Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Số: 3214/2024/DS-ST

Ngày: 18/7/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hương
  2. Ông Huỳnh Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Giang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Võ Cao Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã xét xử công khai vụ án thụ lý số 1218/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3942/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 4629/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam)
    Địa chỉ: Số I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lâm Thị Thùy D, sinh năm: 2000 (Giấy ủy quyền lập ngày 03/10/2023) (Vắng mặt).
  2. Bị đơn: Bà Phạm Nguyễn Xuân T, sinh ngày 15/5/1999
    CMND số: [...]
    Địa chỉ: Số F Đường D, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
    (vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/7/2023 và lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Lâm Thị Thùy D tại bản tự khai và các biên bản hòa giải:

Công ty T1 (Việt Nam) (Từ sau đây viết tắt là: “Công ty T1”) và bà Phạm Nguyễn Xuân T có ký Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3944372 ngày 14/11/2022 kèm theo Bản điều khoản và điều kiện cho vay (Sau đây ghi tắt là “Hợp đồng”) về việc cấp tín dụng cho bà T với nội dung như sau:

  • - Số tiền vay: 26.925.000 đồng, bao gồm số tiền giải ngân là 25.000.000 đồng và 1.925.000 đồng phí bảo hiểm;
  • - Thời hạn vay: Từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 01/10/2025;
  • - Lãi suất: 48%/năm (Từ kỳ thanh toán thứ 01 đến kỳ thứ 30), mức lãi suất là 0% (từ kỳ thanh toán thứ 31 đến kỳ thứ 36);
  • - Ngày thanh toán: Ngày 01 dương lịch hàng tháng.

Nguyên đơn đã giải ngân 25.000.000 đồng theo theo Phiếu báo nợ ngày 15/11/2022 vào tài khoản số [...] cho bà Phạm Nguyễn Xuân T mở tại Ngân hàng Q (V).

Kể từ ngày được giải ngân đến nay bà Phạm Nguyễn Xuân T chỉ mới thanh toán cho Công ty được 2 kỳ với số tiền là 2.880.213 đồng (Theo báo cáo lịch sử thanh toán). Trong đó số tiền gốc đã thanh toán là: 1.222.953 đồng; Số tiền lãi đã thanh toán là: 1.629.247 đồng; Số tiền phí đã thanh toán là 24.000 đồng; Số tiền lãi chậm trả đã thanh toán là 4.013 đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà T đã không thanh toán nợ kể từ ngày 06/01/2023 cho đến nay, như vậy bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Căn cứ Điều 11 Bản điều khoản và điều kiện cho vay, nguyên đơn được quyền đơn phương chấm dứt cho vay và thu hồi toàn bộ khoản nợ trước hạn.

Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chấm dứt Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3944372 ngày 14/11/2022 trước thời hạn và yêu cầu bà T thanh toán các khoản nợ Tạm tính đến ngày 18/7/2024 tổng số tiền gốc và lãi của Bà Phạm Nguyễn Xuân T cần phải thanh toán là: 47.306.991 đồng.

Trong đó:

  • - Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 25.702.047 đồng.
  • - Số tiền lãi trong hạn: 15.445.016 đồng.
  • - Số tiền lãi quá hạn: 4.906.845 đồng.
  • - Số tiền lãi chậm trả: 1.253.083 đồng.

Yêu cầu thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Bà T còn phải chịu tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 19/7/2024 cho đến khi hoàn tất việc thanh toán toàn bộ khoản vay theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng vay. Án phí do bà T chịu.

* Bị đơn – Bà Phạm Nguyễn Xuân T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, giấy triệu tập để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng bà T vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa,

Đại diện của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nhưng có bản trình bày ý kiến vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện trong đơn khởi kiện và không bổ sung chứng cứ nào khác, yêu cầu chấm dứt Hợp đồng trước thời hạn và yêu cầu Tòa án buộc bị đơn, bà Phạm Nguyễn Xuân T phải trả số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/7/2024 là: 47.306.991 đồng, Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 25.702.047 đồng; Số tiền lãi trong hạn: 15.445.016 đồng; Số tiền lãi quá hạn: 4.906.845 đồng; Số tiền lãi chậm trả: 1.253.083 đồng. Yêu cầu thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 19/7/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi bà T hoàn tất việc thanh toán xong khoản vay. Bà T phải chịu tiền án phí.

* Đại diện Viện kiểm sát thành phố T tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Thẩm phán đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn quy định.

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong vụ án Nguyên đơn và đại diện nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 85, Điều 86 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay không thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 117 Bộ luật dân sự, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016, hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn và bị đơn có hiệu lực pháp luật. Bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ sau kỳ thanh toán ngày 06/01/2023 cho đến nay, nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chấm dứt Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3944372 ngày 14/11/2022 trước thời hạn và yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/7/2024 là: 47.306.991 đồng, Trong đó: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 25.702.047 đồng; Số tiền lãi trong hạn: 15.445.016 đồng; Số tiền lãi quá hạn: 4.906.845 đồng; Số tiền lãi chậm trả: 1.253.083 đồng. Yêu cầu thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 19/7/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi bà T hoàn tất việc thanh toán xong khoản vay là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản, căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Tại đơn khởi kiện nguyên đơn xác định địa chỉ cư trú của bị đơn bà Phạm Nguyễn Xuân T tại số S Đường D, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua kết quả xác minh tình trạng cư trú, công an phường T xác nhận bà Phạm Nguyễn Xuân T có hộ khẩu thường trú, cư trú tại số F Đường D, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng:

Tại phiếu xác minh tình trạng cư trú số 1218/TATPTĐ ngày 09/11/2023 của Tòa án Thủ Đức gửi công an phường T được kết quả “Đương sự Phạm Nguyễn Xuân T, sinh năm 1999 hộ khẩu thường trú tại Số F Đường D, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Cả gia đình bán nhà đi khỏi địa phương hiện nay không còn cư ngụ tại địa chỉ trên” tuy vậy tại Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 39 44 372 đề ngày 14/11/2022 bà Phạm Nguyễn Xuân T tự xác định chỗ ở hiện tại F Đường D, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Áp dụng Đa Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao có ghi “ Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú" trường hợp người bị kiện thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 điều 40, điểm b khoản 2 điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung”

Tòa án đã tiến hành niêm yết, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng có liên quan đến quá trình giải quyết vụ án, triệu tập hợp lệ bị đơn bà Phạm Nguyễn Xuân T đến Tòa để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử vụ án. Phiên tòa được mở lần thứ 02 nhưng bà Phạm Nguyễn Xuân T vẫn vắng mặt không có lý do. Việc bị đơn vắng mặt không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn bà Phạm Nguyễn Xuân T.

Nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về nội dung vụ án: Do xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn nên Hội đồng xét xử căn cứ những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết.

[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 yêu cầu chấm dứt Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3944372 ngày 14/11/2022 trước thời hạn.

Theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3944372 ngày 14/11/2022 kèm theo Bản điều khoản và điều kiện cho vay mà bà T đã ký có nội dung đề nghị Công ty T1 cho vay số tiền là 25.000.000 đồng, hình thức vay tín chấp. Nội dung cụ thể:

  • - Số tiền vay: 26.925.000 đồng, bao gồm số tiền giải ngân là 25.000.000 đồng và 1.925.000 đồng phí bảo hiểm;
  • - Thời hạn vay: Từ ngày tiếp theo giải ngân đến ngày 01/10/2025;
  • - Lãi suất: 48%/năm (Từ kỳ thanh toán thứ 01 đến kỳ thứ 30), mức lãi suất là 0% (từ kỳ thanh toán thứ 31 đến kỳ thứ 36);
  • - Kỳ thanh toán: Ngày 01 dương lịch hàng tháng.

Nội dung hợp đồng là phù hợp quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 13 thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 nên được pháp luật công nhận và có hiệu lực.

Thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã giải ngân 25.000.000 đồng theo phiếu báo nợ ngày 15/11/2022 vào tài khoản số [...] của bà T mở tại Ngân hàng Q (V). Theo bản tính lãi do nguyên đơn cung cấp, quá trình thực hiện Hợp đồng, bà T đã không thanh toán nợ kể từ kỳ thanh toán ngày 06/01/2023 cho đến nay, như vậy bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, do đó căn cứ vào Điều 11 Bản điều khoản và điều kiện cho vay, nguyên đơn đã đơn phương chấm dứt Hợp đồng là phù hợp với quy định tại Điều 20 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Quá trình tòa án giải quyết hồ sơ đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các chứng cứ có trong hồ sơ cũng như giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử đến nơi bà T cư trú nhưng bà T vẫn vắng mặt không báo lý do. Như vậy bị đơn không có ý kiến phản hồi về vụ án và tự từ bỏ quyền tranh tụng tại tòa để bảo vệ quyền lợi cho mình.

[3.2] Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty T1, yêu cầu bà Phạm Nguyễn Xuân T phải trả số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tạm tính đến ngày 18/07/2024 là: 47.306.991 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 19/07/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho đến khi bà T hoàn tất việc thanh toán xong khoản vay.

Do bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn đã thu hồi toàn bộ khoản nợ trước hạn, đồng thời chuyển toàn bộ dự nợ còn lại sang nợ quá hạn và tính lãi quá hạn theo đúng thỏa thuận tại Khoản 8.3 của Đề nghị vay và phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Khoản 4 Điều 13, khoản 5 Điều 14, Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn, buộc bà Phạm Nguyễn Xuân T phải trả số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/7/2024 tổng số tiền gốc và lãi của bà Phạm Nguyễn Xuân T cần phải thanh toán là: 47.306.991 đồng, Trong đó:

  • - Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 25.702.047 đồng.
  • - Số tiền lãi trong hạn: 15.445.016 đồng.
  • - Số tiền lãi quá hạn: 4.906.845 đồng.
  • - Số tiền lãi chậm trả: 1.253.083 đồng.

Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, Bà T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận tại Hợp đồng.

[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì bị đơn bà Phạm Nguyễn Xuân T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2,365,350đồng.

Công ty T1 (Việt Nam) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được trả lại số tiền tạm ứng án phí là 778.444 đồng (Bảy trăm bảy mươi tám nghìn, bốn trăm bốn mươi bốn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số AA/2023/0005236 ngày 02/10/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh lập.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 và điểm d khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
  • - Căn cứ Điều 13, 20, 21 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án;
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty T1 (Việt Nam).
  2. Chấm dứt Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3944372 ngày 14/11/2022 kèm theo Bản điều khoản và điều kiện cho vay trước thời hạn.

    Buộc bà Phạm Nguyễn Xuân T phải trả số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/07/2024 là: 47.306.991đ (bốn mươi bảy triệu, ba trăm linh sáu nghìn, chín trăm chín mươi mốt) đồng, Trong đó:

    • - Nợ gốc: 25.702.047 đồng.
    • - Nợ lãi trong hạn: 15.445.016 đồng.
    • - Nợ lãi quá hạn: 4.906.845 đồng.
    • - Số tiền lãi chậm trả: 1.253.083 đồng.

    Việc trả tiền thực hiện trực tiếp, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, dưới sự chứng kiến của cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  4. Án phí dân sự sơ thẩm là 2,365,350đ (hai triệu, ba trăm sáu mươi lăm nghìn, ba trăm năm mươi) đồng bà Phạm Nguyễn Xuân T phải chịu.

    Hoàn lại cho Công ty T1 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 778.444 đồng (Bảy trăm bảy mươi tám nghìn, bốn trăm bốn mươi bốn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí toà án số AA/2023/0005236 ngày 02/10/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh lập.

  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
  7. Công ty T1 (Việt Nam) và bà Phạm Nguyễn Xuân T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hòa

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - THA DS TP. Thủ Đức;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hòa

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3214/2024/DS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 3214/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger