|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH Bản án số: 322/2024/DS-PT Ngày: 18-7-2024 V/v: “Tranh chấp về thừa kế tài sản” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Sang.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Diệp;
Bà Đặng Thị Đồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Anh Thư- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bé Thi– Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 183/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 6 năm 2024, về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”; do Bản án dân sự sơ thẩm số: 46/2024/DS-ST, ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo và kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 268/2024/QĐ-PT ngày 19 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 65//2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 7 năm 2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị L, sinh năm: 1958; địa chỉ: Tổ E, ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Bị đơn: Bà Lê Thị C, sinh năm 1965; địa chỉ : Tổ G, ấp P, xã S, huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà C: Anh Nguyễn Phước L1, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Đỗ Thị N, sinh năm: 1953; địa chỉ: Tổ E, ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt
Người đại diện theo uỷ quyền của bà N: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1977; địa chỉ: Ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
+ Chị Đỗ Thị N1, sinh năm:1969, địa chỉ: Số A, tổ A, ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
+ Anh Đỗ Thanh H1, sinh năm 1974; Ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có ủy quyền.
+ Chị Đỗ Thị H2, sinh năm: 1977; địa chỉ: Ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có ủy quyền.
+ Anh Đỗ Thanh H3, sinh năm 1979; Ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có ủy quyền.
Người đại diện theo uỷ quyền của anh H1, chị H2, anh H3: Chị Đỗ Thị N1, sinh năm 1977; địa chỉ: Ấp N, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
+ Chị Đỗ Thị C1, sinh năm 1975; địa chỉ : Tổ G, ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
+ Anh Nguyễn Thành N2, sinh năm 1998; địa chỉ : Tổ G, ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có yêu cầu xét xử vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Thành P, sinh năm 1976; địa chỉ : Tổ G, ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có yêu cầu xét xử vắng mặt.
+ Anh Đỗ Phi D, sinh năm 1990; địa chỉ : Tổ G, ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
+ Anh Đỗ Hoàng H4, sinh năm 1994; địa chỉ : Tổ G, ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có ủy quyền.
+ Anh Đỗ Thanh P1, sinh năm 1997; địa chỉ : Tổ G, ấp P, xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có ủy quyền.
Người đại diện theo uỷ quyền của anh D, anh H4, anh P1: Anh Nguyễn Phước L1, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Người kháng cáo: Bà Đỗ Thị L là nguyên đơn; bà Lê Thị C là bị đơn; bà Đỗ Thị N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 07-4-2023, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đỗ Thị L trình bày:
Cha bà là cụ Đỗ Văn C2, sinh năm 1921, chết năm 1989 và mẹ bà là cụ Lâm Thị S, sinh năm 1922, chết năm 2015. Cụ C2, cụ S chung sống có 05 người con gồm: Ông Đỗ Văn H5, bà Đỗ Thị N, bà Đỗ Thị L là bà, bà Đỗ Thị N3 và ông Đỗ Tự D1.
Ông H5 chết năm 2014, có vợ Phan Thị Đ (chết năm 2013). Ông H5 có 04 người con tên Đỗ Thị Tuyết N4, Đỗ Thanh H1, Đỗ Thị H2, Đỗ Thanh H3. Bà Đỗ Thị N3 chết năm 1979, có 01 người con tên Đỗ Thị C1. Ông Đỗ Tự D1, chết năm 2019, có vợ là Lê Thị C, có 03 người tên: Đỗ Phi D, Đỗ Hoàng H4, Đỗ Thanh P1. Cụ S, cụ C2 không có con riêng và con nuôi.
Trong quá trình chung sống, cụ S và cụ C2 có tài sản chung là quyền sử dụng đất có diện tích 24.631,2m², trong đó có 18.380m² thuộc thửa số 239, 240, 241, tờ bản đồ số 30 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; phần đất còn lại chưa được cấp giấy gồm thửa 242 có diện tích 3.592,8m² và thửa 78 có diện tích 4.047,6m².
Khi còn khoẻ thì cụ C2, cụ S tự sản xuất và sinh sống. Khi lớn tuổi thì do cháu C1 con của bà N3 chăm sóc (bà N3 chết nên cháu C1 ở chung với cụ C2, cụ S). Khi cụ C2, cụ S bệnh thì gia đình cùng chăm sóc.
Cụ C2 và cụ S chưa chia đất cho các con, không để lại di chúc. Nay bà đề nghị Toà án chia thừa kế của cụ C2, cụ S theo quy định pháp luật. Bà yêu cầu được nhận đất. Tại phiên toà, bà L cho rằng diện tích 24.631,2m² là của riêng cụ S không phải của cụ C2 và cụ S.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lê Thị C và người đại diện theo ủy quyền của bà C là ông Nguyễn Phước L1 trình bày:
Bà C là vợ ông Đỗ Tự D1 (ông D1 chết năm 2019) là con dâu của cụ C2, cụ S. Bà C thống nhất về quan hệ huyết thống, diện tích, vị trí phần đất trên là của cụ C2, cụ S như nguyên đơn trình bày. Riêng phần đất thửa 78 tập đoàn cấp cho ông D1 khoảng năm 1987, không có giấy tờ chứng minh. Ngoài ra trong phần đất do cụ S đứng tên (thửa 239), khi còn sống khoảng năm 2009, cụ S chuyển nhượng cho ông Trần Văn P2 0,5ha, sau đó ông D1, bà C chuộc lại nên thửa đất này của ông D1, bà C. Các thửa còn lại là của cụ C2, cụ S. Theo ý nguyện của cụ C2, cụ S là để cho ông Do phần đất trên nhưng các con của cụ C2, cụ S không đồng ý nên không làm giấy sang tên cho ông D1 được. Nay bà L khởi kiện chia thừa kế, bà C không đồng ý.
