|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 320/2024/HNGĐ-ST Ngày 22-11-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Thuý
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Mạnh Hùng
Bà Nguyễn Thị Hồng Thuý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 294/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 302/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị N, nơi cư trú: Xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Lê Văn H, nơi đăng ký thường trú: Xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: 10/146 F, Auckland CBD, New Zealand, 1010; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Vũ Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị N và anh Lê Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 07 tháng 01 năm 2010. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 11/2023 anh Lê Văn H đi xuất khẩu lao động sang New Zealand làm ăn sinh sống. Cũng trong thời gian này vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống không có tiếng nói chung, anh Lê Văn H sống ở nước ngoài lên việc quan tâm cho nhau hạn chế dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau nữa. Đến nay, chị Vũ Thị N xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, khả năng đoàn tụ là không thể nên đề nghị Toà án giải quyết ly hôn cho anh chị để hai bên sớm ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị Vũ Thị N và anh Lê Văn H có 02 con chung là: Cháu Lê Gia M; sinh ngày 17 tháng 12 năm 2010 và cháu Lê Bảo N1, sinh ngày 01 tháng 5 năm 2014, hiện đang ở với chị Vũ Thị N. Chị đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho chị Vũ Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Vũ Thị N và anh Lê Văn H tự thoả thuận với nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Vũ Thị N và anh Lê Văn H tự thoả thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tại Đơn ly hôn của anh Lê Văn H (đã được hợp pháp hoá lãnh sự tại Đ tại New Zealand) trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn H thống nhất với lời trình bày của chị Vũ Thị N về thời điểm kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 07/01/2010 và tình trạng mâu thuẫn, quan hệ hôn nhân hiện nay giữa hai bên. Đến nay, anh Lê Văn H xác định đã không còn tình cảm, hai bên không quan tâm lẫn nhau. Chị Vũ Thị N làm đơn xin ly hôn với anh Lê Văn H, anh đồng ý và đề nghị Toà án giải quyết cho anh và chị Vũ Thị N được ly hôn.
Về con chung: Chị Vũ Thị N và anh Lê Văn H có 02 con chung là cháu Lê Gia M; sinh ngày 17 tháng 12 năm 2010 và cháu Lê Bảo N1, sinh ngày 01 tháng 5 năm 2014. Sau khi ly hôn do anh Lê Văn H ở nước ngoài không có điều kiện chăm sóc các con nên anh đồng ý giao cả hai con chung cho chị Vũ Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Vũ Thị N và anh Lê Văn H tự thoả thuận với nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh Lê Văn H và chị Vũ Thị N tự thoả thuận nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Chị Vũ Thị N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về con chung khi ly hôn. Nguyên đơn là chị Vũ Thị N đang cư trú tại Hải Phòng, bị đơn là anh Lê Văn H đang sinh sống và làm việc tại New Zealand. Do vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Chị Vũ Thị N và anh Lê Văn H vắng mặt nhưng cùng có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt chị Vũ Thị N và anh Lê Văn H theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bên đương sự thống nhất thể hiện: Chị Vũ Thị N và anh Lê Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 07 tháng 01 năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Nhận thấy: Quá trình chung sống, vợ chồng có thời gian đầu hạnh phúc, đến tháng 11/2023 anh Lê Văn H đi xuất khẩu lao động sang New Zealand làm ăn sinh sống. Do khoảng cách địa lý dẫn tới tình cảm dần phai nhạt, hai bên không có sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Anh chị đã sống ly thân, không còn quan hệ về tình cảm và kinh tế, cả hai anh chị đều xác định tình cảm vợ chồng không còn. Chị Vũ Thị N yêu cầu xin ly hôn với anh Lê Văn H; anh Lê Văn H đồng ý và đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng anh chị được ly hôn với nhau. Như vậy, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn. đời sống chung không thể kéo dài nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị N đối với anh Lê Văn H.
[4] Về con chung: Chị Vũ Thị N và anh Lê Văn H có 02 con chung là: Cháu Lê Gia M; sinh ngày 17/12/2010 và cháu Lê Bảo N1; sinh ngày 01/5/2014. Xét thấy: Hiện các con chung đang ở với chị Vũ Thị N và đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Sau khi ly hôn do anh Lê Văn H ở nước ngoài không có điều kiện chăm sóc các con nên anh chị thống nhất thỏa thuận với nhau, giao cả hai con chung cho chị Vũ Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Do đó, cần giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung sau khi ly hôn cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Hai bên tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
[5] Về tài sản chung: Chị Vũ Thị N và anh Lê Văn H tự thoả thuận, nên không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Vũ Thị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị N và anh Lê Văn H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị N.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vũ Thị N được ly hôn anh Lê Văn H.
- Về con chung: Giao 02 con chung là Lê Gia M, sinh ngày 17 tháng 12 năm 2010 và Lê Bảo N1, sinh ngày 01 tháng 5 năm 2014 cho chị Vũ Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Hai bên tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị Vũ Thị N và anh Lê Văn H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Vũ Thị N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000817 ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Vũ Thị N đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Chị Vũ Thị N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.
Anh Lê Văn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Vân Thuý |
Bản án số 320/2024/HNGĐ-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 320/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị N - Lê Văn H ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
