TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 320/2024/HS-ST Ngày: 22 – 11 – 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Văn Công;
- Bà Lê Thị Kim Ngân.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 386/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 404/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị L, sinh năm 1992 tại tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: E khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị N (đã chết); bị cáo có chồng tên Nguyễn Quý X và 03 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/4/2024 đến nay, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Phan Thị Kim C, 1979; nơi cư trú: 278/17/50 L, phường P, thành phố T, Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 03/04/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên L điều khiển xe mô tô AirBlade màu đỏ đen, biển số 51Y3-9758 đến cơ sở trọ bên cạnh bãi C trên đường A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương gặp Lý Văn C1 mua ma túy với số tiền 300.000 đồng và đem cất ma túy vào bên trong túi áo khoác bên trái L đang mặc rồi điều khiển xe đi tìm chỗ để sử dụng. Khi đi đến trước quầy thuốc T, đường X, khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì gặp Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố T và Công an phường A đang đi tuần tra yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, L khai nhận có sử dụng ma túy và tự lấy từ bên trong túi áo khoác bên trái L đang mặc giao nộp cho lực lượng công an 01 gói nylon hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng, L khai nhận tinh thể màu trắng là ma túy nên lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản niêm phong tang vật và đưa L về trụ sở làm việc.
Kết luận giám định số 1796/KL- KTHS(MT) ngày 11/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng, gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng/trọng lượng: 0,2190 gam.
Cáo trạng số: 343/CT-VKS-TA ngày 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L từ 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.
- - Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- + Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định chứa trong một bì thư đã niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B ký hiệu số 1796/PC09.
- + Giao cho Cơ quan điều tra: 01 (một) xe mô tô kiểu dáng AirBlade, màu đỏ đen, biển số 51Y3-9758 để tiếp tục xác minh, xử lý.
Bị cáo Nguyễn Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, tại nội dung đơn xin vắng mặt bị cáo trình bày thống nhất với nội dung của Bản kết luận điều tra và Cáo trạng, thống nhất với tội danh và khung hình phạt bị truy tố và không có ý kiến gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[1.2] Xét thấy, việc bị cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt là tự nguyện, không bị ai ép buộc, yêu cầu của bị cáo phù hợp với quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật tố tụng Hình sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Bị cáo thống nhất toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
[2.1] Ngày 03/4/2024, tại trước quầy thuốc T, đường X, khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Thị L đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,2190 gam, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ. Hành vi của Nguyễn Thị L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[2.2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự, trị an tại địa phương và thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng của con người đồng thời là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, tạo gánh nặng cho xã hội. Hiện nay, tình hình tội phạm về ma túy có xu hướng gia tăng, thủ đoạn hoạt động ngày càng tinh vi, manh động, do vậy cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng cho bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- - Đối với bì thư đã niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B ký hiệu số 1796/PC09 chứa số lượng ma túy còn lại sau giám định nên tịch thu tiêu huỷ.
- - Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng AirBlade, màu đỏ đen, biển số 51Y3-9758. Quá trình điều tra xác định: xe mô tô trên là của bị cáo Nguyễn Thị L mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) vào khoảng tháng 4 năm 2023 làm phương tiện đi lại với giá 3.800.000 đồng tại khu vực đường ray xe lửa, thành phố D, Bình Dương, xe không có giấy tờ, có làm giấy tờ mua bán nhưng đã làm thất lạc. Qua tra cứu biển số 51Y3-9758 được cấp cho xe nhãn hiệu Attila màu trắng, số khung: VMETCJ113ME401048, số máy: VMEM9B401048 do ông Nguyễn Văn Đ1 đứng tên sở hữu, cơ quan điều tra đã đã tiến hành ủy thác xác minh nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Kết luận giám định xe mô tô kiểu dáng AirBlade, màu đỏ đen có số khung: RLHJF18078Y822272, số máy: JF18E-5431558 không đổi, không phát hiện dấu vết cắt hàn, đực sửa. Qua tra cứu số khung, số máy trên là của xe mô tô có biển số 61X1-5520 do bà Phan Thị Kim C đứng tên sở hữu. Qua xác minh, bà C cho biết đã bán xe mô tô trên vào năm 2022 cho một người đàn ông không rõ lai lịch, không có làm thủ tục sang tên và có làm giấy tờ mua bán nhưng đã thất lạc. Do đó cần giao cho Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý.
[7] Đối với hành vi của Lý Văn C1 là người đã bán ma túy cho Nguyễn Thị L, ngày 11/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với C1 và điều tra trong vụ án khác.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- - Điều 106, Điều 136, điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về trách nhiệm hình sự:
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định chứa trong một bì thư đã niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B ký hiệu số 1796/PC09.
- - Giao cho Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an thành phố T: 01 xe mô tô kiểu dáng AirBlade, màu đỏ đen, biển số 51Y3-9758; số khung: RLHJF18078Y822272, số máy: JF18E-543155 để tiếp tục xác minh, xử lý.
- (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/11/2024).
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai./.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Quang Ngọc Nhân |
Bản án số 320/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 320/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ma túy