Khi ông D1 mới cưới bà C về thì vợ chồng bà C chung sống với cụ C2, cụ S. Khoảng năm 1988, cụ C2, cụ S cho vợ chồng bà C ở riêng. Năm 2007, vợ chồng bà C không ở nhà cũ mà cất nhà tại nhà cụ C2, cụ S và chung sống cho đến nay.
* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Đỗ Thị Tuyết N4 đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của anh Đỗ Thanh H1, chị Đỗ Thị H2, anh Đỗ Thanh H3, trình bày:
Cha của chị N4, anh H1, chị H2, anh H3 là ông Đỗ Văn H5, cha chị là con của cụ C2, cụ S; ông H5 chết năm 2014. Chị N4 thống nhất về quan hệ huyết thống, diện tích, vị trí như bà L trình bày. Nguồn gốc phần đất là do cụ C2, cụ S khai phá từ năm 1975. Khi còn sống cụ C2, cụ S chưa chia đất cho các con và khi chết không để lại di chúc nên không có chuyện cụ C2, cụ S để lại đất cho ông D1, bà C như bà C trình bày. Năm 2016, ông D1 có đến nhà chị kêu chị em của chị ký tên để ông D1 vay tiền, chị không đồng ý ký tên. Đến năm 2021, ông D1 chết; sau đó bà C có đến kêu chị ký tên để sang tên cho bà C, bà C sẽ cho chị em chị mỗi người 50.000.000 đồng, nhưng chị em của chị không đồng ý, vì đất này là của cụ C2, cụ S. Ông bà của chị chết không để lại di chúc nên chị đề nghị Toà án chia di sản của cụ C2, cụ S theo quy định pháp luật. Chị em chị yêu cầu được nhận đất.
Khi còn sống, cụ C2, cụ S tự sản xuất và sinh sống cùng với em C1. Sau khi cụ Côn mất, chị C1 chăm lo cho cụ S. Khi cụ S bệnh thì các cô, chú, thiếm cùng chăm sóc cụ S.
* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bà Đỗ Thị N và người đại diện theo uỷ quyền của bà N là chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Bà Đỗ Thị N là con của cụ C2, cụ S. Bà N và chị H thống nhất về quan hệ huyết thống, nguồn gốc, diện tích, vị trí như bà L, chị N4 trình bày. Nguồn gốc phần đất là do cụ C2, cụ S và bà L khai phá từ năm 1975, lúc này ông D1 còn đi học. Khoảng năm 2021, ông D1 chết, bà C có đến kêu mẹ chị ký tên để sang tên cho bà C và bà C sẽ cho mẹ của chị 100.000.000 đồng, nhưng mẹ chị không đồng ý vì đất này là của cụ C2, cụ S. Ông bà của chị chết không để lại di chúc nên mẹ chị (bà N) đề nghị Toà án chia di sản của cụ C2, cụ S theo quy định pháp luật. Mẹ chị (bà N) yêu cầu được nhận đất.
Khi còn sống, cụ C2, cụ S tự sản xuất và sinh sống cùng với em C1. Sau khi cụ Côn mất, chị C1 chăm lo cho cụ S. Khi cụ S bệnh thì gia đình cùng chăm sóc.
* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đỗ Thị C1 trình bày:
Chị là con của bà Đỗ Thị N3, bà N3 là con của cụ C2, cụ S; mẹ chị chết năm 1979. Chị thống nhất về quan hệ huyết thống, nguồn gốc, diện tích, vị trí như bà L và chị N4 trình bày. Nguồn gốc phần đất là do cụ C2, cụ S và bà L khai phá từ năm 1975. Chị sinh sống trên phần đất này từ khi mẹ chị sinh ra, năm 1979 mẹ chị chết, chị chung sống với cụ C2 và cụ S, khi chị có chồng cụ S cho chị phần đất (một phần trong diện tích đang yêu cầu chia thừa kế) cất nhà ở cho đến nay. Chị yêu cầu được chia di sản của ông bà theo quy định pháp luật. Chị yêu cầu được nhận đất.
* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thành P trình bày:
Anh là chồng của chị C1, anh chung sống với chị C1 tại phần đất yêu cầu chia thừa kế. Anh không có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ kiện này vì đất này là của ông bà của vợ anh để lại.
* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thành N2 trình bày:
Anh là con của bà C1, mẹ anh có xây cho anh căn nhà trên phần đất đang yêu cầu chia thừa kế. Anh không có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ kiện này vì đất này là của ông bà anh để lại. Anh thống nhất ý kiến của mẹ anh.
* Quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh D, anh H4, anh P1 là anh Nguyễn Phước L1 trình bày:
Anh Dũng, anh H4, anh P1 thống nhất lời trình bày của bà C, không đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu của bà L và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 46/2024/DS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh (có sửa chữa, bổ sung) đã quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị L đối với tranh chấp di sản thừa kế của cụ Lâm Thị S.
- * Chia cho bà L phần đất có diện tích 2.462,4m², một phần thửa 239, có tứ cận:
- Hướng Đông giáp một phần thửa 239 dài 157,84m.
- Hướng Tây giáp thửa 274 dài 23,15 + 90,57 + 31,83m.
- Hướng Nam giáp thửa 275 dài 16,16m.
- Hướng Bắc giáp đường nhựa dài 18,78m
- * Chia cho bà N phần đất có diện tích 2.462,4m², một phần thửa 239, có tứ cận:
- Hướng Đông giáp một phần thửa 239 dài 169,26m.
- Hướng Tây giáp một phần thửa 239 dài 157,84m (chia cho bà L)
- Hướng Nam giáp thửa 275 dài 15,27m.
- Hướng Bắc giáp đường nhựa dài 15,77m + 1,61m
- * Chia cho chị Đỗ Thị Tuyết N4, anh Đỗ Thanh H1, chị Đỗ Thị H2, anh Đỗ Thanh H3 (con ông Đỗ Văn H5) phần đất có diện tích 2.462,4m², một phần thửa 239 và một phần thửa 240, có tứ cận:
- Hướng Đông giáp một phần thửa 240 dài 179,96m.
- Hướng Tây giáp một phần thửa 239, một phần thửa 240, dài 169,26m (chia cho bà N)
- Hướng Nam giáp thửa 275, 276, dài 14,35m.
- Hướng Bắc giáp đường nhựa dài 2,32 + 13,90m
- * Chia cho chị Đỗ Thị C1 (con bà Đỗ Thị N3) phần đất có diện tích 2.462,4m², một phần thửa 240, có tứ cận:
- Hướng Đông giáp một phần thửa 240 dài 190,16m.
- Hướng Tây giáp một phần thửa 240, dài 179,96m (chia cho chị Đỗ Thị Tuyết N4, anh Đỗ Thanh H1, chị Đỗ Thị H2, anh Đỗ Thanh H3)
- Hướng Nam giáp thửa 276, dài 13,25m.
- Hướng Bắc giáp đường nhựa dài 15,67m
- * Chia cho bà Lê Thị C, anh Đỗ Phi D, anh Đỗ Hoàng H4, anh Đỗ Thanh P1 (vợ và con ông Đỗ Tự D1) phần đất có diện tích 2.462,4m², một phần thửa 240, có tứ cận:
- Hướng Đông giáp một phần thửa 242 dài 58,64m; giáp thửa 240 dài 86,68; giáp thửa 241 dài 57,37m.
- Hướng Tây giáp một phần thửa 240 dài 190,16m (chia cho chị C1)
- Hướng Nam giáp thửa 276, dài 6,74m; thửa 241 dài 2,63m
- Hướng Bắc giáp đường nhựa dài 20,10m;
- * Chia cho bà L phần đất có diện tích 2.462,4m², một phần thửa 239, có tứ cận:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị L đối với tranh chấp di sản thừa kế của cụ Đỗ Văn C2.
- * Giao cho chị Đỗ Thị C1 (con bà Đỗ Thị N3) phần đất có diện tích 681,9m² (có 147m² là đất thổ cư), một phần thửa 241, có tứ cận:
- Hướng Đông giáp một phần thửa 241 (chừa làm đường đi chung cho gia đình bà C và gia đình chị C1) dài 16,63m.
- Hướng Tây giáp thửa 276 dài 19,32m.
- Hướng Nam giáp thửa 278 dài 3,84 + 8,49m + 9,33m + 17,79m.
- Hướng Bắc giáp một phần thửa 241 dài 41,75m.
- * Giao cho bà Lê Thị C, anh Đỗ Phi D, anh Đỗ Hoàng H4, anh Đỗ Thanh P1.
Phần đất có diện tích 3.872,5m² (có 253m² là đất thổ cư), gồm một phần thửa 241 diện tích 1.059,8m² và một phần thửa 240 diện tích 2.812,7m²; có tứ cận:
- Hướng Đông một phần giáp thửa 242 dài 51,95m; một phần giáp thửa 240 dài 2,63m và một phần giáp thửa 98 dài 6,45m
- Hướng Tây giáp thửa 276 dài 15,64m.
- Hướng Nam một phần giáp thửa 241m dài 41,75m + 7,04m và một phần giáp thửa 98 dài 1,13m; 12,30m; 7,71m; 23,99m; 11,47m; 9,66m; 9,97m; 25,89m.
- Hướng Bắc giáp một phần thửa 240 dài 57,37m và 86,68m
- * Chừa phần đất làm con đường đi chung cho gia đình bà Lê Thị C và gia đình chị Đỗ Thị C1, phần đất có diện tích 117,6m², có tứ cận:
- Hướng Đông giáp thửa 98 dài 17,09m..
- Hướng Tây giáp một phần thửa 241 dài 16,63m.
- Hướng Nam giáp thửa 278 dài 2,86m + 2,62 + 1,53m
- Hướng Bắc giáp một phần thửa 241 dài 7,04m.
- * Giao cho bà Lê Thị C, anh Đỗ Phi D, anh Đỗ Hoàng H4, anh Đỗ Thanh P1 phần đất có diện tích 3.592,8m2, thửa 242 (thửa 116 tờ 5b theo BĐ299) đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng; có tứ cận:
- Hướng Đông giáp thửa 90, dài 52,88m + 23,84m.
- Hướng Tây giáp thửa 240 dài 58,64m + 51,95m
- Hướng Nam một phần giáp thửa 97, 98 dài 33,56m
- Hướng Bắc giáp đường nhựa dài 43,38 + 6,93m.
- * Giao cho bà Lê Thị C, anh Đỗ Phi D, anh Đỗ Hoàng H4, anh Đỗ Thanh P1 phần đất có diện tích 4.047,6m², thửa 78 (thửa 36 tờ 5b theo BĐ299) đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng; có tứ cận:
- Hướng Đông giáp thửa 81, dài 30,91m.
- Hướng Tây giáp thửa 71 dài 12,95m, giáp thửa 75 dài 29,53m
- Hướng Nam giáp đường nhựa dài 42,73m + 11,30 + 22.89m +11,01m + 5,76 + 10,01m
- Hướng Bắc giáp thửa 76 dài 98,87m.
- * Giao cho chị Đỗ Thị C1 (con bà Đỗ Thị N3) phần đất có diện tích 681,9m² (có 147m² là đất thổ cư), một phần thửa 241, có tứ cận:
- Ghi nhận các đương sự thống nhất không tranh chấp cây cối trên đất, các cây trên đất của ai thì người đó được hưởng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 09-5-2024 bà Lê Thị C kháng cáo bản án sơ thẩm; yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, theo hướng chia lại kỷ phần thừa kế của cụ Lâm Thị S phải tính công sức bảo quản, giữ gìn di sản của gia đình bà bằng một kỷ phần thừa kế.
- Ngày 09-5-2024 bà Đỗ Thị L và bà Đỗ Thị N kháng cáo bản án sơ thẩm; yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, theo hướng chia toàn bộ tài sản tranh chấp, xác định toàn bộ di sản là của cụ S và chia cho các hàng thừa kế; tính lại giá trị đất tranh chấp vì có nhiều loại đất có giá khác nhau.
- Ngày 09-5-2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-DS; kháng nghị một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 46/2024/DS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, theo hướng tính lại giá trị di sản vì quyền sử dụng đất có loại đất ONT và loại đất khác có giá trị khác nhau và khi tính lại giá trị kỷ phần thừa kế cần điều chỉnh lại chi phí đo đạc, định giá cũng như phần án phí tương ứng với giá trị mỗi kỷ phần.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh giữ nguyên Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS-DS ngày 09-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
Nguyên đơn bà Đỗ Thị L, bị đơn bà Lê Thị C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa;
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà C; Chấp nhận một phần kháng cáo của bà L, bà N và chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu.
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; sửa bản án sơ thẩm số 46/2024/DS-ST ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về sự vắng mặt của đương sự: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Thanh H1, chị Đỗ Thị H2, anh Đỗ Thanh H3 vắng mặt có ủy quyền cho chị Đỗ Thị N4 tham gia phiên tòa; anh Đỗ Hoàng H4, anh Đỗ Thanh P1 vắng mặt có ủy quyền cho anh Nguyễn Phước L1 tham gia phiên tòa; anh Nguyễn Thành P và anh Nguyễn Thành N2 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên theo quy định của pháp luật.
[1.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09-5-2024 nguyên đơn bà Đỗ Thị L; bị đơn bà Lê Thị C; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị N có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Qua xem xét, Đơn kháng cáo của bà L, bà C, bà N trong thời hạn luật định và hợp pháp theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 09/5/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKS-DS; kháng nghị một phần bản án sơ thẩm. Xét thấy Quyết định kháng nghị đúng thời hạn theo quy định tại Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Trong quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều trình bày thống nhất về hàng thừa kế và di sản thừa kế do hai cụ Đỗ Văn C2 và Lâm Thị S tạo lập khi còn sống.
[2.1] Về hàng thừa kế: Cụ C2 và cụ S chung sống có 05 người con gồm: Ông Đỗ Văn H5 (đã chết năm 2014, có vợ Phan Thị Đ chết năm 2013, có 04 người con tên Đỗ Thị N4, Đỗ Thanh H1, Đỗ Thị H2, Đỗ Thanh H3); bà Đỗ Thị N, bà Đỗ Thị L, bà Đỗ Thị N3 (chết năm 1979, có 01 người con tên Đỗ Thị C1) và ông Đỗ Tự D1 (chết năm 2019; có vợ là bà Lê Thị C, có 03 người tên: Đỗ Phi D, Đỗ Hoàng H4, Đỗ Thanh P1). Cụ C2 và cụ S không có con riêng và con nuôi nào khác.
[2.2] Về di sản thừa kế: Quá trình chung sống, cụ Đỗ Văn C2 và cụ Lâm Thị S có tạo lập tài sản chung là quyền sử dụng đất có diện tích 18.380m² thuộc thửa số 239, 240, 241, tờ bản đồ số 30 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 02 thửa đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gồm thửa 242 có diện tích 3.592,8m² và thửa 78 có diện tích 4.047,6m²; toạ lạc tại xã S, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Trên thửa 241 có nhà bà C, nhà chị C1 và một số cây trái các bên đương sự không tranh chấp.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Nguyên đơn bà Đỗ Thị L, bị đơn bà Lê Thị C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị N đều giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Đỗ Thị L và bà Đỗ Thị N yêu cầu chia toàn bộ di sản của cụ C2, cụ S và xem xét lại giá trị di sản là quyền sử dụng đất, vì có nhiều loại đất khác nhau, giá trị khác nhau; Hội đồng xét xử nhận thấy:
[4.1] Về thời hiệu khởi kiện: Cụ C2 chết năm 1989, cụ S chết năm 2015. Nguyên đơn bà L khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế vào ngày 14/4/2023. Bị đơn bà C có đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu chia thừa kế đối với di sản của cụ C2.
Căn cứ khoản 2 Điều 149 về “Thời hiệu” và khoản 1 Điều 623 của Bộ luật Dân sự 2015 về “Thời hiệu thừa kế”, có quy định “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó...” nên thời hiệu yêu cầu chia thừa kế đối với di sản của cụ C2 đã hết; thời hiệu yêu cầu chia di sản của cụ S vẫn còn. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà L, về tranh chấp thừa kế tài sản của cụ C2 và chia thừa kế đối với phần di sản của cụ S là phù hợp và có căn cứ, đúng pháp luật.
Nên yêu cầu kháng cáo của bà L và bà N yêu cầu chia toàn bộ di sản của cụ C2, cụ S là không có căn cứ chấp nhận.
[4.2] Đối với yêu cầu kháng cáo đề nghị xem xét lại giá trị di sản là quyền sử dụng đất khi chia, vì có nhiều loại đất khác nhau, giá trị khác nhau; thấy rằng:
Di sản cụ C2 và cụ S để lại là tổng diện tích đất 24.624,4m²; trong đó có 400m² đất thổ cư (ONT), còn lại là đất khác nên phần di sản của mỗi cụ phải có 200m² đất thổ cư. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm xác định di sản của cụ C2 có 400 m² đất thổ cư và giao cho những người đang quản lý di sản là bà C1, bà C cùng các con của bà C; di sản của cụ S không có đất thổ cư (mặc dù diện tích đất như nhau) và chia đều cho các đồng thừa kế, dẫn đến giá trị tài sản của cụ C2 và cụ S không bằng nhau. Bởi lẽ theo kết quả định giá thì đất thổ cư có giá 1.848.000 đồng /m², các loại đất khác có giá 680.150 đồng/ m².
Do đó, cần xác định lại giá trị di sản của cụ C2 và cụ S, để đảm bảo các đồng thừa kế khi được chia di sản đều có đất thổ cư, đồng thời chia thừa kế trên cơ sở giá trị tài sản thì mới đảm bảo quyền lợi của các bên đương sự.
Nên kháng cáo của bà L, bà N về việc xác định lại giá trị di sản khi chia là có căn cứ chấp nhận.
[5] Xét kháng cáo của bà Lê Thị C, yêu cầu được chia thêm giá trị 01 kỷ phần thừa kế của cụ S, vì đã có công bảo quản, gìn giữ di sản; thấy rằng:
Sinh thời, cụ C2 và cụ S có sống cùng với vợ chồng ông D1, bà C một thời gian ngắn. Sau đó, khoảng năm 1988 thì ông D1, bà C đã ra ở riêng. Khi cụ C2 và cụ S còn sống thì tự sản xuất, tạo thu nhập và tự chăm sóc nhau; khi bị bệnh thì các con, các cháu cùng nhau chăm sóc, lo lắng mà người trực tiếp sống chung nhà với cụ C2, cụ S là chị C1; chị C1 từ nhỏ đã sống cùng cụ C2, cụ S và đã chăm sóc cho cụ C2 và cụ S khi về già; khi các cụ qua đời thì tất cả các con, các cháu cùng lo tang tế; sau đó cùng giữ gìn di sản. Tất cả hàng thừa kế đều có công sức như nhau nên không thể tính công sức giữ gìn, bảo quản của bà C cùng các con bà C thêm một kỷ phần thừa kế. Hơn nữa do bà C và các con bà C đang quản lý di sản của cụ C2, nên đã được hưởng phần di sản của cụ C2 (phần hết thời hiệu chia thừa kế). Do đó, bà C kháng cáo yêu cầu xem xét chia thêm 01 kỷ phần thừa kế vì có công sức gìn giữ di sản là không có căn cứ chấp nhận.
[6] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, thấy rằng:
Theo các biên bản đo đạc, định giá tài sản thể hiện: Phần đất là di sản của cụ C2 và cụ S gồm các thửa: 239, 240, 241, 242 và thửa 78, có diện tích đo đạc thực tế 24.624,4m² (tại thửa 241 có 400 đất ONT) trị giá: 400m² đất ONT có giá 1.848.000 đồng/1m² và diện tích đất khác còn lại 24.224,4m² có giá 680.150 đồng/1m². Tổng di sản trị giá 17.215.425.660 đồng. Như vậy, giá trị di sản của cụ C2 và cụ S mỗi phần là 8.607.712.830 đồng; nếu chia theo diện tích thì mỗi phần di sản là 12.312,2m². Toà án cấp sơ thẩm chia đều bằng diện tích đất, nhưng lại giao 400m² đất ONT cho người quản lý di sản của cụ C2 là chị C1, bà C cùng các con bà C, dẫn đến việc chênh lệch giá trị di sản khi chia cho các hàng thừa kế, ảnh hưởng quyền lợi của các đồng thừa kế khác.
Do đó, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Huyện huyện Dương Minh Châu là có căn cứ chấp nhận.
[7] Di sản của cụ C2, cụ S là diện tích đất 24.624,4m² có tổng trị giá là 17.215.425.660 đồng; ½ di sản của cụ C2 là 8.607.712.830 đồng; ½ di sản của cụ S là 8.607.712.830 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm chia theo diện tích mỗi phần là 12.312,2 m² là đúng. Tuy nhiên, xét về giá trị quyền sử dụng đất thì không tương ứng, vì cấp sơ thẩm giao toàn bộ diện tích 400m² đất thổ cư ONT (tại thửa 241) cho bà C cùng các con bà C diện tích 253m² đất ONT và giao cho chị C1 diện tích 147m² đất ONT là có sự chênh lệnh về giá trị số tiền 467.140.000 đồng; chia đôi mỗi phần của cụ C2 và cụ S là 233.570.000 đồng.
Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã chia di sản bằng quyền sử dụng đất cho các đồng thừa kế và giao phần di sản hết thời hiệu cho những người đang quản lý; đã có sơ đồ bản vẽ cụ thể kèm theo bản án là phù hợp. Nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giữ nguyên cách chia hiện vật là quyền sử dụng đất của cấp sơ thẩm. Vì phần diện tích đất thổ cư nằm tại thửa 241 được giao cho bà C, các con bà C và chị C1, nên Tòa án cấp sơ thẩm giao quyền sử dụng đất có 400m² đất thổ cư là có căn cứ. Tuy nhiên, do giá trị di sản chênh lệnh khi chia nên bà C, các con bà C và chị C1 có trách nhiệm hoàn lại phần giá trị chênh lệch khi chia di sản của cụ S cho các đồng thừa kế khác theo đúng quy định của pháp luật.
[7.1] Bà C và các con bà C nhận phần diện tích đất thổ cư 253m² trị giá 467.544.000 đồng, chênh lệnh 147.149.100 đồng; nên có trách nhiệm hoàn lại cho các đồng thừa kế của cụ S số tiền là 147.149.100 đồng. Chị C1 nhận phần diện tích đất thổ cư 147m² trị giá 271.656.000 đồng, chênh lệch 86.420.900 đồng; nên có trách nhiệm hoàn lại cho các đồng thừa kế của cụ S số tiền 86.420.900 đồng.
[7.2] Các đồng thừa kế của cụ S có 05 người (bà L; bà N; các con ông H5; con bà N3 và các con ông D1); mỗi phần thừa kế được hưởng thêm số tiền 46.714.000 đồng do bà C cùng các con bà C và chị C1 giao lại; cụ thể:
- Bà C, anh D, anh H4, anh P1 được hưởng số tiền 46.714.000 đồng; đồng thời có trách nhiệm giao cho: Bà L số tiền 46.714.000 đồng; giao cho bà N số tiền 46.714.000 đồng và giao cho chị N4, anh H1, chị H2, anh H3 số tiền 7.007.100 đồng.
- Chị C1 được hưởng số tiền 46.714.000 đồng; đồng thời có trách nhiệm giao cho chị N4, anh H1, chị H2, anh H3 số tiền 39.706.900 đồng.
[8] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà C; có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bà L, bà N và có căn cứ chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Sửa bản án sơ thẩm theo hướng đã nhận định nêu trên.
[9] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên có căn cứ chấp nhận.
[10] Chi phí tố tụng khác: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 157 và Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự phải chịu chi phí tố tụng khác nếu yêu cầu không được Tòa án chấp nhận và Các đương sự phải chịu chi phí tố tụng tương ứng với tỷ lệ giá trị phần tài sản được chia.
[11] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Các đương sự phải án phí sơ thẩm tương ứng với giá trị tài sản được chia theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà L, bà N là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn tiền án phí theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
[12] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Căn cứ khoản 3 Điều 29 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bà C kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí. Bà L, bà N là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự
- - Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị C
- - Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Đỗ Thị L, bà Đỗ Thị N
- - Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 46/2024/DS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
Tuyên xử:
Căn cứ khoản 2 Điều 149; điểm e khoản 1 Điều 217; Điều 623; Điều 649, 650, 651, 652, Điều 660 của Bộ luật dân sự năm 2015; Pháp lệnh thừa kế năm 1990; Nghị quyết số 02/HĐTP, ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị L đối với tranh chấp di sản thừa kế của cụ Lâm Thị S.
- * Chia cho bà L phần đất có diện tích 2.462,4m², một phần thửa 239, có tứ cận:
- Hướng Đông giáp một phần thửa 239 dài 157,84m.
- Hướng Tây giáp thửa 274 dài 23,15 + 90,57 + 31,83m.
