Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HOÁ

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 321/2024/HS-ST

Ngày: 12-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Loan

2. Bà Hoàng Thị Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Trịnh Công Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 338/2024/HSST ngày 13 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 362/2024/QĐXXST - HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Đỗ Đức N - Sinh năm: 1986; Nơi ĐKHKTT: Phòng 310 N7 chung cư Đ, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Phố N, phường T, TP., tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Đức Đ và bà Đỗ Thị H (đã chết); vợ con: chưa; Tiền án: Ngày 21/7/ 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 14 tháng 06 ngày tù về tội “ Cưỡng đoạt tài sản”; Ngày 14/8/2018 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày 08/1/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù của Bản án hình sự phúc thẩm số 153 ngày 14/8/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, buộc Đỗ Đức N phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 48 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/11/2022; Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2006 bị TAND thành phố Thanh Hóa xử phạt 21 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Năm 2006 bị Công an phường L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma túy”; Năm 2008 bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Năm 2009 bị TAND thành phố Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Năm 2016 được TAND thành phố Thanh Hóa miễn trách nhiệm hình sự về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" do thay đổi quy định của pháp luật về giám định; Tạm giữ: 01/5/2024; Tạm giam: 07/5/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Lê Khắc H1, sinh năm: 1985; địa chỉ: Phố B, phường L, TP, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Bá H2, sinh năm: 1995; Địa chỉ: SN C L, phường Q, TP., tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Đỗ Đức N bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 30/4/2024, Đỗ Đức N đi bộ trong khu công nghiệp H tại phố N, phường T, thành phố Thanh Hóa thì nhìn thấy 01 chiếc mô tô nhãn hiệu Honda mang biển kiểm soát36B8-75990 của anh Lê Khắc H1 sinh năm 1985 ở phố B, phường L, thành phố T đang dựng trước cửa nhà anh Lê Trọng Hậu s năm 1971 ở phố N, phường T, thành phố T, chìa khóa cắm ở trên ổ khóa xe và không có người trông coi nên N nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. N đi lại chỗ chiếc xe mô tô đang dựng rồi ngồi lên xe mô tô, mở khóa xe đề nổ máy, điều khiển xe đến trước cổng khách sạn P thuộc phường Q, thành phố T. N gọi điện thoại cho anh Nguyễn Bá H2 sinh năm 1995 ở C L, phường Q, thành phố T để hỏi vay anh H2 số tiền 10.000.000đ thì anh H2 đồng ý và đi bộ ra khu vực khách sạn P để đưa 10.000.000đ cho N.

Sau khi vay được tiền, do nể nang anh H2 nên N nói với anh H2 mang chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B8-75990 về làm tin, khi nào N trả nợ cho anh H2 thì sẽ lấy xe về và chiếc xe mô tô là của gia đình N. Anh H2 nhận xe và điều khiển xe mô tô BKS 36B8-75990 về nhà. Đến ngày 01/5/2024 do lo sợ và hối hận về hành vi phạm tội của mình nên N đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đầu thú.

Tại kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐGTS ngày 03/5/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố T kết luận: chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B8-75990 trị giá 20.000.000đ.

Về dân sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B8-75990 từ anh Nguyễn Bá H2 và đã trả lại xe mô tô cho anhLê Khắc Hoàng. Anh H1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì đối với phần dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Bá H2 không có yêu cầu gì đối với phần dân sự.

Cáo trạng số 266/CTr- VKS ngày 13/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Đỗ Đức N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của BLHS.

Phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Đức N từ 42 đến 48 tháng tù. Về dân sự: Công nhận bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh, nhân thân khi phạm tội và cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm được trở về đoàn tụ cùng gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa và của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và không có khiếu nại gì cần được tiến hành theo thủ tục chung.

[2]. Các căn cứ là tình tiết định tội đối với bị cáo: Trên cơ sở lời khai của bị cáo tại phiên tòa và lời khai trước đây bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, báo cáo và lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:

Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 30/4/2024, tại nhà anh Lê Trọng H3 ở phố N, phường T, TP., tỉnh Thanh Hóa, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, người quản lý tài sản, Đỗ Đức N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Future, màu xanh đen trị giá 20.000.000₫ của anh Lê Khắc H1. Vì Đỗ Đức N đã tái phạm tại Bản án số 14/HSST ngày 08/01/2019 chưa được xóa án tích, lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của BLHS.

[3]. Tính chất vụ án: Đỗ Đức Nghĩa là đối tượng từng trải chỉ vì hám lợi khi chủ tài sản sơ hở nên nhất thời phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến trật tự xã hội nói chung mà còn xâm phạm đến tài sản của người khác nói riêng do vậy, cần phải được xử lý nghiêm đối với bị cáo mới có tính giáo dục và phòng ngừa chung.

[4]. Trách nhiệm hình sự (TNHS) của bị cáo:

Tình tiết giảm nhẹ: Tại các cơ quan pháp luật bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã đầu thú, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của BLHS.

Tình tiết tăng nặng: Đỗ Đức N nhân thân xấu, bị cáo có 02 tiền án, tiền án năm 2019 là tái phạm, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm.

Bị cáo có nhân thân xấu do vậy, cần áp dụng Điều 38 của BLHS để cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để có đủ điều kiện cải tạo sớm trở thành người lương thiện.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt, đã được thu hồi trả cho bị hại và nay không có yêu cầu gì cần được công nhận. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về phần dân sự.

[6]. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 BLHS; Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Đức N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Đức N 42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/5/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận bị hại đã nhận đủ tài sản do bị cáo chiếm đoạt và không có yêu cầu gì. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về phần bồi thường.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Đức N phải chịu 200.000 đồng.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Công an TP. Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Trần Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 321/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 321/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger