Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 3213/2024/DS-ST

Ngày: 18/7/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hương
  2. Ông Huỳnh Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Giang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã xét xử công khai vụ án thụ lý số 21/2024/TLST-DS, ngày 03 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4048/2024/QĐXXST–DS ngày 11 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 4658/2024/QÐST–DS ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1).

Địa chỉ trụ sở: Số 89 Láng Hạ, phường Láng Hạ, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội

Địa chỉ liên lạc: Lầu 1, B Q, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo quỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh N (văn bản ủy quyền số 2937/6/2024/UNC/UQ-VPB ngày 27/3/2024) (vắng mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Viết K, sinh ngày 26/11/1977

CCCD: [...]

Địa chỉ thường trú: Số F L, L, L, Hải Phòng.

Địa chỉ cư trú: Căn hộ 601, Tầng G, Lô C, 4 ha (chung cư R, Khu dân cư tái định cư 38,4 ha), phường B, Quận B (nay là phường A, thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Bà Nguyễn Thị Thanh N tại bản tự khai và các biên bản hòa giải:

Ngân hàng TMCP V “V1” và ông Nguyễn Viết K có ký văn bản tín dụng vay vốn với nội dung như sau:

Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ký ngày 01/12/2021, V1 phê duyệt hạn mức, chấp thuận cho vay và giải ngân ngày 07/12/2021 vào tài khoản ông Nguyễn Viết K số [...] tại Ngân hàng TMCP V (V1), cụ thể như sau:

  • Số tiền vay: 200,000,000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm triệu đồng).
  • Thời hạn vay: 60 tháng.
  • Mục đích sử dụng vốn: Phục vụ nhu cầu đời sống.
  • Lãi suất: 18%/năm, biên độ điều chỉnh tối đa là: 10%.

Dư nợ thực tế tạm tính đến hết ngày 18/07/2024 theo hợp đồng cho vay trên là: 230,608,320 đồng (Bằng chữ: Hai trăm ba mươi triệu, sáu trăm linh tám nghìn, ba trăm hai mươi đồng) trong đó: Nợ gốc là 165,158,482 đồng và Nợ lãi là 65,449,838 đồng.

Tổng số tiền mà ông Nguyễn Viết K đã thanh toán tạm tính đến ngày 18/7/2024 là: 77,117,268 đồng (Bằng chữ Bảy mươi bảy triệu, một trăm mười bảy nghìn, hai trăm sáu mươi tám đồng) trong đó: Trả gốc: 34,841,518 đồng và Trả lãi: 42,275,750 đồng.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Viết K đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán kể từ ngày 05/04/2023 cho đến nay, như vậy ông K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, theo giao kết trong hợp đồng, nguyên đơn được quyền đơn phương chấm dứt cho vay và thu hồi toàn bộ khoản nợ trước hạn. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chấm dứt Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ông Nguyễn Viết K ký ngày 01/12/2021 trước thời hạn. Yêu cầu ông Nguyễn Viết K phải trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi theo hợp đồng nêu trên cho V1. Tạm tính đến ngày 18/7/2024 tổng cộng là: 230,608,320 đồng (Bằng chữ: Hai trăm ba mươi triệu sáu trăm linh tám nghìn ba trăm hai mươi đồng) trong đó: Nợ gốc là 165,158,482 đồng và Nợ lãi là 65,449,838 đồng. Ngoài ra, ông Nguyễn Viết K còn phải tiếp tục trả nợ lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận trong văn bản tín dụng nêu trên từ ngày 19/7/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ cho ngân hàng V1. Đồng thời yêu cầu ông Nguyễn Viết K phải chịu án phí và các chi phí liên quan (nếu có).

