|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 320/2024/HS-ST
Ngày: 11/12/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Kế Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phí Văn Chân
Ông Nguyễn Minh Tuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Linh, Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 338/2024/TLST-HS ngày 27/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 325/2024/QĐXXST-HS ngày 29/11/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Tống Duy N, Sinh năm: 2001. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Nơi TT: số nhà A, ngõ B đường N, tổ G, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái chính trị: Không. Bố đẻ: Ông Tống Duy T, mẹ đẻ: Bà Hoàng Thị H. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai. Vợ, con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/9/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận B, thành phố Hà Nội - Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 2000.
TT: Thôn B Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 20/9/2024, tổ công tác Công an phường C, quận B, thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tại đường T thì phát hiện 02 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Tại chỗ, tổ công tác thu giữ tại túi quần bên trái của Tống Duy N 01 túi nilong kích thước 3x7cm bên trong có chứa thảo mộc khô, N khai là ma túy cần sa đang chuẩn bị bán và giao cho nam thanh niên đối diện. Tổ công tác cũng thu giữ trên bàn tay phải của Nguyễn Văn T1 người đứng đối diện N 600.000 đồng, T1 khai đi nhận đồ hộ một người tên là N1 (không rõ nhân thân, lai lịch). Công an đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật và biên bản bắt quả tang rồi đưa tất cả về trụ sở để điều tra làm rõ. (BL 28-29)
Quá trình làm việc cơ quan công an, N khai nhận vẫn còn 01 túi nilong chứa ma túy cần sa cất giấu ở phòng trọ nên N đã tự nguyện dẫn cơ quan công an về phòng trọ tại số G ngách E đường M, phường M, quận N giao nộp cho cơ quan công an gói ma túy nêu trên và cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án. Số ma túy này N khai nếu ai hỏi mua sẽ bán lại kiếm lời (BL 52).
Vật chứng thu giữ: Thu giữ của Tống Duy N: (BL 32-33) 01 (một) túi nilong màu trắng kích thước 3x7cm bên trong có chứa thảo mộc khô. 01 (một) túi nilong màu trắng bên trong có chứa thảo mộc khô, kích thước túi (4x8)cm. 01 (một) điện thoại đi dộng Iphone XS Max, lắp số thuê bao 0399798605.
Thu giữ của Nguyễn Văn T1: (BL 31) 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xanh, lắp sim số 0589506761. Tiền mặt: 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng).
Ngày 20/9/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận B ra Quyết định trưng cầu giám định số 4724 trưng cầu Phòng K Công an thành phố H giám định chất ma túy đã thu giữ của Tống Duy N. (BL 36)
Kết luận giám định số 6887 ngày 29/9/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: (BL 40) Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilong kích thước (3x7)cm là Cần sa, khối lượng: 1,694 gam. Thảo mộc khô bên trong 01 túi nilong kích thước (4x8)cm là Cần sa, khối lượng 3,012 gam. Tổng khối lượng ma túy Cần sa, cơ quan điều tra đã thu giữ của Tống Duy N là: 4,706 gam.
Quá trình điều tra xác định: Tống Duy N là người nghiện ma túy, nhận thấy việc mua bán ma túy thu được lợi nhuận cao nên N đã comment một số hội nhóm trên mạng xã hội Nam không nhớ rõ những hội nhóm nào) về việc bản thân N có ma túy cần sa để bán.
2
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 20/9/2024, có nick facebook "Mies Ngọc" nhắn tin hỏi mua 02 gam ma túy cần sa của Tống Duy N. N báo giá 600.000 đồng, N1 đồng ý. Cả hai thống nhất hẹn nhau đến số A đường T để giao dịch mua bán. Sau đó, N lên mạng xã hội telegram hỏi mua được 05 gam ma túy cần sa với giá 700.000 đồng. Đến khoảng 17h00' cùng ngày thì có một người nam giới giao ma túy cần sa đến số E đường M. Sau khi nhận được ma túy, N mang lên phòng trọ và lấy ra một ít cất giấu tại phòng, số còn lại M đi bán cho khách ở đường T.
Đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 20/9/2024, Nguyễn Văn T1 sử dụng số điện thoại 0589.506.xxx gọi điện cho N bảo đang đứng chờ ở số A đường T. Hiểu được người mua đã đến điểm hẹn chờ, N cầm số ma túy vừa chia ra bắt xe ôm đi đến địa điểm giao dịch. Khi đến nơi, N thấy T1 đang đứng chờ sẵn. N tiến lại gần và lấy gói ma túy đang để trong túi quần bên phải đang mặc ra để đưa cho T1 thì đúng lúc này bị lực lượng công an kiểm tra, bắt giữ. Tại chỗ, cơ quan công an thu giữ trên tay phải Nam 01 túi nilong kích thước 3x7cm bên trong chứa ma túy cần sa mang theo để bán cho người mua có tên facebook "Mies Ngọc", thu giữ trên tay phải của T1 600.000 đồng. Cơ quan điều tra đã lập biên bản đưa các đối tượng về trụ sở điều tra làm rõ.
Tại cơ quan điều tra, Tống Duy N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên và khai chỉ thực hiện hành vi một mình, tiền mua ma túy do bản thân lao động mà có. (BL 66-81)
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T1 khai: khoảng 17 giờ 00 phút ngày 20/9/2024, T1 đang đi bộ trên đường T thì gặp N1 là bạn xã hội hay gặp ở quán nét số E đường C, N1 nhờ T1 nhận hộ túi hàng mua qua mạng để N1 ra chợ mua ít đồ ăn, N1 không nói túi hàng là ma túy cần sa. N1 đưa cho T1 số tiền 600.000 đồng tiền túi hàng và số điện thoại 0399.798.xxx của Tống Duy N - người giao hàng. T1 gọi điện cho N và đứng chờ ở số A đường T. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, N đền gặp T1 và xác nhận mang hàng đến cho N1. T1 lấy tiền ra cầm ở tay phải để đưa cho N thì bị cơ quan công an kiểm tra bắt giữ. Do T1 chỉ nhận hộ đơn hàng cho N1, bản thân T2 không biết đơn hàng là ma túy cần sa nên cơ quan điều tra không xử lý. (BL 82-90). Đối với đối tượng tên N1 - sử dụng facebook "Mies N1” hỏi mua ma túy của N. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát trên đường T nơi N1 gặp và nhờ T2 đi lấy túi hàng chứa ma túy cần sa và tại quán internet số E đường C và các quán internet khác trên địa bàn phường C nhưng chưa phát hiện được. Do không làm rõ được nhân thân lai lịch đối với N1 nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý. (BL 56-57, 66-90)
3
Đối với người bán ma túy cho Tống Duy N, N khai hỏi mua trên mạng xã hội telegram (không nhớ tên nick) sau khi mua bán đã xóa toàn bộ tin nhắn và thông tin liên quan. Ngoài lời khai của N không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh nên nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ. (BL 82-90)
Đối với người lái xe ôm đưa Tống Duy N đến địa điểm bán ma túy, N không quen biết, không rõ nhân thân lai lịch. Quá trình đi xe N không nói gì về việc bản thân đang mang ma túy đi bán cho khách nên cơ quan điều tra không cần thiết phải xác minh làm rõ. (BL 66-81)
Đối với số ma túy, 02 chiếc điện thoại di động và 600.000 đồng thu giữ của Tống Duy N và Nguyễn Văn T1 là những đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội, hiện thu giữ theo hồ sơ vụ án. (BL 31-33)
Bản Cáo trạng số 333/CT-VKSBTL ngày 26/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố bị cáo Tống Duy N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của bị cáo đã kết luận, giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 47, Điều 38 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù. Không phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có thu nhập ổn định.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy sau giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Tống Duy N, cán bộ Công an phường và Giám định viên;
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone Xsmax màu đen, đã qua sử dụng, lắp sim số thuê bao 0399798605; 01 (một) chiếc điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu xanh, lắp sim số thuê bao 0589506761; Số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
4
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm pháp quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 20/9/2024, tại số A đường T, phường C, quận B, thành phố Hà Nội, Tống Duy N đang bán trái phép 1,694 gam ma túy Cần sa cho khách để kiếm lời thì bị tổ công tác Công an phường C bắt quả tang cùng vật chứng. Quá trình làm việc với cơ quan điều tra, Nam tự nguyện dẫn cơ quan điều tra về phòng trọ tại số G ngách E đường M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội giao nộp 3,012 gam ma túy Cần sa với mục đích để bán kiếm lời. Tổng khối lượng ma túy Cần sa cơ quan điều tra đã thu giữ của Tống Duy N là 4,706 gam. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.
[2] Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án tiền sự, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bố, mẹ đẻ bị cáo được tăng nhiều huân huy chương. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[3] Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội mà vẫn thực hiện do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của bị cáo.
[4] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được thể hiện ở mục đích phạm tội, khối lượng, loại ma túy mà bị cáo mua bán, căn cứ vào nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của bị cáo thì phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy sau giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Tống Duy N, cán bộ Công an phường và Giám định viên;
- - Bị cáo sử dụng điện thoại làm công cụ phương tiện phạm tội do đó cần tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone Xsmax màu đen, đã qua sử dụng, lắp sim số thuê bao 0399798605; 01 (một) chiếc điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu xanh, lắp sim số thuê bao 0589506761; Số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng).
5
[6] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với vụ án: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Tống Duy N từ 24 đến 30 tháng tù, là đánh giá đúng tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo gây ra cần xử mức án như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Điểm a Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 và các Điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên bố bị cáo Tống Duy N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".
- Xử phạt bị cáo Tống Duy N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2024.
Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 (Hai) phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy sau giám định bên ngoài có chữ ký giáp lai của Tống Duy N, của giám định viên, cán bộ công an phường.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone Xsmax màu đen, đã qua sử dụng, lắp sim số thuê bao 0399798605; 01 (một) chiếc điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu xanh, lắp sim số thuê bao 0589506761; Số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng).
6
Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm theo Biên bản giao vật chứng số 73/25 ngày 03/12/2024.
Về án phí: Bị cáo N phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của họ trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lý Kế Hiền |
7
8
Bản án số 320/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 320/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Tống Duy N phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
