TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Số: 3211/2024/DS-STNgày: 18/7/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Hương
- Ông Huỳnh Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Giang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử công khai vụ án thụ lý số 1819/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3988/2024/QĐXXST–DS ngày 10 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 4630/2024/QÐST–DS ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S;
Địa chỉ trụ sở: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Nguyễn Minh T (Văn bản ủy quyền số 3246 lập ngày 26/9/2023). (vắng mặt) - Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Thu T1, sinh năm 1994;
CCCD số: [...]
Địa chỉ thường trú: Khu phố A, phường P, Thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Địa chỉ tạm trú: Số C Đường số D, Khu phố F, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: Căn hộ thuộc lốc S, Vinhomes G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có ông Nguyễn Minh T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 17/09/2018, bà Huỳnh Thị Thu T1 ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, kèm Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của ngân hàng). Căn cứ vào thu nhập của bà T1, ngày 20/09/2018 Ngân hàng TMCP S phát hành thẻ Visa Pay Wave Cre Classic số 472074-1736 cho bà T1 với hạn mức sử dụng là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn là 2,6%/tháng (lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp thẻ, bà T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 57,839,789 đồng (Năm mươi bảy triệu, tám trăm ba mươi chín nghìn, bảy trăm tám mươi chín đồng) và bà T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 60,944,683₫ (Sáu mươi triệu, chín trăm bốn mươi bốn nghìn, sáu trăm tám mươi ba đồng) sau đó ngừng không thanh toán nốt khoản tiền còn nợ. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bà T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Ngày 23/05/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 18/07/2024, bà T1 còn nợ Ngân hàng số tiền là 45,366,045₫ (Bốn mươi lăm triệu, ba trăm sáu mươi sáu nghìn, không trăm bốn mươi lăm đồng), bao gồm: Nợ gốc là 22,396,125đ (Hai mươi hai triệu, ba trăm chín mươi sáu nghìn, một trăm hai mươi lăm đồng); nợ Lãi quá hạn: 22,969,920₫ (Hai mươi hai triệu, chín trăm sáu mươi chín nghìn, chín trăm hai mươi đồng).
Nay, Ngân hàng TMCP S yêu cầu bà T1 thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền của hợp đồng nói trên tạm tính đến ngày 18/07/2024 là 45,366,045₫ (Bốn mươi lăm triệu, ba trăm sáu mươi sáu nghìn, không trăm bốn mươi lăm đồng), bao gồm: Nợ gốc là 22,396,125đ (Hai mươi hai triệu, ba trăm chín mươi sáu nghìn, một trăm hai mươi lăm đồng); nợ Lãi quá hạn: 22,969,920đ (Hai mươi hai triệu, chín trăm sáu mươi chín nghìn, chín trăm hai mươi đồng).
Đồng thời yêu cầu bà T1 trả tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo lãi suất quy định trong hợp đồng tính từ ngày 19/07/2024 đến khi thanh toán xong nợ. Thanh toán một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngân hàng yêu cầu một mình bà T1 thanh toán tiền nợ, không yêu cầu trách nhiệm liên đới trả nợ đối với chồng bà T1 (nếu có).
Bị đơn - Bà Huỳnh Thị Thu T1 vắng mặt trong suốt quá trình Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, vắng mặt trong quá trình xác minh, thu thập chứng cứ đến khi xét xử mặc dù toà án đã thực hiện các thủ tục tống đạt, niêm yết giấy triệu tập và các văn bản tố tụng trong vụ án hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát thành phố T trình bày quan điểm về giải quyết vụ án:
- Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhận định:
- Về tố tụng:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản, căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì bị đơn bà Huỳnh Thị Thu T1 có nơi cư trú tại thành phố T nên đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tòa án đã tiến hành niêm yết, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng có liên quan đến quá trình giải quyết vụ án, triệu tập hợp lệ bị đơn bà Huỳnh Thị Thu T1 đến Tòa để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử vụ án. Phiên tòa được mở lần thứ 02 nhưng bà T1 vẫn vắng mặt không có lý do. Việc bị đơn vắng mặt không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn bà Huỳnh Thị Thu T1.
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- Về nội dung:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu bị đơn bà Huỳnh Thị Thu T1 thanh toán tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 18/07/2024 của Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ký ngày 17/09/2018 là 45,366,045₫ (Bốn mươi lăm triệu, ba trăm sáu mươi sáu nghìn, không trăm bốn mươi lăm đồng), bao gồm: Nợ gốc là 22,396,125₫ (Hai mươi hai triệu, ba trăm chín mươi sáu nghìn, một trăm hai mươi lăm đồng); nợ Lãi quá hạn: 22,969,920đ (Hai mươi hai triệu, chín trăm sáu mươi chín nghìn, chín trăm hai mươi đồng) và tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo lãi suất quy định trong hợp đồng từ ngày 19/07/2024 đến khi thanh toán xong nợ. Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bà Huỳnh Thị Thu T1 ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S ngày 17/09/2018, bảng tóm tắt sao kê quá trình sử dụng thẻ tín dụng của bà T1 tính đến ngày 18/7/2024; căn cứ vào lời khai của nguyên đơn cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:
Ngày 20/09/2018 Ngân hàng TMCP S phát hành thẻ Visa Pay Wave Cre Classic số 472074-1736 cho bà T1 với hạn mức sử dụng là 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng), mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn là 2,6%/tháng (lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn).