- Hướng Nam giáp thửa 275 dài 16,16m.
- Hướng Bắc giáp đường nhựa dài 18,78m
- * Chia cho bà N phần đất có diện tích 2.462,4m², một phần thửa 239, có tứ cận:
- Hướng Đông giáp một phần thửa 239 dài 169,26m.
- Hướng Tây giáp một phần thửa 239 dài 157,84m (chia cho bà L)
- Hướng Nam giáp thửa 275 dài 15,27m.
- Hướng Bắc giáp đường nhựa dài 15,77m + 1,61m
- * Chia cho chị Đỗ Thị N4, anh Đỗ Thanh H1, chị Đỗ Thị H2, anh Đỗ Thanh H3 (con ông Đỗ Văn H5) phần đất có diện tích 2.462,4m², một phần thửa 239 và một phần thửa 240, có tứ cận:
- Hướng Đông giáp một phần thửa 240 dài 179,96m.
- Hướng Tây giáp một phần thửa 239, một phần thửa 240, dài 169,26m (chia cho bà N)
- Hướng Nam giáp thửa 275, 276, dài 14,35m.
- Hướng Bắc giáp đường nhựa dài 2,32 + 13,90m
- * Chia cho chị Đỗ Thị C1 (con bà Đỗ Thị N3) phần đất có diện tích 2.462,4m², một phần thửa 240, có tứ cận:
- Hướng Đông giáp một phần thửa 240 dài 190,16m.
- Hướng Tây giáp một phần thửa 240, dài 179,96m (chia cho chị Đỗ Thị N4, anh Đỗ Thanh H1, chị Đỗ Thị H2, anh Đỗ Thanh H3)
- Hướng Nam giáp thửa 276, dài 13,25m.
- Hướng Bắc giáp đường nhựa dài 15,67m
- * Chia cho bà Lê Thị C, anh Đỗ Phi D, anh Đỗ Hoàng H4, anh Đỗ Thanh P1 (vợ và con ông Đỗ Tự D1) phần đất có diện tích 2.462,4m², một phần thửa 240, có tứ cận:
- Hướng Đông giáp một phần thửa 242 dài 58,64m; giáp thửa 240 dài 86,68; giáp thửa 241 dài 57,37m.
- Hướng Tây giáp một phần thửa 240 dài 190,16m (chia cho chị C1)
- Hướng Nam giáp thửa 276, dài 6,74m; thửa 241 dài 2,63m
- Hướng Bắc giáp đường nhựa dài 20,10m;
- * Chia cho bà L phần đất có diện tích 2.462,4m², một phần thửa 239, có tứ cận:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị L đối với yêu cầu tranh chấp di sản thừa kế của cụ Đỗ Văn C2.
- * Giao cho chị Đỗ Thị C1 (con bà Đỗ Thị N3) phần đất có diện tích 681,9m² (có 147m² là đất thổ cư), một phần thửa 241, có tứ cận:
- Hướng Đông giáp một phần thửa 241 (chừa làm đường đi chung cho gia đình bà C và gia đình chị C1) dài 16,63m.
- Hướng Tây giáp thửa 276 dài 19,32m.
- Hướng Nam giáp thửa 278 dài 3,84 + 8,49m + 9,33m + 17,79m.
- Hướng Bắc giáp một phần thửa 241 dài 41,75m.
- * Giao cho bà Lê Thị C, anh Đỗ Phi D, anh Đỗ Hoàng H4, anh Đỗ Thanh P1.
Phần đất có diện tích 3.872,5m² (có 253m² là đất thổ cư), gồm một phần thửa 241 diện tích 1.059,8m² và một phần thửa 240 diện tích 2.812,7m²; có tứ cận:
- Hướng Đông một phần giáp thửa 242 dài 51,95m; một phần giáp thửa 240 dài 2,63m và một phần giáp thửa 98 dài 6,45m
- Hướng Tây giáp thửa 276 dài 15,64m.
- Hướng Nam một phần giáp thửa 241m dài 41,75m + 7,04m và một phần giáp thửa 98 dài 1,13m; 12,30m; 7,71m; 23,99m; 11,47m; 9,66m; 9,97m; 25,89m.
- Hướng Bắc giáp một phần thửa 240 dài 57,37m và 86,68m
- * Chừa phần đất làm con đường đi chung cho gia đình bà Lê Thị C và gia đình chị Đỗ Thị C1 tại một phần thửa 241, diện tích 117,6m², có tứ cận:
- Hướng Đông giáp thửa 98 dài 17,09m..
- Hướng Tây giáp một phần thửa 241 dài 16,63m.
- Hướng Nam giáp thửa 278 dài 2,86m + 2,62 + 1,53m
- Hướng Bắc giáp một phần thửa 241 dài 7,04m.
- * Giao cho bà Lê Thị C, anh Đỗ Phi D, anh Đỗ Hoàng H4, anh Đỗ Thanh P1 phần đất có diện tích 3.592,8m², thửa 242 (thửa 116 tờ 5b theo BĐ299) đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng; có tứ cận:
- Hướng Đông giáp thửa 90, dài 52,88m + 23,84m.
- Hướng Tây giáp thửa 240 dài 58,64m + 51,95m
- Hướng Nam một phần giáp thửa 97, 98 dài 33,56m
- Hướng Bắc giáp đường nhựa dài 43,38 + 6,93m.
- * Giao cho bà Lê Thị C, anh Đỗ Phi D, anh Đỗ Hoàng H4, anh Đỗ Thanh P1 phần đất có diện tích 4.047,6m², thửa 78 (thửa 36 tờ 5b theo BĐ299) đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng; có tứ cận:
- Hướng Đông giáp thửa 81, dài 30,91m.
- Hướng Tây giáp thửa 71 dài 12,95m, giáp thửa 75 dài 29,53m
- Hướng Nam giáp đường nhựa dài 42,73m + 11,30 + 22.89m +11,01m + 5,76 + 10,01m
- Hướng Bắc giáp thửa 76 dài 98,87m.
Tất cả các phần diện tích đất được chia và giao có sơ đồ kèm theo bản án.
Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án, thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
- * Giao cho chị Đỗ Thị C1 (con bà Đỗ Thị N3) phần đất có diện tích 681,9m² (có 147m² là đất thổ cư), một phần thửa 241, có tứ cận:
- Ghi nhận các đương sự thống nhất không tranh chấp cây trái, tài sản trên đất; cây trên đất của ai thì người đó được hưởng.
- Hoàn lại giá trị chênh lệch khi chia di sản:
- 4.1 Bà Lê Thị C, anh Đỗ Phi D, anh Đỗ Hoàng H4, anh Đỗ Thanh P1 được hưởng số tiền 46.714.000 (bốn mươi sáu triệu bảy trăm mười bốn nghìn) đồng; đồng thời có trách nhiệm giao cho: Bà Đỗ Thị L số tiền 46.714.000 (bốn mươi sáu triệu bảy trăm mười bốn nghìn) đồng; giao cho bà Đỗ Thị N số tiền 46.714.000 (bốn mươi sáu triệu bảy trăm mười bốn nghìn) đồng và giao cho chị Đỗ Thị N4, anh Đỗ Thanh H1, chị Đỗ Thị H2, anh Đỗ Thanh H3 số tiền 7.007.100 (bảy triệu không trăm lẻ bảy nghìn một trăm) đồng.
- 4.2 Chị Đỗ Thị C1 được hưởng số tiền 46.714.000 (bốn mươi sáu triệu bảy trăm mười bốn nghìn) đồng; đồng thời có trách nhiệm giao cho chị Đỗ Thị N4, anh Đỗ Thanh H1, chị Đỗ Thị H2, anh Đỗ Thanh H3 số tiền 39.706.900 (ba mươi chín triệu bảy trăm lẻ sáu nghìn chín trăm) đồng.
- Về chi phí tố tụng khác: Tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; đo đạc, định giá là 18.600.000 đồng. Bà Đỗ Thị L đã nộp tạm ứng số tiền 18.600.000 đồng và đã chi xong. Bà L được chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện nên phải chịu 9.300.000 đồng và các đồng thừa kế có trách nhiệm thanh toán lại cho bà L số tiền 9.300.000 đồng. Cụ thể:
- - Bà N có trách nhiệm trả cho bà L số tiền 2.325.000 (hai triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn) đồng.
- - Chị N4, anh H1, chị H2, anh H3 có trách nhiệm trả cho bà L số tiền 2.325.000 (hai triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn) đồng.
- - Chị C1 có trách nhiệm trả cho bà L số tiền 2.325.000 (hai triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn) đồng.
- - Bà C, anh D, anh H4, anh P1 có trách nhiệm trả cho bà L số tiền 2.325.000 (hai triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Án phí sơ thẩm dân sự:
- - Bà Đỗ Thị L, bà Đỗ Thị N được miễn toàn bộ án phí.
- - Chị Đỗ Thị Tuyết N4, anh Đỗ Thanh H1, chị Đỗ Thị H2, anh Đỗ Thanh H3 phải chịu 63.645.000 (sáu mươi ba triệu sáu trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Chị Đỗ Thị C1 phải chịu 63.645.000 (sáu mươi ba triệu sáu trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Bà Lê Thị C, anh Đỗ Phi D, anh Đỗ Hoàng H4, anh Đỗ Thanh P1 phải chịu 63.645.000 (sáu mươi ba triệu sáu trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
- - Bà L, bà N được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
- - Bà C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng bà C đã nộp theo Biên lai thu số 0007698 ngày 09-5-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Giá trị tài sản chênh lệch khi chia đất thổ cư (ONT) cho chị C1 và bà C cùng các con bà C là 233.570.000 đồng. Nên bà Đỗ Thị L; bà Đỗ Thị N; các con của ông Đỗ Văn H5 (chị N4, anh H1, chị H2, anh H3); con bà Đỗ Thị N3 (chị Đỗ Thị C1) và các con của ông Đỗ Tự D1 (anh D, anh H4, anh P1); mỗi phần thừa kế được hưởng số tiền 46.714.000 (bốn mươi sáu triệu bảy trăm mười bốn nghìn) đồng do bà C, các con bà C và chị C1 thanh toán lại. Cụ thể:
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Sang |
Bản án số 322/2024/DS-PT ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 322/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị L - Lê Thị C