* Bị đơn – Ông Nguyễn Viết K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, giấy triệu tập để lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng ông K vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa,

Đại diện của nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nhưng có bản trình bày ý kiến vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện trong đơn khởi kiện và không bổ sung chứng cứ nào khác, yêu cầu chấm dứt Hợp đồng trước thời hạn và yêu cầu Tòa án buộc bị đơn, ông Nguyễn Viết K phải trả số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/7/2024 là: 230,608,320 đồng (Bằng chữ: Hai trăm ba mươi triệu, sáu trăm linh tám nghìn, ba trăm hai mươi đồng) trong đó: Nợ gốc là 165,158,482 đồng và Nợ lãi là 65,449,838 đồng. Ngoài ra, ông Nguyễn Viết K còn phải tiếp tục trả nợ lãi phát

sinh theo đúng thỏa thuận trong văn bản tín dụng nêu trên từ ngày 19/7/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ cho ngân hàng V1. Đồng thời yêu cầu ông Nguyễn Viết K phải chịu án phí và các chi phí liên quan (nếu có).

* Đại diện Viện kiểm sát thành phố T tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Thẩm phán đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn quy định.

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong vụ án Nguyên đơn và đại diện nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 85, Điều 86 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa đại diện ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Viết K vắng mặt nhưng đã được tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cũng như giấy triệu tập và quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa mà vẫn vắng mặt không báo lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về án phí sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V (V1) khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản, căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Tại đơn khởi kiện nguyên đơn xác định địa chỉ cư trú của bị đơn tại Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua kết quả xác minh tình trạng cư trú tại văn bản xác minh số 21/2/TATPTĐ ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức gửi công an phường A, thành phố T được kết quả “bị đơn ông Nguyễn Viết K có hộ khẩu thường trú và cư trú tại Căn hộ F, Tầng G, Lô C, 4 ha (chung cư R, Khu dân cư tái định cư 38,4 ha), phường B, Quận B (nay là phường A, thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh” Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T nên đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng:

Tại phiếu xác minh tình trạng cư trú số 21/2/TATPTĐ ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức gửi công an phường A, thành phố T được kết quả “Ông Nguyễn Viết K có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ Căn hộ F, Tầng G, Lô C, 4 ha (chung cư R, Khu dân cư tái định cư 38,4 ha), phường B, Quận B (nay là phường A, thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện không rõ ở đâu”. Tuy vậy tại Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ông Nguyễn Viết K ký ngày

01/12/2021 thì ông Nguyễn Viết K tự xác định chỗ ở hiện tại như trên. Áp dụng Đ a Khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao có ghi “ Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú" trường hợp người bị kiện thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 điều 40, điểm b khoản 2 điều 277 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung"

Tòa án đã tiến hành niêm yết, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng có liên quan đến quá trình giải quyết vụ án, triệu tập hợp lệ bị đơn ông Nguyễn Viết K đến Tòa để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử vụ án. Phiên tòa được mở lần thứ 02 nhưng ông Nguyễn Viết K vẫn vắng mặt không có lý do. Việc bị đơn vắng mặt không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn.

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP V (V1) có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về nội dung vụ án: Do xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn nên Hội đồng xét xử căn cứ những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chấm dứt Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ông Nguyễn Viết K ký ngày 01/12/2021 trước thời hạn. Yêu cầu ông Nguyễn Viết K phải trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi theo hợp đồng nêu trên cho V1. Tạm tính đến ngày 18/7/2024 tổng cộng là: 230,608,320 đồng (Bằng chữ: Hai trăm ba mươi triệu sáu trăm linh tám nghìn ba trăm hai mươi đồng) trong đó: Nợ gốc là 165,158,482 đồng và Nợ lãi là 65,449,838 đồng. Ngoài ra, ông Nguyễn Viết K còn phải tiếp tục trả nợ lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận trong văn bản tín dụng nêu trên từ ngày 19/7/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ cho ngân hàng V1. Đồng thời yêu cầu ông Nguyễn Viết K phải chịu án phí và các chi phí liên quan (nếu có).

Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ông Nguyễn Viết K ký ngày 01/12/2021. Nguyên đơn V1 đã phê duyệt hạn mức, chấp thuận cho vay giải ngân ngày 07/12/2021 vào tài khoản ông Nguyễn Viết K số [...] tại Ngân hàng TMCP V (V1), cụ thể như sau:

  • Số tiền vay: 200,000,000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm triệu đồng).
  • Thời hạn vay: 60 tháng.
  • Mục đích sử dụng vốn: Phục vụ nhu cầu đời sống.
  • Lãi suất: 18%/năm, biên độ điều chỉnh tối đa là: 10%.

