Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 321/2024/DS-PT

Ngày: 01-8-2024

V/v tranh chấp hợp đồng ủy quyền,

hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Những

Bà Trịnh Thị Phúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Luyến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 278/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền, hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 58/2024/DS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 278/2024/QĐ-PT ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Ngô Hoàng L, sinh năm 1972;

Cư trú tại: Ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phương Quốc D, sinh năm 1985;

Cư trú tại: Ấp D, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

(Theo văn bản ủy quyền số công chứng 005254 ngày 20/10/2023);

- Bị đơn: Bà Tiên Thị G, sinh năm 1971;

Cư trú tại: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Bích T;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn D1 – Trưởng văn phòng.

Địa chỉ: Số B, đường N, khu phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

2. Ông Lê Hùng N, sinh năm 1993;

Cư trú tại: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

Người kháng cáo: Bà Tiên Thị G.

(Ông D, bà G, ông N có mặt; Ông D1 có đơn đề nghị vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Ngô Hoàng L do ông Phương Quốc D là người đại diện theo ủy quyền trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, như sau: Ngày 04/5/2021, ông Ngô Hoàng L có cho bà Tiên Thị G vay số tiền 1.500.000.000 đồng, lãi suất 2,5%/tháng, không thỏa thuận thời gian trả gốc, việc vay nợ không làm giấy tờ vay, các bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói. Ông L đã giao đủ số tiền 1.500.000.000 đồng cho bà G, việc giao tiền không có giấy tờ. Để bảo đảm cho khoản vay, bà G có ký hợp đồng ủy quyền cho ông Ngô Hoàng L đối với thửa đất số 90, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Long An, do bà Tiên Thị G đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi vay, bà G có trả cho ông L được 03 tháng tiền lãi của tháng 6, 7, 8 năm 2021, việc trả lãi không có làm giấy tờ, cụ thể mỗi tháng trả bao nhiêu thì ông L không nhớ, chỉ nhớ tổng số tiền lãi của 03 tháng đã nhận là 55.000.000 đồng. Từ tháng 09/2021, bà G không trả lãi cho ông L nữa. Ông L đã nhiều lần yêu cầu bà G trả nợ nhưng bà G không thực hiện.

Do đó, ông Ngô Hoàng L khởi kiện bà Tiên Thị G, yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên vô hiệu hợp đồng ủy quyền ngày 04/5/2021 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Bích T, số công chứng 17573, quyển số 18TP/CC-SCC/HĐGD, giữa bà Tiên Thị G với ông Ngô Hoàng L, về nội dung bà G ủy quyền cho ông L được toàn quyền quản lý, sử dụng đối với thửa đất số 90, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Long An, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA 709999 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 18/01/2021 cho bà Tiên Thị G đứng tên chủ sử dụng, vì lý do đây là hợp đồng giả tạo nhằm che giấu cho hợp đồng vay tài sản giữa ông L và bà G. Ông D yêu cầu vô hiệu hợp đồng ủy quyền. Buộc bà Tiên Thị G trả lại số tiền gốc vay là 1.500.000.000 đồng và tiền lãi với lãi suất là 10%/năm, tính từ ngày 04/9/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm là 32 tháng 06 ngày. Tổng cộng tiền gốc và lãi là 1.900.641.000 đồng.

Bị đơn bà Tiên Thị G trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa như sau: Hợp đồng ủy quyền giữa bà với ông L, đối với thửa đất số 90, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Long An thực chất là để làm tin, bảo đảm cho việc vay tiền. Bà không đồng ý tuyên bố vô hiệu hợp đồng ủy quyền ngày 04/5/2021 giữa bà và ông L, vì chưa hết thời hạn ủy quyền. Bà chỉ là người sử dụng uy tín, sự quen biết và tài sản của bà để đứng ra vay và ký hợp đồng vay tiền ngày 04/5/2021 giùm cho con rể là ông Lê Hùng N, số tiền vay là 1.500.000.000 đồng, ông N là người trực tiếp nhận số tiền này. Vì ông N là người nhận và sử dụng số tiền vay nên ông N là người có nghĩa vụ trả nợ, bà hoàn toàn không sử dụng số tiền này nên bà không có nghĩa vụ trả nợ. Khi ký hợp đồng vay, ông L nói vay không có lãi suất và không có thời hạn. Bà xác định bản phô tô giấy tay không có tựa đề có ghi ngày 04/5/2021 mà bà nộp cho Tòa án là giấy vay tiền mà bà ký với ông L, hiện bà có giữ bản chính văn bản này nhưng không mang theo. Ông L trình bày bà có trả lãi tổng cộng 55.000.000 đồng, bà không nhớ rõ có đúng hay không.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Hùng N trình bày: Ngày 04/5/2021, ông có vay của ông L số tiền 1.500.000.000 đồng, không thỏa thuận lãi cụ thể, ông và ông L nói miệng là tháng nào ông làm có dư nhiều thì hỗ trợ nhiều, tháng nào làm ít thì hỗ trợ ít, chứ không phải là trả lãi, thời hạn vay theo hợp đồng ủy quyền ngày 04/5/2021 là 30 năm. Hợp đồng ủy quyền này nhằm mục đích bảo đảm cho hợp đồng vay. Ông là người trực tiếp nhận tiền vay từ ông L. Bà Tiên Thị G là mẹ vợ của ông chỉ là người có tài sản nên ký hợp đồng vay và hợp đồng ủy quyền giùm ông.

Thực hiện hợp đồng vay, hàng tháng ông có hỗ trợ tiền cho ông L nhưng sự việc đã lâu nên không nhớ chính xác số tiền đã hỗ trợ cho ông L. Về số tiền lãi 55.000.000 đồng mà ông D đại diện cho ông L trình bày, ông không nhớ có hay không. Toàn bộ số tiền ông trả cho ông L không phải là tiền lãi nên ông không yêu cầu khấu trừ lãi đã trả cho ông L.

Ông đồng ý trả số tiền nợ gốc là 1.500.000.000 đồng cho ông L, ông không đồng ý trả lãi và không đồng ý tính lãi, vì việc vay nợ là không có lãi suất. Hiện tại, ông chưa có điều kiện trả nợ cho ông L, khi nào gia đình bán đất được mới trả nợ cho ông L. Ông không có liên quan gì đến hợp đồng ủy quyền ngày 04/5/2021 giữa bà G và ông L nên không có ý kiến gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Bích T có đơn xin xét xử vắng mặt và có văn bản trình bày ý kiến là hồ sơ công chứng hợp đồng ủy quyền thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 58/2024/DS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc đã tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Hoàng L đối với bà Tiên Thị G.

Tuyên bố hợp đồng ủy quyền ngày 04/5/2021, tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Bích T, số công chứng 17573, quyển số 18TP/CC-SCC/HĐGD, giữa bà Tiên Thị G với ông Ngô Hoàng L bị vô hiệu.

Buộc bà Tiên Thị G trả cho ông Ngô Hoàng L số tiền gốc và lãi, tính đến ngày 15/5/2024 là 1.894.717.000 đồng, trong đó nợ gốc là 1.482.500.000 đồng, nợ lãi là 412.217.000 đồng.

Kể từ ngày 16/5/2024 cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Hoàng L buộc bà Tiên Thị G trả cho ông Ngô Hoàng L số tiền 5.924.000 đồng.

3. Về án phí: Bà Tiên Thị G phải chịu 69.141.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Ngô Hoàng L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ tạm ứng án phí ông L đã nộp là 40.987.500 đồng theo Biên lai thu số 0010988 ngày 12/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Hoàn trả lại cho ông Ngô Hoàng L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 40.687.500 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.

Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực, ngày 29/05/2024, bà Tiên Thị G kháng cáo yêu cầu hủy bản án dân sự sơ thẩm để xác định lại đúng tư cách của chủ thể tham gia giao dịch và xem xét lại thời điểm tính lãi.

Tại phiên tòa phúc thẩm.

Bà Tiên Thị G trình bày: Bà không đồng ý tuyên bố vô hiệu hợp đồng ủy quyền ngày 04/5/2021 giữa bà và ông L, vì chưa hết thời hạn ủy quyền. Bà chỉ là người sử dụng uy tín, sự quen biết và tài sản của bà để đứng ra vay và ký hợp đồng vay tiền ngày 04/5/2021 giùm cho con rể là ông Lê Hùng N, số tiền vay là 1.500.000.000 đồng, ông N là người trực tiếp nhận số tiền này. Vì ông N là người nhận và sử dụng số tiền vay nên ông N là người có nghĩa vụ trả nợ, bà hoàn toàn không sử dụng số tiền này nên bà không có nghĩa vụ trả nợ.

Ông Lê Hùng N trình bày: Ông là người trực tiếp nhận tiền vay từ ông L. Bà Tiên Thị G là mẹ vợ của ông, chỉ là người có tài sản nên ký hợp đồng vay và hợp đồng ủy quyền giùm ông. Thực hiện hợp đồng vay, hàng tháng ông có hỗ trợ tiền cho ông L 55.000.000 đồng không phải là tiền lãi nên ông không yêu cầu khấu trừ lãi đã trả cho ông L. Ông đồng ý trả cho ông L số tiền nợ gốc là 1.500.000.000 đồng, ông không đồng ý trả lãi và không đồng ý tính lãi, vì việc vay nợ là không có lãi suất. Hiện tại, ông chưa có điều kiện trả nợ cho ông L, khi nào gia đình bán đất được mới trả nợ cho ông L. Ông không có liên quan gì đến hợp đồng ủy quyền ngày 04/5/2021 giữa bà G và ông L nên không có ý kiến gì.

Ông Phương Quốc D trình bày: Hợp đồng ủy quyền ngày 04/5/2021 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Bích T, số công chứng 17573, quyển số 18TP/CC-SCC/HĐGD, giữa bà Tiên Thị G với ông Ngô Hoàng L, về nội dung bà G ủy quyền cho ông L được toàn quyền quản lý, sử dụng đối với thửa đất số 90, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Long An, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA 709999 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 18/01/2021 cho bà Tiên Thị G đứng tên chủ sử dụng, đây là hợp đồng giả tạo nhằm che giấu cho hợp đồng vay tài sản giữa ông L và bà G. Ông D đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm, không dồng ý với kháng cáo của bà Tiên Thị G.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

1. Về chấp hành pháp luật:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật từ khi thụ lý giải quyết vụ án để xét xử phúc thẩm đến trước thời điểm nghị án. Người tham gia tố tụng (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Tiên Thị G kháng cáo đảm bảo đúng các nội dung quy định tại Điều 272 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và đúng thời hạn theo quy định tại Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó đủ điều kiện để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

2. Đề xuất quan điểm giải quyết vụ án:

Xét kháng cáo của bà G thấy rằng:

Đối với hợp đồng ủy quyền: Xét thấy, ngày 04/5/2021, ông Ngô Hoàng L xác lập 02 giao dịch dân sự, gồm giao dịch vay tài sản và giao dịch ủy quyền đối với thửa đất số 90, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Long An. Tại thời điểm giao kết hợp đồng ủy quyền, ông L có ý chí xác lập hợp đồng ủy quyền nhằm che giấu cho hợp đồng vay tài sản, mục đích là khi bên vay không trả được nợ thì ông L sẽ chuyển quyền sử dụng thửa đất này để thu hồi nợ. Như vậy, thực chất hợp đồng ủy quyền là hợp đồng giả tạo nhằm che giấu cho hợp đồng thật sự là hợp đồng vay tài sản nên hợp đồng ủy quyền ngày 04/5/2021, tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Bích T, số công chứng 17573, quyển số 18TP/CC-SCC/HĐGD, giữa bà Tiên Thị G với ông Ngô Hoàng L là vô hiệu do giả tạo, hợp đồng vay có hiệu lực. Bà G cho rằng chưa hết thời hạn ủy quyền nên không đồng ý vô hiệu hợp đồng ủy quyền là không đúng, vì bản chất ngay từ khi giao kết thì hợp đồng này đã không có hiệu lực.

