|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 321/2025/HNGĐ-ST Ngày: 02/4/2025 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM GỒM CÓ:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Văn An
- Bà Phan Thị Đôn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phước – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Kim Cương – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 736/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 97/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1988 (Có đơn xin vắng mặt).
- Địa chỉ: E2/26 Ấp *, Tổ *, đường T, xã V, huyện B, Thành phố H.
- - Bị đơn: Ông Sơn L, sinh năm 1990 (Vắng mặt không lý do).
- Địa chỉ: E2/26 Ấp *, xã V, huyện B, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện về việc ly hôn đề ngày 04/7/2024, các bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và biên bản ghi nhận sự việc trong quá trình giải quyết về ly hôn đơn bà Nguyễn Thị Kim T trình bày:
Bà Nguyễn Thị Kim T và ông Sơn L bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2017, có tổ chức đám cưới, do hai bên tự tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh T. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống bình thường không xảy ra mâu thuẫn. Đến năm 2017 khi bà T sinh bé gái đầu lòng thì hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tiền bạc và bà T phát hiện ông Sơn L có người khác, hai vợ chồng đã không còn hạnh phúc và tôn trọng lẫn nhau. Hai vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng và không còn hạnh phúc từ năm 2021 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể hàn gắn và mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu Tòa án cho bà T được ly hôn với ông L.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà T và ông Sơn L có 02 con chung là trẻ Sơn Nguyễn Bảo N (nữ), sinh ngày 20/11/2017 và trẻ Sơn Nguyễn Minh K (nam), sinh ngày 27/5/2021. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là trẻ Sơn Nguyễn Bảo N, sinh ngày 20/11/2017 và trẻ Sơn Nguyễn Minh K, sinh ngày 27/5/2021. Bà T không yêu cầu ông Sơn L cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim T xác nhận quá trình chung sống vợ chồng bà không có tài sản chung, cũng không có nợ ai và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Sơn L vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay mà không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến hay yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đã phát biểu ý kiến như sau:
- Về tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim T đối với ông Sơn L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Nguyễn Thị Kim T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Sơn L. Căn cứ vào kết quả trả lời xác minh của Công an xã V, huyện B, Thành phố H cung cấp: “Đ/s Sơn L, sn: 1990 có đăng ký HKTT tại E2/26 ấp *, xã V, huyện Bình Chánh, TP.HCM và thực tế cư trú tại địa chỉ trên”. Do ông Sơn L hiện đang thực tế cư trú tại xã V, huyện B nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự:
- Ông Sơn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Sơn L.
- Bà Nguyễn Thị Kim T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Kim T.
[3] Về các yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân:
Căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 66/2016 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh T cấp ngày 17/8/2016 thì có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim T và ông Sơn L là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Kim T trình bày: Bà Nguyễn Thị Kim T và ông Sơn L bắt đầu chung sống với nhau vào năm 2017, có tổ chức đám cưới, do hai bên tự tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh T. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống bình thường không xảy ra mâu thuẫn. Đến năm 2017 khi bà T sinh bé gái đầu lòng thì hai vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tiền bạc và bà T phát hiện ông Sơn L có người khác, hai vợ chồng đã không còn hạnh phúc và tôn trọng lẫn nhau. Hai vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng và không còn hạnh phúc từ năm 2021 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể hàn gắn và mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu Tòa án cho bà T được ly hôn với ông Sơn L.
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng mời ông Sơn L đến Tòa án để giải quyết vụ án tranh chấp về ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Kim T và ông Sơn L. Nhưng ông Sơn L vắng đến Tòa án để giải quyết vụ án, cũng không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ý kiến hoặc yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Điều đó cho thấy ông L đã không quan tâm đến tình trạng hôn nhân, không thể hiện thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy, ông L đã từ bỏ bước quyền được chứng minh của mình. Do đó, ông L phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Kim T xác định vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc.
Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”
Căn cứ vào Công văn số 5135/UBND ngày 14/11/2024 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện B, Thành phố H về việc trả lời xác minh tình trạng hôn nhân của bà Nguyễn Thị Kim T và ông Sơn L có nội dung như sau: “Qua rà soát, Tổ hòa giải liên ấp 55-56 chưa có tiếp nhận hồ sơ yêu cầu hòa giải tranh chấp hay mâu thuẫn hôn nhân và gia đình nào của bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1988 và ông Sơn L, sinh năm 1990 đề nghị giải quyết. Do đó Tổ hòa giải liên ấp 55-56 chưa có thực hiện hòa giải mâu thuẫn hôn nhân và gia đình giữa bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1988 và ông Sơn L, sinh năm 1990”.
Xét thấy cuộc sống hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim T và ông Sơn L là không còn hạnh phúc, vợ chồng đã không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình về tình nghĩa vợ chồng. Mặt khác, trong quá trình hòa giải tại Tòa, ông L cũng không đến Tòa án tham gia tố tụng theo giấy triệu tập để Tòa án hòa giải, động viên hai bên đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng, nếu thấy chứng cứ giữa hai người đã không còn tình cảm và không có thiện chí để đoàn tụ. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông L mâu thuẫn là có thật và đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy việc bà Nguyễn Thị Kim T yêu cầu ly hôn với ông Sơn L là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân gia đình. Từ các nhận định trên và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim T đối với ông Sơn L.
[3.2] Về con chung:
Căn cứ lời khai của bà Nguyễn Thị Kim T thì quá trình chung sống bà Thoa và ông Sơn L có 02 con chung là trẻ Sơn Nguyễn Bảo N (nữ), sinh ngày 20/11/2017 và trẻ Sơn Nguyễn Minh K (nam), sinh ngày 27/5/2021. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là trẻ Sơn Nguyễn Bảo N, sinh ngày 20/11/2017 và trẻ Sơn Nguyễn Minh K, sinh ngày 27/5/2021. Bà T không yêu cầu ông Sơn L cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy trẻ Sơn Nguyễn Bảo N và trẻ Sơn Nguyễn Minh K đang sống chung với bà T, bà T đã và đang chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cho trẻ N và trẻ K. Tại biên bản ghi nhận ý kiến trẻ ngày 18/12/2024, trẻ N mong muốn được sống chung với mẹ. Xét thấy nguyện vọng của bà Nguyễn Thị Kim T về con chung là phù hợp và cũng thuận lợi nhất cho trẻ vì bà T là mẹ ruột gần gũi và chăm sóc con từ nhỏ nên bà T có đầy đủ điều kiện chăm sóc con chung tốt hơn ông Sơn L. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của trẻ về mọi mặt, Hội đồng xét xử giao trẻ N và trẻ K cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà T không yêu cầu ông Sơn L cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy đây là sự tự nguyện của bà T nên Hội đồng xét xử ghi nhận, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Sơn L đến khi bà Nguyễn Thị Kim T có yêu cầu.
Tại phiên tòa ông Sơn L vắng mặt, không có bất kỳ văn bản nào trình bày nguyện vọng về con chung khi ly hôn.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim T về con chung: Giao 02 con chung là trẻ Sơn Nguyễn Bảo N và trẻ Sơn Nguyễn Minh K cho bà Nguyễn Thị Kim T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
[3.3] Về tài sản chung:
Bà Nguyễn Thị Kim T xác định quá trình chung sống cùng ông Sơn L không có tài sản chung, không yêu cầu Tóa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề tài sản chung giữa bà Nguyễn Thị Kim T và ông Sơn L. Nếu sau này các bên đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[3.4] Về nợ chung:
Bà Nguyễn Thị Kim T xác định không có nợ chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề nợ chung giữa bà Nguyễn Thị Kim T và ông Sơn L.
[4] Về án phí:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Thị Kim T phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 91, khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Điều 8, 9, 19, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84. 116 và Điều 118 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim T đối với ông Sơn L.
Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim T và ông Sơn L chấm dứt. Giấy chứng nhận kết hôn số 66/2016 do Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh T cấp ngày 17/8/2016 không còn giá trị pháp lý.
-
Về con chung: Giao 02 con chung là trẻ Sơn Nguyễn Bảo N (nữ), sinh ngày 20/11/2017 và trẻ Sơn Nguyễn Minh K (nam), sinh ngày 27/5/2021 cho bà Nguyễn Thị Kim T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng đối với ông Liêm cho đến khi bà Thoa có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Kim T xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề tài sản chung giữa bà Nguyễn Thị Kim T và ông Sơn L. Nếu sau này các bên đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
- Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Kim T xác định không có nợ chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xét đến vấn đề nợ chung giữa bà Nguyễn Thị Kim T và ông Sơn L.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Kim T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/23P/0005899 ngày 20/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Kim T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kim T và ông Sơn L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thanh Huyền |
Bản án số 321/2025/HNGĐ-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 321/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
