Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 321/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26-8-2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Trúc Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Thiều Thị Phi Loan.
  2. Ông Trần Văn Chánh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mai – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 839/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 207/2024/QÐST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 348/2024/QÐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Lê Văn Ú, sinh năm 1968.
  • Địa chỉ: B, Nguyễn Văn L, khu phố C, phường H, TP .Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
  • - Bị đơn: Bà Trương Thị Huệ C, sinh năm 1970.
  • Địa chỉ: Nhà T, tổ B, khu phố C, phường H, TP.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
  • (Ông Ú có đơn xin xét xử vắng mặt, bà C vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Văn Ú trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà C kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường C, thành phố C, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 1023/HT ngày 18/12/2002. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp. Bà C ghen tuông, không tin tưởng ông dẫn đến vợ chồng hay cãi nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không thành nên sống ly thân từ tháng 06/2023 đến nay. Quá trình ly thân không quan tâm đến nhau. Nay ông nhận thấy không còn tình cảm với bà C, mâu thuẫn không thể hòa giải hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà C.

Về con chung: Quá trình chung sống, ông Ú và bà C có 03 con chung là Lê Công Đ, sinh năm 1990; Lê Hữu X, sinh năm 1992; Lê Bảo D, sinh năm 1996. Các con chung đều đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Ú xin xét xử vắng mặt do bận công việc.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trương Thị Huệ C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến, không đến Toà án để tham gia tố tụng.

* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Ú. Cho ông Ú ly hôn với bà C.

Về con chung: Ông Ú và bà C có 03 con chung là Lê Công Đ, sinh năm 1990; Lê Hữu X, sinh năm 1992; Lê Bảo D, sinh năm 1996. Các con chung đều đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Ông Ú khai tự thỏa thuận, chưa lấy được ý kiến của bà C nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Ông Ú khai không có, chưa lấy được ý kiến của bà C nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông Ú phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ông Lê Văn Ú xin ly hôn với bà Trương Thị Huệ C. Căn cứ vào nội dung xác minh do Công an phường H, thành phố B cung cấp tại văn bản đề ngày 08/3/2024 thể hiện bà C có nơi cư trú tại: Nhà T số C, tổ B, khu phố C, phường H, TP ., tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà C nhưng bà C không đến Toà án để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, các phiên toà xét xử mà không có lý do; Nguyên đơn ông Ú có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 207, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Ú, bà C.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Ú và bà C kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường C, TP ., tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 1023/HT ngày 18/12/2002 nên được xem là hôn nhân hợp pháp theo Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.

Theo trình bày của ông Ú thì sau khi kết hôn quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp. Bà C ghen tuông, không tin tưởng ông Ú dẫn đến vợ chồng hay cãi nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không thành nên sống ly thân từ tháng 06/2023 đến nay. Quá trình ly thân không quan tâm đến nhau. Nay ông Ú nhận thấy không còn tình cảm với bà C, mâu thuẫn không thể hòa giải hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Ú xin được ly hôn với bà C. Toà án đã tiến hành xác minh mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Ú, bà C. Tại biên bản xác minh ngày 06 tháng 5 năm 2024, địa phương không cung cấp được thông tin mâu thuẫn vợ chồng do ông Ú, bà C không trình báo với địa phương.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà C nhưng bà C vẫn không có ý kiến chứng tỏ bà C bỏ mặc, không mong muốn bảo vệ và duy trì hôn nhân với ông Ú. Xét thấy, mâu thuẫn giữa ông Ú, bà C đã lâm vào tình trạng trầm trọng. Bà C không có thiện chí hoặc biện pháp để hàn gắn gia đình, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, nay ông Ú xin ly hôn với bà C là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56, Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, ông Ú, bà C có 03 con chung là Lê Công Đ, sinh năm 1990; Lê Hữu X, sinh năm 1992; Lê Bảo D, sinh năm 1996. Các con chung đều đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung: Ông Ú trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết, chưa lấy được ý kiến của bà C nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.4] Về nợ chung: Ông Ú trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết, chưa lấy được ý kiến của bà C nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[3] Về án phí: Ông Lê Văn Ú phải chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà phù hợp với chứng cứ đã thu thập, quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 9, 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;
  • - Các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Lê Văn Ú, cho ông Lê Văn U được ly hôn với bà Trương Thị Huệ C.
  2. Về con chung: Các con chung là anh Lê Công Đ, sinh năm 1990; anh Lê Hữu X, sinh năm 1992; anh Lê Bảo D, sinh năm 1996 đều đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Lê Văn Ú tự nguyện chịu số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông Ú đã nộp theo biên lai thu số 0003344 ngày 14/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Hoàn trả cho ông Ú số tiền 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí còn lại. (Ông Ú đã nộp xong).
  6. Ông Lê Văn Ú, bà Trương Thị Huệ C được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Châu Phú B, TP.Châu Đốc, tỉnh An Giang;
  • - Lưu;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trần Trúc Thuỷ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 321/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 321/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Út ly hôn với Trương Thị Huệ Châu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger