Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 321/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 6 - 2025.

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành,

Ông Võ Duy Bảo.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên chính, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại phòng xử án Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 138/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 300/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Lê Thị H, sinh ngày 11/10/1995;

    Nơi cư trú: xóm E, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

  2. Bị đơn: anh Nguyễn Viết C, sinh ngày 13/4/1994;

    Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: xóm E, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Đài Loan. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Hà Thị T. Có mặt.

    Nơi cư trú: xóm E, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn, chị Lê Thị H trình bày:

Chị H và anh Nguyễn Viết C yêu thương và tự nguyện đến với nhau và đã được UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 34 ngày 03/5/2017. Sau khi kết hôn chị H, anh C đi làm ăn sinh sống tại Đồng Nai, đến năm 2020 thì về sinh sống tại xóm E, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Do kinh tế khó khăn, nên tháng 7/2023 anh C đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, từ đó đến nay chưa về lần nào. Do ở cách xa nhau về khoảng cách địa lý nên chị H, anh C phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng thiếu tin tưởng lẫn, mỗi khi nói chuyện thì xẩy ra to tiếng, cãi vã nhau. Đã một thời gian dài chị H và anh C không liên lạc với nhau. Mâu thuẫn giữa chị H và anh C đã thực sự trầm trọng, mục đích xây dựng gia đình hạnh phúc không còn, tình cảm vợ chồng thực sự đã hết. Vì vậy, chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Viết C.

Về con chung: chị H, anh C có 02 con chung Nguyễn Viết Gia H1, sinh ngày 28/10/2017, hiện nay học lớp 2A, Trường tiểu học T2, T, Nghệ An và Nguyễn Thị Bảo C1, sinh ngày 28/12/2020, hiện nay học lớp nhỡ B, Trường mầm non T2, T, tỉnh Nghệ An. Tháng 7/2023 anh C đi nước ngoài đến tháng 8/2024 hai con chung chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Tháng 8/2024 đến nay, hai con chung của chị H và anh C đang ở với bà nội là Hà Thị T. Ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung.

Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chi phí chăm sóc nuôi dưỡng 2 con chung của chị H và anh C từ tháng 8.2024 đến tháng 5/2025. Chị H chấp nhận hoàn trả 25.000.000đ theo yêu cầu của bà Hà Thị T.

Về tài sản chung, nợ chung: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho thân nhân của bị đơn và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật, nhưng anh C đều vắng mặt không có lý do.

Chị Lê Thị H không cung cấp được địa chỉ nơi cư trú, nơi làm việc hiện nay của anh Nguyễn Viết C. Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu thân nhân anh C là ông Nguyễn Văn T1 và bà Hà Thị T (là bố mẹ đẻ của Nguyễn Viết C, cư trú tại xóm E, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn (anh Nguyễn Viết C); yêu cầu ông T1, bà T thông báo cho anh C biết chị H đang khởi kiện ly hôn anh Nguyễn Viết C và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết; đề nghị anh C gửi lời khai, yêu cầu cho Tòa án. Bà T cho biết anh C đang làm việc ở Đài Loan, vẫn liên lạc với gia đình; anh C đã biết chị H đang khởi kiện ly hôn anh C và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết. Bà T không có địa chỉ của anh C bên Đài Loan để cung cấp cho Tòa án; anh C hiện nay đang ở nước ngoài anh không đồng ý ly hôn, chị H muốn ly hôn thì chờ anh C về giải quyết.

Đến nay, Tòa án không nhận được văn bản thể hiện ý kiến của anh Nguyễn Viết C liên quan đến giải quyết vụ án trên cũng như không ai cung cấp thông tin về nơi cư trú, làm việc hiện tại của anh Nguyễn Viết C.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Hà Thị T trình bày: Bà là mẹ đẻ của anh C, bà rất mong các con nói chuyện với nhau để xây dựng gia đình hạnh phúc. Nếu Tòa án giải quyết, đề nghị căn cứ pháp luật.

Về con của anh C, chị H có 02 con chung là Nguyễn Viết Gia H1, sinh ngày 28/10/2017 và Nguyễn Thị Bảo C1, sinh ngày 28/12/2020. Hai con chung của anh C, chị H đang do bà chăm sóc, nuôi dưỡng từ tháng 8/2024 đến nay. Chi phí chăm sóc nuôi dưỡng 02 cháu từ tháng 8/2024 đến tháng 5/2025 là 10 tháng, mỗi tháng 2.500.000đ/1 cháu x 2 = 50.000.000đ. Phần của anh C bà không yêu cầu hoàn trả, còn chị H phải hoàn trả cho bà khoản tiền này là 25.000.000đ. Anh C cũng có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung. Anh C hiện nay đang ở nước ngoài, bà T đồng ý chăm sóc 02 cháu thay anh C. Do sức khỏe đi lại khó khăn nên đề nghị Tòa án cho bà được vắng mặt tại phiên tòa.

Cháu Nguyễn Viết Gia H1 có đơn trình bày nguyện vọng được ở với mẹ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Nguyễn Viết C; giao con chung Nguyễn Viết Gia H1, sinh ngày 28/10/2017 và Nguyễn Thị Bảo C1, sinh ngày 28/12/2020 cho chị Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: do chị H chưa yêu cầu, nên không xem xét. Về chi phí chăm sóc nuôi dưỡng 2 con chung của chị H và anh C từ tháng 8.2024 đến tháng 5/2025, chị H có trách nhiệm hoàn trả cho bà Hà Thị T 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu) đồng.
  • - Về án phí: chị Lê Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng.
    1. Về thẩm quyền: Bị đơn, anh Nguyễn Viết C có địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh xóm E, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Anh C hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài, nên vụ án về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự và các Điều 122, 123 và 127 Luật hôn nhân và gia đình.
    2. Về thủ tục hòa giải: căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không thể tiến hành hòa giải được vì hiện nay anh Nguyễn Viết C vắng mặt tại nơi cư trú và đang ở nước ngoài.
    3. Về sự vắng mặt của đương sự:

      Đối với nguyên đơn, chị Lê Thị H đã trực tiếp đến Tòa án để làm việc, được tiếp cận công khai chứng cứ và trình bày ý kiến của mình, nhưng không tham gia phiên tòa được, nên đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

      Đối với bị đơn, anh Nguyễn Viết C, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo Công văn số 369/QLXNC-Đ1 ngày 20/02/2025 của Phòng Q - Công an tỉnh N thì anh Nguyễn Viết C xuất cảnh ngày 29/08/2023 qua Cửa khẩu sân bay quốc tế N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Chị Lê Thị H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh C tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 và bà Hà Thị T (bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Viết C) cung cấp địa chỉ, tin tức của anh C và thông báo cho anh C biết Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án dân sự về "Tranh chấp hôn nhân và gia đình" theo đơn khởi kiện của chị Lê Thị H, đề nghị anh C gửi lời khai cho Tòa án. Tuy nhiên, ông T1, bà T không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh Nguyễn Viết C, nhưng đã thông tin và anh C đã biết rõ việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án mà anh C là bị đơn và anh C không có ý kiến gì.

      Tòa án đã thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng tại Nhà văn hóa xóm E và tại trụ sở UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An là nơi cư trú cuối cùng của anh Nguyễn Viết C trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Việc anh C không cung cấp địa chỉ và không có ý kiến về vụ án thể hiện anh Nguyễn Viết C cố tình dấu địa chỉ.

      Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

  2. Về nội dung:
    1. Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 34 của UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An thì quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị H và anh Nguyễn Viết C là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc. Tháng 8/2023 anh C đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, từ đó đến nay chưa về lần nào. Do ở cách xa nhau về khoảng cách địa lý chị H và anh C phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng thiếu tin tưởng lẫn nhau, mỗi khi nói chuyện thì xẩy ra to tiếng, cãi vã nhau, không tìm được tiếng nói chung. Đã một thời gian dài chị H và anh C không liên lạc với nhau, tình cảm vợ chồng thực sự đã hết.

      Xét thấy: tình trạng hôn nhân giữa chị Lê Thị H và anh Nguyễn Viết C đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Nguyễn Viết C là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

    2. Về con chung: chị Lê Thị H và anh Nguyễn Viết C có 02 con chung là Nguyễn Viết Gia H1, sinh ngày 28/10/2017, hiện nay học lớp 2A, Trường tiểu học T2, T, Nghệ An và Nguyễn Thị Bảo C1, sinh ngày 28/12/2020, hiện nay học lớp nhỡ B, Trường mầm non T2, T, tỉnh Nghệ An. Từ tháng 8/2023 anh C đi nước ngoài đến tháng 8/2024 đến nay hai con chung của chị H và anh C đang do bà nội của các cháu là bà Hà Thị T (mẹ anh C) trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

      Xét thấy, trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con là của chị H, anh C, ông bà chỉ là là người hỗ trợ, giúp đỡ các con khi cần. Nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng các con của chị H là chính đáng, anh C hiện nay đang ở nước ngoài, chị H đang ở Việt Nam có công việc, nơi ở ổn định, chị H có nguyện vọng được nuôi các con chung, cháu H1 có nguyện vọng được ở cùng mẹ, cháu C1 đang còn nhỏ (sinh năm 2020) nên cần chấp nhận nguyện vọng được nuôi các con chung của chị H đồng thời phù hợp với nguyện vọng của cháu H1.

      Về cấp dưỡng: Không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con, do chị H không yêu cầu.

      Về chi phí chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung của chị H, anh C: bà Hà Thị T cho biết, bà bỏ tiền ra nuôi dưỡng hai cháu từ tháng 8/2024 đến tháng 5/2025 là 10 tháng, mỗi tháng 2.500.000đ/1 cháu = 50.000.000đ. Phần của anh C bà T không yêu cầu hoàn trả, bà yêu cầu chị H phải hoàn trả cho bà số tiền 25.000.000đ. Chị Lê Thị H đồng ý hoàn trả cho bà Hà Thị T số tiền này.

      Xét đây là sự tự nguyện của các đương sự nên cần chấp nhận.

      Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không được ai cản trở. Anh Nguyễn Viết C có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

    3. Về tài sản chung, nợ chung: chị Lê Thị H không yêu cầu và anh Nguyễn Viết C cũng chưa có ý kiến, nên miễn xét.

      Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

    4. Về án phí sơ thẩm: chị Lê Thị H phải chịu 300.000đ chịu án hôn nhân sơ thẩm.

      Án phí cấp dưỡng: chị H đồng ý hoàn trả cho bà T số tiền 25.000.000đ trước khi mở phiên tòa, vì vậy chị H phải chịu 50% án phí đối với khoản tiền phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bà T.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều: 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; 37, 38, 39 Điều 147; khoản 2 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật Tố dụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 2 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Lê Thị H được ly hôn anh Nguyễn Viết C.
  2. Về con chung:
    1. Giao con chung Nguyễn Viết Gia H1, sinh ngày 28/10/2017 và Nguyễn Thị Bảo C1, sinh ngày 28/12/2020 cho chị Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
    2. Về cấp dưỡng: Hội đồng xét xử không xem xét.
    3. Về chi phí nuôi dưỡng con chung của chị Lê Thị H, anh Nguyễn Viết C từ tháng 8/2024 đến tháng 5/2025: ghi nhận sự tự nguyện của chị Lê Thị H, chị Lê Thị H phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Hà Thị T số tiền 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu) đồng.
    4. Người không trực tiếp nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
    5. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: chị Lê Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0061 ngày 31/3/2025 và 625.000 (sáu trăm hai mươi lăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con (chị H chưa nộp).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực, có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến thi hành xong tất cả các khoản tiền. Hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

  5. Về quyền kháng cáo:
    • Chị Lê Thị H vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày Bản án sơ thẩm được niêm yết theo quy định của pháp luật.
    • Anh Nguyễn Viết C đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc Bản án sơ thẩm được niêm yết theo quy định của pháp luật.
    • Bà Hà Thị T có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 30/6/2025).

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Thanh Mai;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Thúy Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 321/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 321/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger