Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 321/2024/HS-ST

Ngày: 22 – 11 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Anh Thi.

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Trần Ngọc Phương.

Bà Phạm Nguyễn Phương Thà.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Sao Mai, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 371/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 387/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn G (tên gọi khác: H), sinh năm: 1992 tại tỉnh Bình Dương; Nơi thường trú: 197/3 khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Chỗ ở: Nhà (không số) thuộc tổ D, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 01/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Lê Thị Mỹ Đ; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Quyết định số 29/2015/QĐ-TA ngày 25/9/2015 của Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng kể từ ngày 25/6/2015. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2023 cho đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Lê Văn H1, sinh năm: 1995; Nơi cư trú: Khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
  2. Bà Hà Thị Y, sinh năm: 1987; Nơi cư trú: Tổ D, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
  3. Ông Đỗ Thành M, sinh năm: 1990; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có ma tuý sử dụng và bán cho người khác, ngày 30/11/2023 Nguyễn Văn G sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung có gắn sim số 0921001374 gọi cho người đàn ông tên C sống ở Thành phố Hồ Chí Minh có số điện thoại 0937.595.xxx hỏi mua 1.500.000 đồng ma tuý tổng hợp (ma tuý đá) thì C đồng ý và hẹn khi nào giao ma tuý sẽ gọi điện thoại cho G.

Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 01/12/2023, khi G đang ở tại căn nhà (không số) thuộc tổ D, khu phố B, phường T, thành phố T thì có một người nam thanh niên cao khoảng 1m7, mặc áo sơ mi sọc caro màu xám đen, quần jeans lửng, đeo khẩu trang điều khiển xe mô tô đến trước nhà G rồi gọi điện thoại cho G và giao 01 gói nylon chứa ma tuý tổng hợp, Giàu trả 1.500.000 đồng sau đó đem gói ma tuý về nhà, lấy 01 phần cho vào bộ dụng cụ sử dụng ma tuý của mình để sử dụng. Số ma tuý còn lại, G chia nhỏ ra các túi nhỏ nylon rồi bỏ vào 01 túi vải và cất trong túi quần bên phải đang mặc để bán cho những người sử dụng.

Sau khi G sử dụng ma tuý, bà Hà Thị Y là bạn gái sống chung với G thấy trong bộ dụng cụ còn ma tuý nên bà Y nói G cho bà Y sử dụng ma túy thì G đồng ý. Đến khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày 01/12/2023, ông Nguyễn Văn H2 là bạn của G đến, thấy trong bộ dụng cụ sử dụng ma tuý của G còn ma tuý nên H2 cũng nói G cho hậu sử dụng thì G đồng ý. Khoảng 09 giờ 45 phút cùng ngày, Đỗ Thành M đến mua của G 02 túi ma tuý với giá 200.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, Công an phường T, thành phố T kiểm tra hành chính, G lấy 01 túi vải trong túi quần ra ném xuống nền nhà, qua kiểm tra thì G khai nhận bên trong túi vải có chứa ma tuý tổng hợp.

Kết quả kiểm tra nhanh tình trạng sử dụng ma tuý ngày 01/12/2023: Nguyễn Văn G, Lê Văn H1 và Hà Thị Y đều dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.

Theo Kết luận giám định số 655 ngày 08/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng/trọng lượng: M1 = 2,4512 gam, M2 = 2,0177 gam, M3 = 2,4883 gam, M4 = 0,1927gam.

Bản Cáo trạng số 330/CT-VKS -TA ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo: Nguyễn Văn G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 và điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251 và điểm a khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 09 năm đến 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội từ 17 năm đến 19 năm tù.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy bì thư niêm phong ghi số 655/PC09 có chứa ma tuý Methamphetamine, hoàn lại sau giám định; 01 túi vải, sọc caro, màu trắng - đen - nâu, miệng khoá kéo, kích thước 7x10cm; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý; 01 sim số 0921.011.374.

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung, màu vàng.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt bị truy tố, không thắc mắc hay khiếu nại gì. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng thu giữ, có đủ cơ sở kết luận:

Để có ma túy sử dụng và bán cho người khác, sáng ngày 01/12/2023 tại căn nhà (không số) thuộc tổ D, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Văn G mua 1.500.000 đồng ma tuý tổng hợp của người khác rồi lấy 01 phần cho vào bộ dụng cụ sử dụng ma tuý để sử dụng, số còn lại G chia ra các túi nhỏ để bán. Sau khi sử dụng, Nguyễn Văn G cho bà Hà Thị Y và ông Nguyễn Văn H2 cùng sử dụng ma túy. Đến khoảng 09 giờ 45 phút cùng ngày, G bán cho Đỗ Thành M 02 túi ma tuý với giá 200.000 đồng. Đến khoảng 11 cùng ngày thì bị bị bắt cùng tang vật. Theo Kết luận giám định thì: Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng/trọng lượng: M1 = 2,4512 gam, M2 = 2,0177 gam, M3 = 2,4883 gam, M4 = 0,1927gam, tổng cộng 7,15 gam.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 và điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức được việc làm của mình là vi phạm, nhưng vì thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo mua ma túy về sử dụng, cho nhiều người khác cùng sử dụng và bán cho người khác. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định về chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác, hành vi đó còn gây mất trật tự, trị an tại địa phương, lỗi của bị cáo là cố ý trực tiếp. Bị cáo từng bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính, không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, điều đó thể hiện bản chất coi thường pháp luật do đó cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[7] Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

[8] Đối với người bán ma túy cho bị cáo hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

[9] Đối với Đỗ Thành M có hành vi mua ma tuý của bị cáo để tàng trữ, sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[10] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ:

Khối lượng ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định chứa trong 01 bì thư được niêm phong, ghi vụ số 655/PC09; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý; 01 sim số 0921.011.374; 01 túi vải màu nâu có kẻ sọc (loại có khóa kéo) là chất cấm lưu hành, công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy.

01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung (màu vàng) sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.

Buộc bị cáo nộp lại số tiền 200.000 đồng bán ma túy cho Đỗ Thành M để sung vào ngân sách Nhà nước.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm i khoản 2 Điều 251; Điểm a khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Các Điều 46, 47, 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • - Các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn G 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 17 (mười bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/12/2023.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Tịch thu, tiêu hủy: Khối lượng ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định chứa trong 01 bì thư được niêm phong, ghi vụ số 655/PC09; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý; 01 sim số 0921.011.374; 01 túi vải màu nâu có kẻ sọc (loại có khóa kéo).

Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung (màu vàng).

Buộc bị cáo nộp số tiền 200.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/11/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

3. Về án phí:

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND, CA TP. Thuận An;
  • - Chi cục THADS TP. Thuận An;
  • - Chánh án (để báo cáo);
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, THAHS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 321/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 321/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn G phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger