Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 320/2024/DS-PT

Ngày: 31-7-2024

V/v “Tranh chấp đòi lại quyền sử

dụng đất và hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Những

Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Luyến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Phát – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 24 và 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 236/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 6 năm 2024, về việc: “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 238/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Dương Thị M, sinh năm 1972
  • Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện M, tỉnh Long An.
  • Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Dương Công T, sinh năm 1979
  • Địa chỉ: ấp M, xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
  • - Bị đơn: Bà Giảng Thanh T1, sinh năm 1971
  • Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện M, tỉnh Long An.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Anh Nguyễn Dương Hoài N, sinh năm 1998
    2. Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện M, tỉnh Long An.
    3. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1972
    4. Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện M, tỉnh Long An.
    5. Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1989
    6. Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện M, tỉnh Long An.
    7. Phạm Thị N1, sinh năm 1946
    8. Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện M, tỉnh Long An.
  • - Người kháng cáo: Bà Dương Thị M.

(Các đương sự có mặt, anh T3 có đơn đề nghị vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Bà M đứng tên quyền sử dụng thửa đất số 100, tờ bản đồ số 07, đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện M, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 601112, số vào sổ CS00495 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 16-01-2018. Tuy nhiên vào khoảng tháng 06-2017, bà M bị bệnh sốt xuất huyết não phải nhập viện tại Bệnh viện C1 để điều trị thì anh N (con của bà M) với bà T1 thỏa thuận việc vay tiền như thế nào bà M không biết, anh N bị bà T1 buộc ký tên vào giấy tay bán 02 công đất ruộng khi chưa được sự đồng ý của bà M. Sau đó bà T1 đã tiến hành xây dựng nhà sàn ở trên đất vào lúc không có mặt bà M tại địa phương. Do đó bà M khởi kiện yêu cầu bà T1 và những người ở trên đất có nghĩa vụ liên đới tháo dỡ toàn bộ nhà ở, công trình xây dựng trên thửa đất số 100, khôi phục lại hiện trạng và trả lại diện tích đất 2.100m² thuộc một phần thửa đất số 100. tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện M, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 11-2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện M đo vẽ, được phê duyệt ngày 28-02-2019. Đối với yêu cầu phản tố của bà Giảng Thanh T1 thì bà M không đồng ý.

Bị đơn bà Giảng Thanh T1 trình bày: Vào tháng 8-2017, bà T1 có thỏa thuận nhận chuyển nhượng 02 công đất của anh N và bà M với giá 55.000.000 đồng/01 công. Ngày 07-9-2017, hai bên có yêu cầu Công ty P tiến hành đo đạc đất để tách thửa, bà M là người trực tiếp xác định ranh giới để đo đạc tách thửa cho bà T1. Hai bên thỏa thuận chuyển nhượng đất và giao tiền tại nhà của bà T1, bà T1 đã giao cho anh N tổng cộng là 60.000.000 đồng, việc giao tiền được thực hiện nhiều lần. Sau đó, Công ty P đã ban hành Mảnh trích đo địa chính sơ bộ nhưng vì thửa đất số 100 có nguồn gốc là của bà M và chồng là ông T4 tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, ông T4 đã chết nên bà M và anh N phải làm thủ tục thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, sau đó mới tiếp tục làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất được.

Khoảng tháng 11 năm 2017, bà T1 tiến hành xây nhà sàn trên đất, bà M biết nhưng không có ý kiến và có xin ở nhờ nhà của bà T1 để đi làm thuê (dặm lúa). Đến ngày 07-12-2017 thì anh N có gặp bà T1 nhận thêm 25.000.000 đồng và thống nhất ký vào biên nhận với nội dung đồng ý nhận tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất tổng cộng là 85.000.000 đồng.

Đến tháng 01-2018, sau khi bà M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ thửa đất số 100 theo thủ tục thừa kế thì gia đình bà M đổi ý, không tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà T1 như đã cam kết.

Nay bà M khởi kiện yêu cầu bà T1 và những người ở trên đất có nghĩa vụ liên đới trả lại toàn bộ diện tích đất 2.100m² và di dời toàn bộ công trình, nhà ở mà vợ chồng bà T1 đã xây dựng trên đất thì bà T1 không đồng ý. Đồng thời bà T1 có đơn khởi kiện phản tố, yêu cầu vô hiệu Văn bản phân chia di sản thửa kế và công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T1 với anh N đối với phần đất có diện tích 2.100m² thuộc một phần thửa đất số 100, tờ bản đồ số 07, đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện M, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 11-2019 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện M đo vẽ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Dương Hoài N trình bày: Vào năm 2017, do cần tiền nên anh N có vay của bà M tổng cộng là 85.000.000 đồng. Để làm tin nên anh đã đồng ý ký tên vào biên nhận ngày 07-12-2017 với nội dung đồng ý cùng bà M chuyển nhượng đất cho bà T1. Do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đứng tên cá nhân bà M nên anh N không có quyền chuyển nhượng đất. Anh N đề nghị trả lại tiền đã vay cho bà M là 85.000.000 đồng và đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt anh N.

Anh Nguyễn Văn T3 Trình bày: Anh T3 là con ruột của ông Nguyễn Văn T5 và bà Lê Thị C, ông T5 và bà C đã ly hôn, sau đó ông T5 kết hôn với bà Dương Thị M. Quyền sử dụng thửa đất số 100 là do ông T5 và bà M đứng tên được tạo lập sau khi ông T5 và bà C đã ly hôn. Tại thời điểm bà M và anh N thực hiện các thủ tục phân chia di sản thừa kế thì anh T3 biết nhưng anh T3 không có yêu cầu, không nhận phần di sản của ông T5 để lại. Anh T3 xác định không có tranh chấp, không có yêu cầu gì trong vụ án này, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh T3.

Ông Nguyễn Văn T2 trình bày: Ông T2 là chồng của bà T1 cùng sinh sống với bà T1 trên căn nhà tại phần đất các bên đang tranh chấp. Ông T2 thống nhất với toàn bộ ý kiến của bà T1, không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà M và thống nhất theo yêu cầu phản tố của bà T1. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do bà T1 đứng tên nhận chuyển nhượng và giao tiền nên đề nghị công nhận cho bà T1, ông T2 không có tranh chấp, yêu cầu gì trong vụ án.

Phạm Thị N1 trình bày: Bà N1 là mẹ của bà T1, bà N1 cùng sinh sống với bà T1 trên căn nhà tại phần đất các bên đang tranh chấp. Bà N1 thống nhất với toàn bộ ý kiến của bà T1, không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà M và thống nhất theo yêu cầu phản tố của bà T1. Bà N1 không có tranh chấp, yêu cầu gì trong vụ án.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa đã tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị M đối với bà Giảng Thanh T1, về việc đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất.
  2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện phản tố của bà Giảng Thanh T1 đối với bà Dương Thị M và anh Nguyễn Dương Hoài N, về việc yêu cầu tuyên vô hiệu văn bản phân chia di sản thừa kế và công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
    1. Tuyên vô hiệu Văn bản thỏa thuận phân chia di sản ngày 08-01-2018 đối với quyền sử dụng thửa đất số 100, tờ bản đồ số 07, đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện M, tỉnh Long An, được Ủy ban nhân dân xã B chứng thực.
    2. Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07-12-2017 giữa người chuyển nhượng anh Nguyễn Dương Hoài N với người nhận chuyển nhượng bà Giảng Thanh T1 đối với phần đất có diện tích 2.100m² (ô số 02) thuộc một phần thửa đất số 100, thuộc tờ bản đồ số 07, đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện M, tỉnh Long An. Vị trí, diện tích phần đất theo Mảnh trích đo địa chính số 11-2019 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện M đo vẽ, được phê duyệt vào ngày 28-02-2019.

Giảng Thanh T1 được quyền liên hệ cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền để thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất, kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Trường hợp bà Dương Thị M không tự nguyện giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà Giảng Thanh T1 được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện các thủ tục điều chỉnh biến động, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Dương Thị M.

    1. Dương Thị M được quyền liên hệ cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền để thực hiện thủ tục điều chỉnh biến động, kê khai, đăng ký cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định đối với phần diện tích còn lại là 3.959m² (ô số 01) thuộc một phần thửa đất số 100, tờ bản đồ số 07, đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện M, tỉnh Long An. Vị trí, diện tích phần đất theo Mảnh trích đo địa chính số 11-2019 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện M đo vẽ, được phê duyệt vào ngày 28-02-2019.
  1. Về chi phí tố tụng:

Dương Thị M có nghĩa vụ chịu toàn bộ chi phí tố tụng là 7.312.000 đồng (bảy triệu ba trăm mười hai nghìn đồng), bà Dương Thị M đã nộp xong.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Dương Thị M có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003470 ngày 29 tháng 8 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.

Dương Thị M và anh Nguyễn Dương Hoài N có nghĩa vụ liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.

Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực. Ngày 17/4/2024, bà Dương Thị M kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà T1.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Dương Thị M trình bày: Bà không có nhận tiền của bà T1. Bà không biết anh N nhận tiền của bà T1 và anh N sử dụng tiền vào việc gì. Khi bà phát hiện bà T1 cất nhà trên đất của bà, bà mới yêu cầu bà T1 trả đất, không có việc khi bà T1 cất nhà bà có xin ở nhờ tại nhà bà T1. Ông T5 là chồng của bà chết, những người thừa kế của ông T5 hiện còn gồm: Bà, mẹ chồng bà, anh N và anh T3. Bà M và ông T đại diện bà M yêu cầu cấp phúc thẩm cải sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Bà M tự nguyện liên đới cùng anh N trả lại bà T1 85.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại cho bà T1 theo pháp luật quy định. Bà M tự nguyện hỗ trợ chi phí tháo dỡ, di dời nhà bà của T1 số tiền 15.000.000 đồng.

Giảng Thanh T1 trình bày: Bà có đưa tiền cho anh N nhiều lần tổng cộng 85.000.000 đồng, sau khi thỏa thuận chuyển nhượng đất và nhận tiền thì ông N đã giao đất nên bà có cất 01 căn nhà tiền chế trên một phần diện tích nhận chuyển nhượng và lần nhận tiền sau cùng mới ký giấy bán đất cho bà T1. Bà T1 cũng thừa nhận rằng thời điểm bà cất nhà sàn tiền chế trên đất lúa thì bà chỉ sử dụng đối với phần diện tích có nhà, phần diện tích còn lại bên ông N cho người khác thuê đất canh tác, đến khi hết hạn thuê thì bà mới lấy lại đất từ người thuê. Bà T1 đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm.

Ông T2, bà N1 thống nhất với lời trình bày của bà T1.

Anh Nguyễn Dương Hoài N Trình bày: Anh N thừa nhận có nhận tiền của bà T1 nhiều lần tổng cộng 85.000.000 đồng và có ký tên bán 02 công đất. Anh không có cho bà M biết và sử dụng tiền vào mục đích cá nhân. Nay anh đồng ý liên đới cùng bà M trả lại bà T1 85.000.000 đồng và và bồi thường thiệt hại cho bà T1 theo pháp luật quy định. Bà M tự nguyện hỗ trợ chi phí tháo dỡ, di dời nhà bà T1 số tiền 15.000.000 đồng anh cũng đồng ý. Anh không có giao đất cho bà T1 mà bà T1 tự chiếm sử dụng trong lúc anh và bà M không có mặt tại địa phương.

Các đương sự thống nhất sử dụng chứng thư thẩm định giá năm 2019 làm căn cứ giải quyết vụ án.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

  1. Về chấp hành pháp luật:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật từ khi thụ lý giải quyết vụ án để xét xử phúc thẩm đến trước thời điểm nghị án. Người tham gia tố tụng (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.

  1. Về giải quyết vụ án:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của các bên đương sự và xét kháng cáo của bà Dương Thị M, thấy rằng:

Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/12/2017 giữa ông N với bà T1 đối với một phần thửa 100 (diện tích 2.100 m²), thấy rằng:

Quyền sử dụng đất tại thửa số 100, diện tích 6.059m² tờ bản đồ số 07, đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện M, tỉnh Long An được xác định là tài sản chung của ông T5 và bà M tạo lập trong thời kỳ kết hôn trước khi ông T5 chết. Ông T5 chết vào ngày 29/8/2015 nên ½ tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 100 là di sản thừa kế của ông T5 để lại; còn ½ tài sản còn lại là của bà M. Nên ông N cũng được thừa hưởng một phần di sản thừa kế từ ông T5.

Tòa án cấp sơ thẩm lại nhận định cho rằng tại thời điểm mở thừa kế ông T5 có 03 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là bà M (vợ ông T5), cùng 02 con là ông N và ông T3 nhưng ông T3 không có yêu cầu nhận di sản thừa kế nên di sản của ông T5 chỉ có 02 người được hưởng là bà M và anh N là chưa phù hợp vì trong hồ sơ thể hiện không có văn bản từ chối nhận di sản của ông T3. Mặt khác, ông T đại diện của bà M và bà M trình bày mẹ của ông T5 là bà Q hiện tại vẫn còn sống.

Ngày 07/12/2017, ông N thỏa thuận chuyển nhượng cho bà T1 một phần đất có diện tích là 02 công (tương đương 2.000m²), không ghi rõ vị trí đất, giá bán 55 triệu/01 công và bà T1 đã giao cho ông N nhận số tiền 85.000.000 đồng, còn 25.000.000 đồng sẽ giao khi hoàn tất giấy tờ sang tên. Tuy nhiên, ông N thực hiện quyền chuyển nhượng cho bà T1 trong khi phần di sản thừa kế của ông T5 chưa được các đồng thừa kế phân chia, cũng chưa xác định được kỷ phần thừa kế của ông N được hưởng trong khối di sản. Trong khi đó, phần di sản của ông T5 để lại là 6.059m² : 2 = 3.029.5m², chia thành 04 kỷ phần thì cũng chỉ có 757.375m² (3.029.5m² : 4), kể cả nếu phải chia thành 02 phần như bản án sơ thẩm đã nhận định diện tích ông N được hưởng cũng chỉ có 1.514,75m² (3.029.5m² : 2) thì việc ông N chuyển nhượng cho bà T1 2.000m² là vượt quá kỷ phần thừa kế được nhận, ảnh hưởng đến quyền lợi của các đồng thừa kế còn lại.

Hơn nữa, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định cho rằng bà M (mẹ của ông N) biết rõ, thống nhất việc chuyển nhượng này là chưa phù hợp. Bởi lẽ: Theo nội dung "Biên nhận tiền bán ruộng" được lập bằng giấy tay ghi ngày 07/12/2017 giữa ông N với bà T1 thể hiện ông N có nhận tiền của bà T1 số tiền 85.000.000 đồng, với lý do ông N cùng mẹ là bà Dương Thị M có bán cho bà T1 02 công đất ruộng với số tiền 110.000.000 đồng, phần còn lại 25.000.000 đồng khi nào giấy tờ sang nhượng quyền sử dụng đất ruộng xong thì bà T1 sẽ trả đủ. Tuy nhiên, giấy biên nhận này chỉ có ông N ký tên, hoàn toàn không có chữ ký của bà M; cũng không có chứng cứ thể hiện bà M có cùng ông N chuyển nhượng đất cho bà T1 vì chính bà T1 cũng thừa nhận rằng trong suốt quá trình bà và ông N thỏa thuận chuyển nhượng đất và giao tiền, giao đất thì hoàn toàn không có mặt bà M. Bà M xác định không biết việc ông N đã tự ý bán đất cho bà T1. Đồng thời, đối với việc bà M ký tên biên bản xác định ranh mốc giới ngày 07/9/2017 với các chủ đất liền kề theo bà M trình bày là nhằm mục đích để khai nhận lại di sản, không phải tách thửa để chuyển nhượng đất, bên cạnh đó việc ông N ký chuyển nhượng cho bà T1 là sau thời điểm này (là ngày 07/12/2017) nên xác định chủ thể thỏa thuận chuyển nhượng đất chỉ có ông N và bà T1, không có bà M.

Mặt khác, đối tượng là phần đất 2.000m² anh N chuyển nhượng cho bà T1 là không rõ ràng, giấy tay không có ghi vị trí cụ thể, các bên cũng không có biên bản bàn giao đất. Bên bà T1 cho rằng ông N đã giao đất nên sau khi thỏa thuận chuyển nhượng đưa tiền cho anh N thì bà có cất 01 căn nhà tiền chế trên một phần diện tích nhận chuyển nhượng, trong khi đó anh N xác định do cần tiền tiêu xài nên có mượn bà T1 04 lần tiền tổng cộng 85.000.000 đồng, sau cùng mới ký giấy bán đất cho bà T1, anh N không có giao đất cho bà T1 vì phần đất đó ông vẫn cho người khác thuê đất. Bà T1 cũng thừa nhận rằng thời điểm bà cất nhà sàn tiền chế trên đất lúa thì bà chỉ sử dụng đối với phần diện tích có nhà, phần diện tích còn lại bên anh N cho người khác thuê đất canh tác, đến khi hết hạn thuê thì bà mới lấy lại đất từ người thuê. Do đó, chưa đủ cơ sở để xác định phần đất mà bà T1 đang sử dụng hiện nay là phần đất đã nhận chuyển nhượng từ anh N.

Như vậy, như đã phân tích trên thì cần tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N với bà T1 lập ngày 07/12/2017 và xem xét giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Tại phiên tòa, bà M tự nguyện cùng ông N hoàn trả tiền 85.000.000 đồng mà N đã nhận của bà T1, bồi thường thiệt hại và hỗ trợ thêm tiền di dời nhà cho bà T1 nên cần buộc trách nhiệm liên đới của bà M cùng với ông N khi giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Theo Biên nhận nhận tiền lập ngày 07/12/2017 thì giá đất anh N và bà T1 thỏa thuận là 55.000.000đồng/1000m² (01 công). Bà T1 đã giao cho anh N 85.000.000 đồng tương đương với 1.545m². Giá đất theo chứng thư thẩm định giá là 90.000 đồng/m² x 1.545m²= 139.050.000 đồng - 85.000.000 đồng = 54.050.000 đồng là giá trị chênh lệch nên anh N và bà T1 mỗi người chịu ½ là 27.025.000 đồng. Buộc bà T1, ông T2, bà N1 liên đới tháo dỡ, di dời căn nhà diện tích 85,41m² có kết cấu: cột thép, vách tole thiếc, sàn gỗ tạp, mái tole thiếc, xà gồ thiếc (theo chứng thư thẩm định giá năm 2019) để trả lại cho bà M quyền sử dụng đất tại vị trí số 2 có diện tích 2.100m², thuộc một phần thửa đất số 100, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện M, tỉnh Long An. Bà T1, ông T2, bà N1 được quyền lưu cư trong thời hạn 03 tháng tính từ ngày 31/7/2024.

- Đối với văn bản thỏa thuận phân chia di sản lập ngày 08/01/2018 giữa ông N và bà M:

Ông N đã thỏa thuận chuyển nhượng cho bà T1 theo như "Biên nhận tiền bán ruộng" lập ngày 07/12/2017 nhưng đến ngày 08/01/2018 ông N và bà M lại lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản để thống nhất để lại toàn bộ di sản cho bà M là nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà T1. Hơn nữa, việc thỏa thuận phân chia di sản nêu trên đã bỏ sót ông T3 và mẹ của ông T5 là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T5. Tại Tòa án cấp sơ thẩm các đương sự không có khai nhận việc mẹ của ông T5 còn sống, đến khi kháng cáo ông T trình bày tình tiết mới này nên Tòa án không đưa vào tham gia tố tụng; tuy nhiên cũng không cần thiết phải hủy án để đưa mẹ ông T5 vào tham gia tố tụng vì như đã phân tích ở trên thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N với bà T1 lập ngày 07/12/2017 bị vô hiệu nên không cần thiết phải vô hiệu văn bản thỏa thuận phân chia di sản lập ngày 08/01/2018 giữa ông N và bà M, vì vậy không ảnh hưởng đến quyền lợi của mẹ ông T5 đối với kỷ phần thừa kế được hưởng; ông T3 cùng với mẹ của ông T5 là hàng thừa kế của ông T5 bị bỏ sót thì có thể khởi kiện đối với văn bản thỏa thuận phân chia di sản lập ngày 08/01/2018 bằng vụ án khác. Do đó, không cần thiết phải vô hiệu đối với văn bản thỏa thuận phân chia di sản ngày 08/01/2018 như bản án sơ thẩm đã tuyên. Như vậy, nguyên đơn bà M khởi kiện là có căn cứ nên cần được chấp nhận; yêu cầu phản tố của bà T1 là không có cơ sở để chấp nhận. Kháng cáo của bà M là có căn cứ chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà M không phải chịu. Bà T1 được miễn án phí.

[6] Về chi phí tố tụng là 7.312.000 đồng anh N, bà T1 mỗi người chịu ½ trả lại cho bà M.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bà M không phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Chấp nhận kháng cáo của bà Dương Thị M.

Sửa toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/DS-ST ngày 05 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.

Căn cứ Điều 5; Khoản 9, Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 165; Điều 228; Điều 147, 148, 271, 273; Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ các điều 117, 122, 131, 288 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 170 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị M đối với bà Giảng Thanh T1 về việc đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất.

Buộc bà Giảng Thanh T1, ông Nguyễn Văn T2, bà Phạm Thị N1 phải tháo dỡ di dời căn nhà có diện tích 85,41m², nhà có kết cấu: cột thép, vách tole thiếc, sàn gỗ tạp, mái tole thiếc, xà gồ thiếc (theo chứng thư thẩm định giá năm 2019) để trả lại cho bà M quyền sử dụng đất tại vị trí số 2 có diện tích 2.100m², thuộc một phần thửa đất số 100, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện M, tỉnh Long An.

Giảng Thanh T1, ông Nguyễn Văn T2, bà Phạm Thị N1 được quyền lưu cư trong thời hạn 03 tháng tính từ ngày 31/7/2024.

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà Giảng Thanh T1 đối với bà Dương Thị M và anh Nguyễn Dương Hoài N về việc yêu cầu tuyên vô hiệu văn bản phân chia di sản thừa kế và công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Biên nhận ngày 07-12-2017 giữa người chuyển nhượng là anh Nguyễn Dương Hoài N với người nhận chuyển nhượng là bà Giảng Thanh T1 đối với phần đất tại vị trí số 2 có diện tích 2.100m², thuộc một phần thửa đất số 100, tờ bản đồ số 07, đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện M, tỉnh Long An.

(Vị trí, diện tích phần đất tại vị trí số 2 nêu trên theo Mảnh trích đo địa chính số 11-2019 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện M, tỉnh Long An đo vẽ, được phê duyệt vào ngày 28-02-2019).

    1. Dương Thị M, anh Nguyễn Dương Hoài N phải liên đới hoàn trả cho bà Giảng Thanh T1 tổng cộng là 127.025.000 đồng (Một trăm hai mươi bảy triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
  1. Về chi phí tố tụng: Bà Giảng Thanh T1, anh Nguyễn Dương Hoài N mỗi người chịu 3.656.000 đồng (Ba triệu sáu trăm năm mươi sáu nghìn đồng) trả lại cho bà Dương Thị M.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Dương Thị M, anh Nguyễn Dương Hoài N có nghĩa vụ liên đới chịu 6.351.000 đồng (sáu triệu ba trăm năm mươi mốt nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng án phí bà M đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003470 ngày 29 tháng 8 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.

Giảng Thanh T1 được miễn.

  1. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Dương Thị M không phải chịu. Hoàn lại cho bà M 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002838 ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.
  1. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  1. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Mộc Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Mộc Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Hữu Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 320/2024/DS-PT ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 320/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị M
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger