyền sử dụng diện tích 2.000m² thuộc thửa đất số 251,tờ bản đồ số 10 tọa lạc tại ấp Q, xã NQ, thị xã CL, tỉnh Tiền Giang. Theo sơ đồ đo đạc thực tế ngày 05/9/2022, diện tích đất 1.863,1m² ký hiệu T-6 (anh N đang sử dụng) và diện tích đất 126,4m² ký hiệu T-7 (là phần đất tranh chấp) nếu cộng lại phần đất anh N đang sử dụng và phần đất tranh chấp, tổng cộng diện tích đất 1.989,5m² thì đất của anh N vẫn còn thiếu 10,5m².
[2.2] Đất của chị Lưu Kim N1 được cấp quyền sử dụng diện tích 290,7m² thuộc thửa đất số 373, tờ bản đồ số 10. Theo sơ đồ đo đạc thực tế ngày 05/9/2022, diện tích đất 230,0m² ký hiệu T- 4 (chị N1 đang sử dụng) và diện tích đất 60,7m² ký hiệu T-9 (là phần đất tranh chấp) nếu cộng lại phần đất chị N1 đang sử dụng và phần đất tranh chấp, tổng cộng diện tích đất 290,7m²; và diện tích 1.000m² thuộc thửa đất số 251, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp Q, xã NQ, thị xã CL, tỉnh Tiền Giang. Theo sơ đồ đo đạc thực tế diện tích đất 903,0m² ký hiệu T-5 (chị N1 đang sử dụng) và diện tích đất 97,3m² ký hiệu T-8 (là phần đất tranh chấp) nếu cộng lại phần đất chị N1 đang sử dụng và phần đất tranh chấp, tổng cộng diện tích đất 1.000,3m² chỉ chênh lệch dư diện tích 0,3m² không lớn so với diện tích chị N1 được cấp quyền sử dụng.
[2.3] Đất của bà Vũ Thị H được cấp quyền sử dụng diện tích 141,0m² thuộc thửa đất số 374, tờ bản đồ số 10 và diện tích 4.555,2m² thuộc thửa đất số 67, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại ấp Q, xã NQ, thị xã CL, tỉnh Tiền Giang; tổng cộng bà H sử dụng diện tích 4.696,2m². Theo sơ đồ đo đạc thực tế ngày 05/9/2022, cả 02 thửa đất bà H đang sử dụng có diện tích đất 127,0m² ký hiệu T-10, diện tích đất 4.510,6m² ký hiệu T-11, diện tích đất 83,8m² ký hiệu T-12; tổng cộng bà H đang sử dụng diện tích đất 4.721,4m² chưa tính phần diện tích đất tranh chấp thì bà H đang sử dụng vẫn còn dư diện tích đất 24,8m².
[2.4] Như vậy đã đủ cơ sở xác định bà H tự ý làm hàng rào trụ xi măng lấn chiếm đất của các nguyên đơn. Bản án sơ thẩm chấp nhận khởi kiện của các nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật. Bà H kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới nên không được chấp nhận.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định trên nên được hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Những quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Vũ Thị H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Vũ Thị H.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm 96/2023/DS-ST ngày 04/12/2023 của Toà án nhân dân thị xã CL, tỉnh Tiền Giang.
Căn cứ vào các Điều 100,166 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lưu Thanh N và chị Lưu Kim N1.
- Ghi nhận anh Lưu Thanh N và chị Lưu Kim N1 tự nguyện hỗ trợ chi phi di dời hàng rào trụ xi măng cho bà Vũ Thị H số tiền là 1.500.000 đồng, thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Án phí dân sự phúc thẩm:
- Những quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Buộc bà Vũ Thị H có nghĩa vụ di dời hàng rào trụ xi măng trả lại phần đất lấn chiếm cho anh Lưu Thanh N diện tích đất 126,4m² ký hiệu T-7 và trả lại phần đất lấn chiếm cho chị Lưu Kim N1 diện tích đất 97,3m² ký hiệu T-8, diện tích đất 60,7m² ký hiệu T- 9. Theo sơ đồ đo đạc ngày 05/9/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn đo đạc Đông Hải, đất tọa lạc ấp Q, xã NQ, thị xã CL, tỉnh Tiền Giang, thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
(Có sơ đồ kèm theo thể hiện kích thước, hình thể tứ cận của phần diện tích đất buộc bà H giao trả).
Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh N, chị N1 chậm thực hiện nghĩa vụ giao tiền thì phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Bà Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
H1 lại anh Lưu Thanh N và chị Lưu Kim N1 số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002515 ngày 06/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã CL, tỉnh Tiền Giang.
Bà Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004585 ngày 12/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã CL, nên xem như bà đã thi hành xong phần án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thanh Bình |
Bản án số 322/2024/DS-PT ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp “quyền sử dụng đất”
- Số bản án: 322/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp “Quyền sử dụng đất”
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lưu Thanh N kiện Vũ Thị H tranh chấp “Quyền sử dụng đất”.