Đối với hợp đồng vay tài sản: Về chủ thể vay, bà G xác định mục đích bà vay số tiền 1.500.000.000 đồng từ ông L là để giao cho ông N sử dụng, nên người vay tiền của ông L thật sự là ông N, không phải là bà G. Ông N cũng đồng ý với ý kiến của bà G. Tuy nhiên, ông L xác định ông L cho bà G vay tiền, không thừa nhận cho ông N vay tiền. Mặt khác, bà G có ký tên vay tiền tại văn bản đề ngày 04/5/2021 và hợp đồng ủy quyền cùng ngày.

Hơn nữa, tại biên bản hòa giải ngày 26/7/2023 của Ủy ban nhân dân xã P thì bà G và ông L đã hòa giải thành, theo đó bà G thống nhất có nợ ông L số tiền gốc là 1.500.000.000 đồng. Tại biên bản hòa giải ngày 05/10/2023 của Ủy ban nhân dân xã P, bà G tiếp tục trình bày bà xin trả tiền gốc cho ông L, xin ông L không lấy lãi nữa và có xin ông L cho con rể bà là ông Lê Hùng N trả tiền nợ cho ông L. Còn tại biên bản hòa giải ngày 20/02/2024 của Tòa án, bà G trình bày xác nhận ngày 04/5/2021, bà G có vay của ông L số tiền 1.500.000.000 đồng, bà vay cho con rể của bà sử dụng. Tại phiên tòa, bà khẳng định bà biết nếu ông N vay tiền thì ông L sẽ không cho vay nên bà đã sử dụng uy tín, mối quan hệ và tài sản của bà để vay số tiền 1.500.000.000 đồng từ ông L. Từ đó, xác định bà G là người trực tiếp thỏa thuận vay tiền của ông L, số tiền vay là 1.500.000.000 đồng nên bà G là bên vay trong hợp đồng vay tài sản với ông L là bên cho vay.

Về loại hợp đồng vay tài sản: Ông L trình bày việc vay nợ không thỏa thuận thời hạn trả mà khi cần thì báo trước với bà G 01 tháng để thu hồi nợ, bà G cho rằng hợp đồng vay có thời hạn 30 năm theo Điều 2 của Hợp đồng ủy quyền. Thấy rằng, thời hạn 30 năm là thời hạn của hợp đồng ủy quyền, không liên quan đến hợp đồng vay tài sản nên ý kiến của bà G là không có cơ sở để chấp nhận. Các bên không cung cấp được tài liệu, chứng cứ khác xác định thời hạn của hợp đồng vay tài sản, nguyên đơn xác định đây là hợp đồng vay không có thời hạn nên chấp nhận lời trình bày của nguyên đơn.

Ông D đại diện ông L trình bày là ông L cho bà G vay có lãi và thỏa thuận lãi suất bằng lời nói. Còn bà G thì cho rằng vay không có lãi, chỉ có tiền hỗ trợ, tháng nào có bao nhiêu thì hỗ trợ cho ông L bấy nhiêu. Tuy nhiên, tại biên bản hòa giải ngày 26/7/2023 của Ủy ban nhân dân xã P, bà G có đồng ý thỏa thuận với ông L là tính đến ngày 26/7/2023 thì tổng số tiền lãi đối với số nợ gốc 1.500.000.000 đồng là 300.000.000 đồng. Như vậy, bà G cũng đã thừa nhận hợp đồng vay là có lãi. Do đó, xác định hợp đồng vay giữa bà G và ông L là loại hợp đồng vay tài sản không kỳ hạn và có lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 469 của Bộ luật dân sự năm 2015. Ngày 26/7/2023, ông L khiếu nại đến Ủy ban nhân dân xã P nhưng bà G không trả được nợ nên ông L mới khởi kiện tại Tòa án.