Trong quá trình sử dụng thẻ, bà T1 đã thực hiện giao dịch với số tiền 57,839,789 đồng và bà T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 60,944,683 đồng; còn nợ tiền gốc là 22,396,125 đồng, nợ tiền lãi quá hạn tính đến ngày 18/7/2024 là 22,969,920 đồng.
Trong hợp đồng tín dụng các bên đã thỏa thuận thời hạn thanh toán nợ gốc và lãi, thỏa thuận về lãi suất theo biểu lãi suất của Ngân hàng, bị đơn không thanh toán tiền nợ gốc và lãi theo thời hạn đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ. Việc vi phạm của bị đơn trong một thời gian dài đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Xem xét yêu cầu trả tiền nợ gốc, tiền lãi suất của Ngân hàng là phù hợp thỏa thuận được quy định trong hợp đồng và phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 463; Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.
Tại phiếu xác minh tình trạng cư trú số 1819/1/TATPTĐ đề ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh gửi Công an phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh được kết quả: “Qua rà soát tòa S202 phát hiện công dân tên Huỳnh Thị Thu T1, sinh ngày 25/3/1994; CCCD số: [...], Địa chỉ thường trú: Khu phố A, phường P, Thành phố T, tỉnh Phú Yên mới đến cư trú tại căn hộ S Vinhomes G, E N, Khu phố B, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh” qua đó cho thấy tại thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết vụ án bị đơn bà Huỳnh Thị Thu T1 vẫn đang có mặt tại thành phố T. Quá trình tòa án giải quyết hồ sơ đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các chứng cứ có trong hồ sơ cũng như giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử đến nơi bà T1 cư trú nói trên, nhưng bà Huỳnh Thị Thu T1 vẫn vắng mặt không báo lý do. Như vậy bị đơn không có ý kiến phản hồi về vụ án và tự từ bỏ quyền tranh tụng tại tòa để bảo vệ quyền lợi cho mình.
Từ những nhận định trên và căn cứ vào lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, buộc bà Huỳnh Thị Thu T1 phải trả cho ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền tạm tính đến ngày 18/7/2024 của Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 17/09/2018 số thẻ 472074-1736 với tổng số tiền là 45,366,045₫ (Bốn mươi lăm triệu, ba trăm sáu mươi sáu nghìn, không trăm bốn mươi lăm đồng), bao gồm: Nợ gốc là 22,396,125đ (Hai mươi hai triệu, ba trăm chín mươi sáu nghìn, một trăm hai mươi lăm đồng); nợ Lãi quá hạn: 22,969,920đ (Hai mươi hai triệu, chín trăm sáu mươi chín nghìn, chín trăm hai mươi đồng) và tiền lãi phát sinh trên số dư nợ gốc theo lãi suất quy định trong hợp đồng tính từ ngày 19/07/2024 đến khi thanh toán xong nợ. Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Huỳnh Thị Thu T1 phải chịu án phí trên số tiền 45,366,045 đồng phải trả cho nguyên đơn. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 463; Điều 466; Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Buộc bà Huỳnh Thị Thu T1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền còn nợ tính đến ngày 18/7/2024 của Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 17/09/2018, số thẻ 472074-1736 với tổng số tiền là 45,366,045đ (Bốn mươi lăm triệu, ba trăm sáu mươi sáu nghìn, không trăm bốn mươi lăm đồng), bao gồm: Nợ gốc là 22,396,125₫ (Hai mươi hai triệu, ba trăm chín mươi sáu nghìn, một trăm hai mươi lăm đồng); nợ Lãi quá hạn: 22,969,920đ (Hai mươi hai triệu, chín trăm sáu mươi chín nghìn, chín trăm hai mươi đồng). Thanh toán làm một lần ngay sau khi khi bản án có hiệu lực pháp luật. Việc giao nhận tiền thực hiện trực tiếp, dưới sự giám sát của Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Án phí dân sự sơ thẩm là 2,268,302đ (hai triệu, hai trăm sáu mươi tám nghìn, ba trăm lẻ hai đồng) bà Huỳnh Thị Thu T1 phải chịu.
H lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp đã nộp là 910.694 đồng (Chín trăm mười nghìn, sáu trăm chín mươi bốn đồng) theo biên lai thu số AA/2023/0000360 ngày 31/10/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức lập.
- Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cần thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và bà Huỳnh Thị Thu T1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hòa |
Bản án số 3211/2024/DS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 3211/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