Nội dung hợp đồng là phù hợp quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 13 thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 nên được pháp luật công nhận và có hiệu lực.

Thực hiện hợp đồng, V1 đã giải ngân số tiền 200,000,000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm triệu đồng) ngày 07/12/2021 vào tài khoản ông Nguyễn Viết K số [...] tại Ngân hàng TMCP V (V1), thể hiện chi tiết tại bảng kê lịch sử giao dịch của số tài khoản 192793987 của ông K.

Theo bản tính lãi do nguyên đơn cung cấp, quá trình thực hiện Hợp đồng, ông K đã không thanh toán nợ đúng giao kết, khoản vay đã quá hạn thanh toán kể từ ngày 05/04/2023 cho đến nay, như vậy ông K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, theo giao kết trong hợp đồng, nguyên đơn được quyền đơn phương chấm dứt cho vay và thu hồi toàn bộ khoản nợ trước hạn. Do đó căn cứ vào thỏa thuận trong hợp đồng cho vay, nguyên đơn đã đơn phương chấm dứt Hợp đồng là phù hợp với quy định tại Điều 20 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Do ông K vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn đã thu hồi toàn bộ khoản nợ trước hạn, đồng thời chuyển toàn bộ dự nợ còn lại sang nợ quá hạn và tính lãi quá hạn theo đúng thỏa thuận ông K đã ký là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Khoản 4 Điều 13, khoản 5 Điều 14, Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 nên có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc ông K phải trả số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/7/2024 tổng cộng là: 230,608,320 đồng (Bằng chữ: Hai trăm ba mươi triệu sáu trăm linh tám nghìn ba trăm hai mươi đồng) trong đó: Nợ gốc là 165,158,482 đồng và Nợ lãi là 65,449,838 đồng. Ngoài ra, ông Nguyễn Viết K còn phải tiếp tục trả nợ lãi phát sinh theo đúng thỏa thuận trong văn bản tín dụng nêu trên từ ngày 19/7/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ cho ngân hàng V1. Đồng thời yêu cầu ông Nguyễn Viết K phải chịu án phí và các chi phí liên quan (nếu có). Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 11,530,416đ (mười một triệu, năm trăm ba mươi nghìn, bốn trăm mười sáu đồng).

Ngân hàng TMCP V (V1) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được trả lại số tiền tạm ứng án phí là 4.668.864đ (bốn triệu, sau trăm sáu mươi tám nghìn, tám trăm sáu mươi bốn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0000267 ngày 29/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 và điểm d khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

- Căn cứ Điều 13, 20, 21 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V (V1),

Chấm dứt Giấy đăng ký kiêm hợp đồng cho vay không tài sản bảo đảm, mở và sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ông Nguyễn Viết K ký ngày 01/12/2021 trước thời hạn.

Buộc ông Nguyễn Viết K phải trả số tiền nợ tạm tính đến ngày 18/7/2024 tổng cộng là: 230,608,320 đồng (Bằng chữ: Hai trăm ba mươi triệu sáu trăm linh tám nghìn ba trăm hai mươi đồng) trong đó: Nợ gốc là 165,158,482 đồng và Nợ lãi là 65,449,838 đồng.

Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật dưới sự giám sát của Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Viết K phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 11,530,416đ (mười một triệu, năm trăm ba mươi nghìn, bốn trăm mười sáu đồng) Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

H lại cho Ngân hàng TMCP V (V1) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.668.864đ (bốn triệu, sau trăm sáu mươi tám nghìn, tám trăm sáu mươi bốn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0000267 ngày 29/12/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh lập.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Ngân hàng TMCP V (V1) và Ông Nguyễn Viết K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

được quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cần thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND TP. Thủ Đức;

- THA DS TP. Thủ Đức;

- TAND TP. Hồ Chí Minh;

- Các đương sự;

- Lưu.

Nguyễn Thị Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3213/2024/DS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 3213/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger