|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 3208/2024/DS-ST
Ngày: 18/7/2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga.
-
Các Hội thẩm nhân dân:
-
Ông Võ Văn Lợi
-
Bà Võ Thị Gái
-
-
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sư thụ lý số 593/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024, về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3676/2024/QĐXX-ST ngày 31 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 4511/2024/QĐXXST- DS ngày 24/6/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S
Trụ sở: Số B - 268 đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T (Văn bản ủy quyền số 5411/2023/UQ-TGĐ ngày 28/12/2023).
2. Bị đơn: Bà Đặng Trần Thảo T1, sinh năm: 1995
Địa chỉ: Số A đường N, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP S ông Nguyễn Minh T có đơn xin vắng mặt, bị đơn bà Đặng Trần Thảo T1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn – Ngân hàng TMCP S có
ông Nguyễn Minh T là đại diện ủy quyền trình bày:
Ngày 12/11/2018, bà Đặng Trần Thảo T1 có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà T1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân và lãi suất là 2,6%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 107.863.570 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà T1 đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 98.596.415 đồng (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà T1 vẫn không có thiện chí trả số tiền còn thiếu cho Ngân hàng.
Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (quy định tại Điều 2 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/8/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (quy định tại Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 18/7/2024, bà Đặng Trần Thảo T1 còn nợ các khoản sau: Dư nợ gốc: 25.859.812 đồng; Lãi quá hạn: 35.668.698 đồng. Tổng cộng 61.528.510 (Sáu mươi mốt triệu năm trăm hai mươi tám nghìn năm trăm mười) đồng.
Ngoài ra, bà Đặng Trần Thảo T1 còn có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 19/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng vay đã ký.
Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho Ngân hàng TMCP S, Ngân hàng kính đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn:
-
Buộc bà Đặng Trần Thảo T1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày xét xử 18/7/2024 là 61.528.510 (Sáu mươi mốt triệu năm trăm hai tám nghìn năm trăm mười đồng) trong đó: Dư nợ gốc: 25.859.812 đồng; Lãi quá hạn: 35.668.689 đồng và lãi phát sinh từ ngày 18/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng.
-
Buộc bà Đặng Trần Thảo T1 phải chịu toàn bộ án phí và các chi phí phát sinh có liên quan.
Bị đơn bà Đặng Trần Thảo T1 đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nên Tòa án không thu thập được ý kiến và tài liệu chứng cứ của bà T1 đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
-
Về tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, về thời hạn chuẩn bị xét xử đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức cần rút kinh nghiệm.
-
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Đặng Trần Thảo T1 phải thanh toán cho S1 số tiền 61.528.510 (Sáu mươi mốt triệu năm trăm hai tám nghìn năm trăm mười đồng) trong đó: Dư nợ gốc: 25.859.812 đồng; Lãi quá hạn: 35.668.689 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền:
Nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1) khởi kiện bà Đặng Trần Thảo T1 yêu cầu bà T1 phải thanh toán nợ gốc, lãi quá hạn phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa các bên. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bị đơn bà Đặng Trần Thảo T1 có hộ khẩu thường trú và hiện đang thực tế cư trú tại thành phố T, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nêu trên.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ vào kết quả của Phiếu yêu cầu xác minh số 8610/PYCXM ngày 26/3/2024, Công an phường A, thành phố T trả lời như sau: “Đương sự Đặng Trần Thảo T1 thực tế cư trú tại địa chỉ số A đường N, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh”.
Tuy nhiên, tại các thời điểm Tòa án thực hiện việc tống đạt, bà T1 không có mặt ở nhà, không có ai khác nhận thay văn bản để tống đạt. Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức không thể thực hiện thủ tục tống đạt trực tiếp được cho bà T1.