Về thời điểm tính lãi: Ông D yêu cầu tính lãi đối với số nợ gốc, từ thời điểm bà G không trả lãi là ngày 04/9/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm. Bà G trình bày bà không nhớ về việc có trả lãi cho ông L. Sự thừa nhận của ông D là có lợi cho bà G nên xác định thời điểm tính lãi là từ ngày 04/9/2021 đến ngày tuyên án (ngày 15/5/2024) là 33 tháng 11 ngày.

Hợp đồng vay giữa các bên là có lãi nhưng do giấy nợ không ghi rõ lãi suất nên các bên có tranh chấp về lãi suất. Do đó, căn cứ theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, Điều 5 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cấp sơ thẩm xác định mức lãi suất là 10%/năm, kể từ thời điểm vay là ngày 04/5/2021 nên số tiền lãi mà bà G có nghĩa vụ phải trả cho ông L tháng 6, 7, 8 năm 2021 tổng cộng là 37.500.000 đồng. Ông D xác định bà G đã trả 03 tháng tiền lãi, tổng cộng là 55.000.000 đồng. Bà G không thừa nhận đã trả số tiền này nhưng sự thừa nhận của ông D là có lợi cho bà G nên chấp nhận lời trình bày của ông D, xác định bà G có trả cho ông L 55.000.000 đồng tiền lãi. Số tiền chênh lệch là 17.500.000 đồng, khấu trừ số tiền chênh lệch vào nợ gốc. Từ đó, xác định nợ gốc bà G còn nợ ông L là 1.482.500.000 đồng.

Số tiền lãi đối với số nợ gốc là 1.482.500.000 đồng, với mức lãi suất 10%/năm, trong thời gian 33 tháng 11 ngày, số tiền lãi là 412.217.000 đồng. Tổng cộng tiền gốc và lãi là 1.894.717.000 đồng. Vì vậy cấp sơ thẩm buộc bà Tiên Thị G trả cho ông Ngô Hoàng L số tiền gốc và lãi tính đến ngày 15/5/2024 là 1.894.717.000 đồng là phù hợp. Kháng cáo của bà G không có căn cứ. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Lời phát biểu của kiểm sát viên là phù hợp nên chấp nhận. Các nội dung khác của bản án dân sự sơ thẩm số 58/2024/DS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Tiên Thị G phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Tiên Thị G.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 58/2024/DS-ST ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 147, Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 124, Khoản 1 Điều 404, Điều 463, Khoản 1 Điều 466, Điều 468, Khoản 2 Điều 469, Điều 579 của Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 1, 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Hoàng L đối với bà Tiên Thị G.

    Tuyên bố hợp đồng ủy quyền ngày 04/5/2021, tại Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Bích T, số công chứng 17573, quyển số 18TP/CC-SCC/HĐGD, giữa bà Tiên Thị G với ông Ngô Hoàng L bị vô hiệu.

    Buộc bà Tiên Thị G trả cho ông Ngô Hoàng L số tiền gốc và lãi tính đến ngày 15/5/2024 là 1.894.717.000 đồng (Một tỷ, tám trăm chín mươi bốn triệu, bảy trăm mười bảy nghìn đồng), trong đó nợ gốc là 1.482.500.000 đồng, nợ lãi là 412.217.000 đồng.

    Kể từ ngày 16/5/2024 cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.

  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Hoàng L về việc yêu cầu bà Tiên Thị G trả cho ông Ngô Hoàng L số tiền 5.924.000 đồng.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Tiên Thị G phải chịu 69.141.500 đồng (Sáu mươi chín triệu, một trăm bốn mươi mốt nghìn, năm trăm đồng).

    Ông Ngô Hoàng L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ tạm ứng án phí ông L đã nộp là 40.987.500 đồng theo Biên lai thu số 0010988 ngày 12/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Hoàn trả lại cho ông Ngô Hoàng L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 40.687.500 đồng (Bốn mươi triệu, sáu trăm tám mươi bảy nghìn, năm trăm đồng).

  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Tiên Thị G phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí bà G đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000544 ngày 29/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
  5. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  6. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Cần Giuộc;
  • - Chi cục THADS huyện Cần Giuộc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Hữu Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 321/2024/DS-PT ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng ủy quyền, hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 321/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng ủy quyền, hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Hoàng L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger