|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
|
Bản án số: 321/2025/DS-PT |
|
|
Ngày: 16-6-2025 |
|
|
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. |
|
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Tấn Lợi
- Các Thẩm phán:
- Ông Sỹ Danh Đạt
- Ông Đinh Chí Tâm
- Thư ký phiên toà: Bà Thái Ngọc Thanh Vy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Đổ Trung Đến - Kiểm sát viên.
Ngày 16/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 154/2025/TLPT-DS ngày 23 tháng 4 năm 2025, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2025/DS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 337/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lâm Văn L, sinh năm 1955 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lâm Văn L: Luật sư Ngô Quang T (có mặt); Địa chỉ: Số C, T, Khóm B, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp là Luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ (Theo Quyết định về việc cử Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng số 68/QĐ-TGPL ngày 18/3/2025 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ).
- Bị đơn: Huỳnh Văn Q, sinh năm 1967;
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện T;
Địa chỉ: Khóm C, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Văn N, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T (vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1957 (có mặt);
- Lâm Thị Kim P, sinh năm 1981;
- Lâm Thành V1, sinh năm 1987;
- Lâm Thành V2, sinh năm 1996 (có mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Lâm Thị Kim P, anh Lâm Thành V1 và anh Lâm Thành V2: Ông Lâm Văn L, sinh năm 1955 (có mặt); Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Theo Giấy ủy quyền ngày 28/11/2024).
- Lâm Thị Bạch T1, sinh năm 1970 (có mặt);
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Ủy ban nhân dân huyện T;
- Người kháng cáo: Ông Lâm Văn L là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Lâm Văn L trình bày: Trước đây ông L có mua (nhận chuyển nhượng) của ông Nguyễn Văn D phần đất ruộng diện tích 11.184m², tọa lạc tại ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Ông L đã làm thủ tục chuyển nhượng và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng (QSD) đất. Sau đó ông L mua của ông D phần đất ở diện tích 3.457,53m² (phần đất này nằm liền kề với phần đất ruộng diện tích 11.184m² mà ông L mua của ông D), ông L chưa đăng ký QSD đất. Đồng thời, khi đó trên phần đất này có một số cây tạp do ông Nguyễn Văn L1 trồng, cho nên ông L thỏa thuận mua luôn các cây này của ông L1, hai bên lập Tờ thỏa thuận đề ngày 12/3/1993.
Năm 1995, ông L bán (chuyển nhượng) cho ông Lâm Hữu P1 diện tích 10.000m² đất ruộng. Việc mua bán đất có làm giấy tay, với nội dung ông L bán cho ông P1 01ha đất ruộng, với giá 35 chỉ vàng. Như vậy, phần đất ruộng của ông L còn lại là 1.148m². Sau khi mua bán thì ông L cho ông P1 mượn phần đất diện tích 3.457,53m² để ông P1 sử dụng.
Năm 1996, do ông L và ông P1 phát sinh tranh chấp, nên ông L đòi lại phần đất ở. Tranh chấp giữa ông L với ông P1 đã được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện T và UBND tỉnh Đ giải quyết. Tại quyết định số: 190/QĐ-UB-NĐ ngày 15/6/2000 của UBND tỉnh Đ đã quyết định chuẩn y Quyết định số 980/QĐ-UB ngày 29/10/1999 của UBND huyện T công nhận diện tích 3.457,5m² đất (thuộc một phần thửa số 330, tờ bản đồ số 06, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp) cho ông L được QSD. Ngày 02/11/2000, UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất cho hộ ông Lâm Văn L diện tích 3.457,5m², tờ bản đồ số 06 bao gồm: thửa 380, diện tích 300m² đất thổ cư và thửa 381, diện tích 3.175,5m² đất cây lâu năm.
Đới với thửa đất số 381, ngày 13/12/2013 ông L được UBND huyện T cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất diện tích 1.282,5m², thửa số 381, tờ bản đồ số 06; Mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm; Thời hạn sử dụng đến ngày 15/10/2043; Đất tọa lạc tại Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Theo giấy chứng nhận QSD đất, phần đất này có chiều ngang giáp đường lộ 81m, chiều dài từ đường lộ đến kênh T là 10,5m.
Phần đất của thửa 381 nằm giữa đất của ông Huỳnh Văn Q (con rễ của ông Lâm Hữu P1) và ông Võ Văn R. Năm 2022, ông L phát hiện ông Q đổ đất lấn sang đất ông L chiều ngang khoảng 10m, nên ông L gửi đơn thưa đến Ban N1, xã T. Ngày 22/6/2022, Tổ hòa giải ấp A tiến hành hòa giải giữa ông L với ông Huỳnh Văn Q nhưng hòa giải không thành. Vì vậy, ông L tiếp tục gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp với ông Q và ông R tại UBND xã T. Ngày 12/12/2022 cán bộ địa chính Xã tiến hành đo đạc phần đất tranh chấp giữa ông L với ông Q, xác định phần tranh chấp có chiều ngang giáp đường lộ là 10,3m, chiều dài từ lộ đến kênh T là 10,5m, diện tích 108,15m².
Nay ông L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Huỳnh Văn Q phải trả lại cho ông L phần đất diện tích 137,1m² (Theo diện tích đo đạc thực tế).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu V, chị Lâm Thị Kim P, anh Lâm Thành V1 và anh Lâm Thành V2: Thống nhất theo lời trình bày của ông L, không có ý kiến gì thêm.
- Bị đơn ông Huỳnh Văn Q trình bày: Ông Q không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn L. Bởi vì, vào năm 1997, ông Q có nhận sang nhượng phần đất của vợ chồng ông Nguyễn Văn D1, bà Thái Thị T2 từ mí sông dài tới đất ruộng của ông Đồng Văn L2. Hiện nay ông D1 đã về tỉnh Tiền Giang sinh sống và bị bệnh tai biến nặng không có khả năng đi đứng, còn bà T2 đã về sinh sống tại huyện T, tỉnh Long An. Thời điểm ông Q nhận sang nhượng đất chưa có ai được cấp QSD đất do đất cập bờ kênh T. Khi ông Q mua đất của ông D1 và bà T2 thì vợ chồng ông D1 chỉ ranh khi đó là có đường nước, lấy giữa đường nước làm ranh đất giữa ông Q với ông L, khi đó hai bên không ai tranh chấp.
Thời gian từ năm 1997 đến năm 2023 là 26 năm hai bên quản lý và sử dụng không ai tranh chấp. Hiện nay ông L khởi kiện ông Q cho rằng ông Q bao chiếm phần diện tích 137,1m², thuộc một phần thửa 381, tờ bản đồ số 06 là hoàn toàn không đúng. Năm 2010 Nhà nước làm tuyến dân cư T nên đã san lắp đường nước, có bồi thường tới ranh đường nước, bên của ai thì người đó được hưởng lợi. Ông Q không xâm phạm và không bao chiếm gì đến quyền lợi của ông Lâm Văn L. Năm 2003, ông Q không biết tại sao ông Lâm Văn L lại được cấp giấy chứng nhận QSD đất. Khi đó ông Q là người kế cận cùng chung một ranh mà không được chứng kiến để ký biên bản đo đạc, để xác định ranh giữa ông Q và ông L.
Dãy đất cập bờ kênh T từ trước tới nay Nhà nước chưa cấp QSD đất cho ai thì tại sao ông L có giấy chứng nhận QSD đất. Đất của ông L giáp ranh với đất của ông Q, mấy chục năm qua ông L là người sinh sống tại đây kế bên đất này biết ông Q sử dụng sao không tranh chấp mà đến bây giờ ông L mới tranh chấp. Đồng thời, vào năm 2018 ông L thưa kiện với ông P1 (ông P1 là cha vợ ông Q) về quyền sở hữu các cây trồng trên đất thì khi đó ông L cũng đã xác định ranh đất giáp ranh giữa ông Q với ông L (được thể hiện trên Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ vào ngày 06/8/2019), nếu ông L cho rằng phần đất tranh chấp này là của ông L thì tại sao lại đồng ý để ông Q ký giáp ranh đất. Như vậy, chứng minh đất này do ông Q sử dụng ổn định, lâu dài, không ai tranh chấp mấy chục năm qua. Ranh đất giữa ông Q và ông L có cây cồng (cây me tây) trồng làm ranh, do ông Q trồng hiện nay vẫn còn và hằng năm ông Q cắt, mé nhánh như vậy tại sao ông L không ngăn cản, nếu ông L cho là cây me tây của ông L. Ngoài ra, trên phần đất tranh chấp thì hiện trạng khi ông Q nhận chuyển nhượng của ông D1, bà T2 là đất quần, trủng. Đến năm 2020 ông Q mới đổ đất lên mới có hiện trạng như hôm nay, như vậy ông L cho là đất của ông tại sao ông Q đổ đất thì ông L không ngăn cản.
Đối với việc ông Q đổ đất lên phần đất tranh chấp, do ông Q đổ đất hết toàn bộ diện tích đất ông Q mua của ông D1 và bà T2, nên số lượng đất đổ lên phần đất tranh chấp không xác định cụ thể bao nhiêu. Nay ý kiến ông Q nếu Tòa án giải quyết đất tranh chấp là của ông L thì ông Q không yêu cầu bồi thường gì cả đối với phần đất đổ này, còn cây me tây trên đất thì ông Q sẽ tự nguyện chặt đốn, di dời bằng mọi hình thức.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Bạch T1 trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của ông Q, không có ý kiến gì thêm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện T cung cấp văn bản cho Tòa án trình bày: Quá trình Toà án thụ lý giải quyết, UBND Huyện đã cung cấp những thông tin, tài liệu, chứng cứ để phục vụ công tác xét xử, cũng như để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình theo đúng quy định. Đến nay, UBND Huyện giữ nguyên những thông tin, tài liệu đã cung cấp cho Tòa án. Do bận nhiều công việc nên UBND Huyện đề nghị được vắng mặt tất cả các buổi làm việc, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên xét xử sơ thẩm, phúc thẩm của Tòa án trong vụ kiện này.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 27/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng (viết tắt là bản án sơ thẩm) đã xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn L về việc yêu cầu ông Huỳnh Văn Q trả lại diện tích đất 137,1m² thuộc một phần thửa 331, tờ bản đồ số 06, đất tọa lạc tại ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc ông Lâm Văn L phải chịu toàn bộ chi phí, ông L đã thanh toán xong.
Công nhận sự tự nguyện, thống nhất thỏa thuận về giá trị đất tranh chấp và cây trồng trên đất của các đương sự, cụ thể như sau: Đối với giá trị đất đang tranh chấp có giá trị chuyển nhượng tại thời điểm thị trường hiện nay là: 200.000 đồng/01m² x 137,1m² = 27.420.000 đồng; Cây trồng trên đất: 01 cây me tây đường hoành khoảng 02 mét có giá trị 25.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Lăm Văn L3 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Do ông L3 thuộc trường hợp người cao tuổi nên miễn nộp toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông L3.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên thời hạn, quyền kháng cáo và quyền, nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm. Do không thống nhất bản án sơ thẩm nguyên đơn ông Lâm Văn L nộp đơn kháng cáo đề ngày 11/3/2025 vào ngày 13/3/2025 yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa toàn bộ bản án sơ thẩm và xét xử chấp nhận yêu cầu của ông L đối với ông Huỳnh Văn Q, buộc ông Q phải trả lại cho ông L phần diện tích đất lấn chiếm là 137,1m² tại một phần thửa đất số 331, tờ bản đồ số 06 tọa lạc ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Luật sư Ngô Quang Thế là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Lâm Văn L trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông L. Bởi các căn cứ như: Đất tranh chấp diện tích 137,1m² thuộc thửa 381 có nguồn gốc của ông D chuyển nhượng lại cho ông L, trước đó đã được Nhà nước giải quyết tranh chấp buộc ông P1 giao cho ông L, sau đó ông L đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất; Theo Quyết định thu hồi đất của UBND huyện T thì diện tích đất còn lại đã cấp cho ông L thuộc thửa 381; Theo xác nhận của UBND xã T thể hiện theo Công văn số 22 ngày 16/02/2023 thì đất tranh chấp diện tích 137,1m² thuộc thửa 381; Theo Công văn số 1940 ngày 15/8/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T xác định đất tranh chấp diện tích 137,1m² thuộc thửa 331 chưa ghi nhận ai đứng tên chủ sử dụng đất mà phần đất này do ông L sử dụng.
- Nguyên đơn ông Lâm Văn L trình bày: Thống nhất trình bày của Luật sư Ngô Quang T như nêu trên, không bổ sung gì thêm.
- Bị đơn ông Huỳnh Văn Q trình bày: Không thống nhất theo kháng cáo của ông L. Bởi vì, đất tranh chấp diện tích 137,1m² do ông Q sử dụng từ trước cho đến nay để trồng bạch đằng, me tây và khi đổ đất san lấp thì không ai tranh chấp, nếu là đất của ông L sao ông không tranh chấp khi ông Q đổ đất. Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ vào ngày 06/8/2019 của Tòa án huyện T thì ông Q là người ký giáp ranh khi ông L tranh chấp đất với ông P1. Vì vậy, yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông L và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu V và anh Lâm Thành V2 trình bày: Thống nhất trình bày của Luật sư Ngô Quang T và kháng cáo của ông Lâm Văn L. Bà V trình bày bổ sung, khi ông Q đổ đất san lấp thì gia đình ông L có tranh cản nhưng do lo sợ mâu thuẩn đánh nhau, nên để chồng bà V là ông L khởi kiện để giải quyết tranh chấp đất.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Bạch T1 trình bày: Thống nhất trình bày của ông Huỳnh Văn Q như nêu trên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
- + Về tố tụng: Thủ tục kháng cáo của nguyên đơn ông Lâm Văn L thực hiện đúng quy định và hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử phúc thẩm đã chấp hành và thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của ông Lâm Văn L; tuyên xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2025/DS-ST ngày 27/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng (Kèm theo Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm giải quyết vụ án số: 284/PB-VKS-DS ngày 16/6/2025).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng thụ lý và giải quyết sơ thẩm vụ án “Tranh chấp QSD đất” là đúng quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án. Sau khi xét xử sơ thẩm ông Lâm Văn L không thống nhất bản án sơ thẩm nên đã kháng cáo. Việc ông L nộp đơn kháng cáo đề ngày 11/3/2025 vào ngày 13/3/2025 là trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện hợp pháp của UBND huyện T vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn ông Lâm Văn L cho rằng đất tranh chấp diện tích 137,1m² nằm giữa đất của ông Huỳnh Văn Q và ông Võ Văn R thuộc một phần thửa 381, diện tích 1.282,5m², tờ bản đồ số 06, mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm ông L được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 13/12/2013. Theo giấy chứng nhận QSD đất, phần đất này có chiều ngang giáp đường lộ 81m, chiều dài từ đường lộ đến kênh T là 10,5m. Năm 2022, ông L phát hiện ông Huỳnh Văn Q đổ đất lấn sang đất ông L, nên ông L yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Q phải trả lại cho ông L phần đất diện tích 137,1m². Bị đơn ông Huỳnh Văn Q không thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của ông L cho rằng đất tranh chấp có nguồn gốc là do ông Q nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông Nguyễn Văn D1, bà Thái Thị T2 năm 1997, ông Q đã sử dụng ổn định từ đó cho đến nay mà không có lấn chiếm đất như ông L trình bày. Điều này đã làm phát sinh tranh chấp QSD đất giữa các đương sự.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn L về việc yêu cầu ông Huỳnh Văn Q trả lại diện tích đất 137,1m² thuộc một phần thửa 331 là có cơ sở. Bởi các căn cứ như sau:
- - Việc ông L cho rằng đất tranh chấp diện tích 137,1m² thuộc một phần thửa 381 là không phù hợp thực tế sử dụng đất. Bởi lẽ theo Công văn số: 1940/CNVPĐKĐĐHTH ngày 15/8/2024 và Công văn số: 90/CNVPĐKĐĐHTH -KTĐC ngày 13/01/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T cung cấp thông tin cho Tòa án thể hiện QSD đất diện tích 137,1m² trong phạm vi các mốc M2, M3, M8, M9 đến mốc M2 theo Sơ đồ đo đạc thẩm định tại chỗ ngày 13/12/2023 thuộc một phần thửa 331, tờ bản đồ số 6 theo bản đồ địa chính 299, theo ghi nhận sổ mục kê thì thửa 331 chưa ghi nhận tên chủ sử dụng đất. Theo Công văn số 11/UBND-HC.NĐ ngày 08/01/2025 của UBND xã T và Công văn số 451/UBND-NC ngày 24/4/2024 của UBND huyện T cũng xác định đất tranh chấp diện tích 137,1m² thuộc một phần thửa 331. Như vậy, qua xem xét, thẩm định tại chỗ phần diện tích đất tranh chấp và trên cơ sở xác nhận của các cơ quan có thẩm quyền có đủ căn cứ xác định đất tranh chấp diện tích 137,1m² không thuộc một phần thửa 381 như ông L trình bày mà thuộc một phần thửa 331. Cho nên việc ông L cho rằng phần diện tích đất tranh chấp là thuộc một phần thửa 381 đã cấp giấy chứng nhận QSD đất cho ông là không có căn cứ.
- - Trong quá trình giải quyết vụ án ông L cho rằng đất tranh chấp với ông Q diện tích 137,1m² không nằm trong diện tích đất mà ông L khởi kiện ông Lâm Hữu P1 đã được Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng giải quyết tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2021/DS-ST ngày 26/3/2021 là cũng phù hợp với lời khai của người làm chứng anh Lâm Văn C (anh C là con của ông Lâm Hữu P1) khai nhận phần diện tích đất 137,1m² không nằm trong phần diện tích đất mà ông L thưa kiện với ông P1, theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ vào ngày 06/8/2019 thể hiện ông Q ký Biên bản là người giáp ranh với đất tranh chấp. Như vậy, việc ông L cho rằng phần diện tích 137,1m² là của ông L thì tại sao khi đó ông L không khai phần đất giáp ranh là đất còn lại của ông L mà đồng ý để ông Q ký giáp ranh.
- - Ông L trình bày trên phần đất tranh chấp có cây me tây là do ông Nguyễn Văn L1 trồng, vào năm 1993 ông Lương B lại cho ông L, nhưng qua lời khai của người làm chứng ông L1 cho rằng cây me tây này không phải do ông Lương T3. Mặt khác, tại phiên tòa sơ thẩm ông L thừa nhận từ trước đến nay ông L không chặt, đốn hay mé nhánh cây me tây lần nào, còn ông Q khai nhận hàng năm ông Q chặt, đốn và mé nhánh để sử dụng ông L không tranh chấp gì, nên có cơ sở xác định cây me tây thuộc quyền sở hữu ông Q. Mặt khác, theo lời khai người làm chứng bà Thái Thị T2 khai nhận vào năm 1997 bà T2 cùng ông D1 có chuyển nhượng phần diện tích đất cho ông Q. Đồng thời, vào ngày 13/12/2023 Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với phần đất tranh chấp giữa ông L với ông Q có sự chứng kiến của bà T2 thì bà T2 cũng xác định phần đất ranh mà ông L xác định là không đúng mà cho rằng phần đất ông Q xác định ranh mới đúng.
Từ những nhận định trên cho thấy yêu cầu khởi kiện của ông L là không có cơ sở, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận là có căn cứ.
Đối với chi phí đầu tư, tôn tạo đất và các tài sản trên đất tranh chấp gồm có 01 cây me tây (cây còng) có bề hoành 2m, do các đương sự không có tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Tòa án sơ thẩm không đặt ra giải quyết là phù hợp.
Về thỏa thuận giá trị đất tranh chấp và tài sản, cây trồng trên đất thì ông L, ông Q đã tự nguyện, thống nhất thỏa thuận theo Biên bản thỏa thuận vào ngày 11/11/2024 tại Tòa án, cụ thể như sau: Đối với giá trị đất đang tranh chấp có giá trị chuyển nhượng tại thời điểm thị trường hiện nay là: 200.000 đồng/01m² x 137,1m² = 27.420.000 đồng; Đối với cây trồng trên đất: 01 cây me tây đường hoành khoảng 02 mét có giá trị 25.000.000 đồng. Xét sự thỏa thuận này của các đương sự là tự nguyện và phù hợp pháp luật, nên Tòa án sơ thẩm chấp nhận sự thỏa thuận này là có căn cứ để xem xét giải quyết vụ án, tuy nhiên không nhất thiết phải thể hiện trong phần quyết định của bản án sơ thẩm mà chỉ cần thể hiện trong phần nhận định của Tòa án là đủ.
[4] Tại phiên tòa ông Lâm Văn L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Hội đồng xét xử xét thấy trình bày của ông L là không có đủ căn cứ, đồng thời ông L cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có cơ sở như đã phân tích trên, nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Từ cơ sở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Lâm Văn L, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, cần điều chỉnh cách tuyên cho phù hợp.
[6] Đối với quan điểm và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy là có cơ sở và phù hợp pháp luật, nên được chấp nhận.
[7] Đối với đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Lâm Văn L tại phiên tòa hôm nay như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy là không có đủ cơ sở, nên không được chấp nhận.
[8] Về án phí: Do kháng cáo của ông Lâm Văn L không được chấp nhận, nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên do ông L thuộc trường hợp người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, nên được xét miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lâm Văn L;
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2025/DS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng.
Áp dụng Điều 5; khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 và các điều 91, 92, 147, 157, 218, 227, 228, 244, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 17, 137 và 236 Luật đất đai năm 2024; các điều 164 và 166 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Văn L về việc yêu cầu ông Huỳnh Văn Q trả lại diện tích đất 137,1m² trong phạm vi các mốc M2-M3-M8-M9-M2 theo Sơ đồ đo đạc thẩm định tại chỗ ngày 13/12/2023 và ngày 26/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T thuộc một phần thửa 331, tờ bản đồ số 06, đất tọa lạc tại ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp .
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc ông Lâm Văn L phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc là 8.880.300 đồng, ông L đã nộp tạm ứng và đã thanh toán xong (theo Hóa đơn bán hàng ngày 22/7/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lâm Văn L được xét miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Lâm Văn L được xét miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Tấn Lợi |
Bản án số 321/2025/DS-PT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 321/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lâm Văn L - Huỳnh Văn Q