Do không tống đạt trực tiếp được, Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức đã áp dụng Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự để tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại 03 nơi: Nơi cư trú của bà Đặng Trần Thảo T1 tại địa chỉ số A đường N, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Trụ sở Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T và tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, thời gian niêm yết văn bản tố tụng là 15 ngày kể từ ngày niêm yết. Trong tất cả các lần Tòa án triệu tập, bà Đặng Trần Thảo T1 đều vắng mặt không có lý do. Tòa
án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có Đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[3]. Về nội dung vụ án:
[3.1] Về yêu cầu thanh toán nợ gốc và lãi:
Ngân hàng TMCP S yêu cầu bà Đặng Trần Thảo T1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày xét xử 18/7/2024 là 61.528.510 (Sáu mươi mốt triệu năm trăm hai tám nghìn năm trăm mười đồng) trong đó: Dư nợ gốc: 25.859.812 đồng; Lãi quá hạn: 35.668.689 đồng và lãi phát sinh từ ngày tiếp theo của ngày xét xử cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng tín dụng ngày 12/11/2018 của bà Đặng Trần Thảo T1, Ngân hàng TMCP S đồng ý cấp thẻ tín dụng, hạn mức thẻ tín dụng là 20.000.000 (Hai mươi triệu đồng) lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn theo Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S. Các thỏa thuận này không trái quy định pháp luật nên là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Quá trình tòa án giải quyết vụ án, bị đơn không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án cũng không nhận được văn bản trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì yêu cầu khởi kiện không thuộc trường hợp phải chứng minh. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, Bản tóm tắt sao kê các ngày 24/5/2024, ngày 18/7/2024, tình hình giao dịch của bà T1 và các tài liệu cho thấy: Số thẻ: 472075-3420 bà T1 đã sử dụng giao dịch qua thẻ với số tiền là 107.863.570 đồng. Bà T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 98.596.415 đồng.
Do bà T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng có hiệu lực ngày 15/8/2018), ngày 23/8/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ dụng và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Tính đến hết ngày 18/7/2024 bà T1 còn nợ tổng cộng số tiền là 61.528.510 (Sáu mươi mốt triệu năm trăm hai tám nghìn trăm mười đồng) trong đó: Dư nợ gốc: 25.859.812 đồng; Lãi quá hạn: 35.668.689 đồng.
Xét số tiền nợ gốc Ngân hàng yêu cầu bà T1 thanh toán là 25.859.812 đồng là đúng. Về số tiền lãi, Ngân hàng yêu cầu thanh toán là phù hợp với Thông báo số 113/TB-TTT ngày 04/7/2011 của Trung tâm thẻ về việc thay đổi lãi suất và phí phát hành nhanh của thẻ tín dụng; mục 25 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quy định: “Lãi suất được tính từ ngày Chủ thẻ thực hiện giao dịch cho đến hết ngày việc thanh toán được thực hiện đầy đủ”; mục 1.27 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quy định: “ lãi suất cho vay mà S1 áp dụng đối với các khoản vay
thông qua phát hành thẻ, bao gồm lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn....Lãi suất trong hạn là lãi suất được tính theo Biểu phí lãi suất do S1 công bố trong từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn là mức lãi suất tối đa bằng 150% lãi suất trong hạn”;
Ngân hàng TMCP S là tổ chức tín dụng được phép kinh doanh tiền tệ, căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng thì các tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng. Tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng xác lập ngày 12/11/2018, bà Đặng Trần Thảo T1 cam kết: “Tôi/ chúng tôi xác nhận rằng tôi/chúng tôi đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi Điều Khoản và Điều Kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của S1... ”. Như vậy, lãi suất được Ngân hàng TMCP S sử dụng để tính lãi đối với khoản nợ của bà T1 tính đến ngày xét xử với số tiền lãi 35.668.689 đồng là phù hợp với mức lãi suất quy định nên có căn cứ để chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy có đầy đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP S buộc bà Đặng Trần Thảo T1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm tính đến hết ngày 18/7/2024 là 61.528.510 (Sáu mươi mốt triệu năm trăm hai tám nghìn năm trăm mười đồng) trong đó: Dư nợ gốc: 25.859.812 đồng; Lãi quá hạn: 35.668.689 đồng. Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bà T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử.
[4]. Về án phí:
Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu nên bị đơn phải chịu án phí. Bà Đặng Trần Thảo T1 phải chịu án phí là 3.076.426 đồng (ba triệu không trăm bảy mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi sáu đồng). Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.365.920 đồng theo biên lai thu số 0025662 ngày 15/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
[5].Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
-
Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
-
Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
-
Căn cứ Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014;
-
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với bà Đặng Trần Thảo T1 về việc thanh toán các khoản nợ tín dụng.
Buộc bà Đặng Trần Thảo T1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền là 61.528.510 (Sáu mươi mốt triệu năm trăm hai tám nghìn năm trăm mười đồng) trong đó: Dư nợ gốc: 25.859.812 đồng; Lãi quá hạn: 35.668.689 đồng. Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Đặng Trần Thảo T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
-
Về án phí: Bà Đặng Trần Thảo T1 phải chịu án phí là 3.076.426 đồng (ba triệu không trăm bảy mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi sáu đồng). Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.365.920 (Một triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn chín trăm hai mươi) đồng theo biên lai thu số 0025662 ngày 15/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức. Bà Đặng Trần Thảo T1 chưa nộp án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
-
Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần S, bà Đặng Trần Thảo T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Nga |
Bản án số 3208/2024/DS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 3208/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
