Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 321/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 28 - 8 - 2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Trần Ngọc Đăng
  • Ông Võ Duy Bảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến - Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 203/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 288/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày: 08/5/1996; Nơi thường trú: xóm B, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: xóm H, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh ngày: 18/8/1995; Địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: xóm B, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Cộng hòa Liên bang Đ (G), không rõ địa chỉ cụ thể. Vắng mặt (lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 06/3/2024, bản tự khai ngày 26/5/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh Trần Văn H kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An vào ngày 03/3/2021. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp tính nhau, không cùng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã nhau. Đến khoảng đầu năm 2023, anh H đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa Liên bang Đ. Kể từ khi anh H đi xuất khẩu lao động đến nay đã hơn một năm nhưng chưa khi nào thăm hỏi, động viên hay gửi tiền về để hỗ trợ chị nuôi con. Thỉnh thoảng anh H có liên lạc về nhưng chỉ để hỏi thăm con mà không quan tâm đến chị. Mỗi lần gọi điện về lại kiếm chuyện cãi vã nhau. Vợ chồng đã sống ly thân kể từ khi anh H đi nước ngoài. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trần Văn H. Tuy nhiên, do vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, không liên lạc, trao đổi với nhau nên hiện nay chị không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Trần Văn H tại Cộng hòa Liên bang Đ. Theo chị được biết thì anh H thường xuyên liên lạc với cha, mẹ đẻ là ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị D, cùng trú tại xóm B, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An và ông Đ, bà D biết thông tin, địa chỉ cụ thể của anh H ở tại Cộng hòa liên bang Đ, đề nghị Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

- Về con chung: Chị và anh Trần Văn H có 01 con chung là cháu Trần Phúc Đăng D1, sinh ngày 14/9/2021. Hiện nay, cháu đang do chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu D1 và không yêu cầu anh Trần Văn H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà bị đơn là anh Trần Văn H vắng mặt, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Theo kết quả xác minh tại Công văn số 10514/QLXNC-P3 ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Cục Q – Bộ C thì: “Theo dữ liệu Cục Q quản lý: có trường hợp Trần Văn H, sinh ngày 28/8/1995 tại Nghệ An, CNMD số [...] (số cũ là 187303597); khai hộ khẩu thường trú tại: xóm B, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An; đã xuất nhập cảnh 03 lần, lần cuối sử dụng hộ chiếu số P01878679 để xuất cảnh ngày 04/9/2023 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh”. Vì vậy, sau khi thụ lý, Toà án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Công văn đề nghị cung cấp thông tin, địa chỉ của anh H ở nước ngoài; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... nhưng anh H vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hoà giải được.

Tại “Biên bản lấy lời khai” ngày 26/07/2024, bà Nguyễn Thị D (sinh năm 1974, mẹ đẻ của anh Trần Văn H) trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh Trần Văn H, sinh năm 1995, có địa chỉ thường trú tại xóm B, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Hiện tại anh H đang làm việc ở nước nào thì bà không chắc chắn được, vì trước đây có nghe anh H nói lúc ở nước H, lúc ở nước Đức. Việc ở nước nào bà nghe anh H nói còn tùy thuộc vào việc có làm được giấy tờ lưu trú nữa. Bà không biết địa chỉ cụ thể của anh H hiện nay ở đâu. Quá trình ở nước ngoài, anh H thường liên lạc về cho ông bà qua hình thức gọi điện bằng mạng xã hội Facebook, Z... Anh H và chị T đăng ký kết hôn ngày 30/3/2021. Hiện nay chị Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết ly hôn và nuôi con chung chưa thành niên thì bà và người thân có thông báo cho anh H biết việc chị T làm thủ tục ly hôn và nuôi con chung chưa thành niên. Bà cũng nghe chị T nói là vợ chồng đã thống nhất ly hôn nên chị T mới làm đơn ra Tòa yêu cầu giải quyết. Ngoài ra, bà không cung cấp thông tin gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng các quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định... Tại phiên toà, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quy ết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

  • + Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Trần Văn H.
  • + Về con chung: Giao cháu Trần Phúc Đăng D1, sinh ngày 14/9/2021 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Trần Văn H do chị T chưa có yêu cầu.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Toà án không xem xét.
  • + Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 06/3/2024, chị Nguyễn Thị T có đơn khởi kiện gửi tới Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Trần Văn H. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo thì chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn H đều có nơi đăng ký thường trú tại xóm B, xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An nhưng anh H đã đi xuất khẩu lao động tại Cộng hòa Liên bang Đ1 (G) từ năm 2023 đến nay chưa về. Theo kết quả xác minh tại Cục Q – Bộ C thì anh Trần Văn H đã xuất nhập cảnh 03 lần, lần xuất cảnh gần nhất là vào ngày 04/09/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Như vậy, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn anh Trần Văn H mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Bị đơn anh Trần Văn H hiện nay vẫn đăng ký thường trú tại xã P, huyện Y, tỉnh Nghệ An nhưng đã xuất khẩu lao động tại Cộng hòa Liên bang Đ (G), hiện không có mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ cụ thể hiện nay tại nước ngoài. Toà án đã có công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ của anh H tại nước ngoài nhưng theo bà Nguyễn Thị D (mẹ đẻ của anh H) thì anh H vẫn liên lạc với bà D và gia đình qua điện thoại và mạng xã hội; bà D và người thân đã thông tin cho anh H1 được biết về việc chị H yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn nhưng anh H vẫn không cung cấp địa chỉ cụ thể, không có ý kiến về việc giải quyết ly hôn với chị T nên gia đình không có để cung cấp cho Toà án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Trần Văn H.

[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị T:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn H được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian ngắn chung sống hoà thuận nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, anh H đã đi xuất khẩu lao động từ đầu năm 2023 cho đến nay nhưng vợ chồng không thường xuyên liên lạc, không quan tâm đến nhau cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần. Quá trình giải quyết vụ án, anh H lại không có mặt tại Toà án để làm việc, cũng không cung cấp được chứng cứ gì về phương án khắc phục tình trạng vợ chồng. Hội đồng xét thấy, thời gian vợ chồng chung sống với nhau là không dài, nhưng đã ly thân từ khi anh H đi xuất khẩu lao động cho đến nay mà cả hai bên đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, nguyên đơn chị T cũng kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị T yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.

[2.2] Về quan hệ con chung: Theo lời khai của chị T và các tài liệu thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án thì chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn H có 01 người con chung là cháu Trần Phúc Đăng D1, sinh ngày 14/9/2021 hiện nay đang do chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu D1 và không yêu cầu anh Trần Văn H cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét thấy: Việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, yêu cầu được nuôi con của chị T là hoàn toàn chính đáng, cháu D1 lại đang còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi, từ khi sinh ra đến nay cháu đã ở với chị T, được chăm sóc, phát triển hoàn toàn khỏe mạnh, bình thường. Mặt khác, anh H hiện nay đang ở nước ngoài, bà D (mẹ anh H) không cung cấp được địa chỉ cụ thể nơi cư trú của anh H tại nước ngoài và anh H cũng không có ý kiến về việc giải quyết ly hôn, nuôi con chung với chị T. Vì vậy, cần giao cháu Đăng D1 cho chị T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình là phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và điều kiện hoàn cảnh của các bên, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu. Chị T xin được trực tiếp nuôi con nhưng không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Toà án chưa xem xét.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, chị T không yêu cầu Toà án giải quyết, anh H cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa có cơ sở để xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện khi có yêu cầu.

[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quy ết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Trần Văn H.
  2. Về quan hệ con chung: Giao con chung là Trần Phúc Đăng D1, sinh ngày 14/9/2021 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Nguyễn Thị T không yêu cầu và anh Trần Văn H chưa có ý kiến nên Toà án chưa xem xét.

Anh Trần Văn H có quyền đi lại thăm nom, không ai được cản trở anh Trần Văn H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu và anh Trần Văn H cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
  2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo Biên lai số 0012843 ngày 15/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An
  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: Chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Trần Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự,
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND Phúc Thành, huyện Yên Thành (theo Giấy ĐKKH số 20/20 21 ngày 30/3/2021);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 321/2024/HNGĐ-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 321/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn giữa chị T và anh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger